Người
Châu Đốc – An Giang làm ăn ở Nam Vang
xưa và nay
Nguyễn Hữu Hiệp
- KIẾP LÀM THUÊ THỜI THUỘC PHÁP
Nam Vang đi dễ khó về,
Trai vô bạn biển
gái về tào kê
Bối cảnh xă hội
thời thuộc Pháp: Sau
năm 1867 tức lúc người Pháp đă đặt ách
thống trị lên toàn cơi Đông Dương, cả 3
nước Việt – Miên – Lào trở thành thuộc
địa của họ.
Do “đất liền
đất, núi liền núi, sông liền sông”, nhất là
nhờ có hai nhánh Tiền Giang và Hậu Giang của ḍng
Cửu Long sông sâu nước chảy, nên giao thông
đường thuỷ từ lục tỉnh đến
xứ Chùa Tháp rất thuận lợi. Để khai thác
triệt để tài nguyên thuộc địa, chính
quyền thực dân cho thành lập công ty tàu thuỷ, mở
nhiều tuyến đường sông từ Sài G̣n và các
tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, vận
chuyển hành khách, thổ sản, hàng hoá các loại
đến Nam Vang, và ngược lại. Dân gian gọi “tàu
Nam Vang”. Người từ Châu Đốc, An Giang có dịp
cần mua sắm, đi Nam Vang bằng loại tàu này nhanh
và tiện hơn đi Sài G̣n. Đi Nam Vang tức đi
đến thủ đô nước Cao Miên (nay gọi
Campuchia). Đúng nhất là vậy, nhưng thuở
trước đồng bào miền Nam hiểu Nam Vang với
nghĩa mở rộng cả nước ấy, hoặc
chí ít cũng toàn vùng bao gồm các tỉnh quanh khu vực Nam
Vang.
Sách Dậu Dương
tạp trở của người Trung Hoa có “tổng
kết” một số nước trong vùng: “Lễ
nghĩa không đâu bằng Triều Tiên; béo tốt không
đâu bằng Giao Chỉ; giàu có không đâu bằng Chân
Lạp; nghèo cực không đâu bằng Lưu Cầu”.
Chân Lạp là Cao Miên, nơi “giàu có”, cho nên đương
nhiên những người nghèo khổ có óc mạo hiểm
ở miền Nam lục tỉnh thời ấy không thể
không t́m đến làm ăn sinh sống, nhất là tài nguyên
nông nghiệp và nguồn lợi thuỷ sản ở đó
rất hấp dẫn:
Ruộng đồng mặc
sức chim bay,
Biển
Hồ lai láng mặc bầy cá đua.
Trên bờ, đất
rộng thênh thang, mầu mỡ, gạo lúa, cây trái nổi
tiếng thơm ngon; dưới sông, nhung nhúc cá tôm không sao
ăn hết. Thị trường nhộn nhịp quanh
năm suốt tháng mà cá tôm vẫn cứ tràn bến, không
vơi. Người ta phải làm khô, làm mắm chứa
vựa lại để tiêu thụ dần. Nhu cầu
cần thêm “bạn biển” (những người làm
mướn nghề cá ở Biển Hồ, kể cả
chèo ghe đi bán cá) ngày càng lớn, thu hút dân nghèo ở
lục tỉnh ngày càng nhiều. Họ vẫn biết
rất cực, nhưng dù sao cũng có được công
ăn việc làm, giải quyết phần nào khó khăn
kinh tế gia đ́nh trước sự hà khắc, bóc
lột người nghèo của chính quyền thuộc
địa lúc ấy. Thế là như bao nhiêu người
khác đồng cảnh ngộ, chàng trai nọ tạm
biệt người yêu, xuống xuồng:
Dựng buồm chạy
thẳng Nam Vang,
Làm
thơ nhắn lại, em khoan lấy chồng.
Lại “tái bút” nghe “đứt
ruột” :
Em ơi ở lại
đừng phiền,
Anh
đi làm mướn kiếm tiền cưới em.
Và không quên thệ nguyện:
Chừng nào ngọc nát vàng
phai,
Biển
Hồ lấp cạn mới sai lời thề.
Tất nhiên nàng chẳng
đành ḷng, tha thiết khuyên can:
Biển Hồ cực lắm
anh ơi,
Ban
đêm xẻ cá ban ngày phơi khô.
Nhưng v́ cuộc sống và
tương lai hạnh phúc gia đ́nh, chàng nhứt quyết
ra đi. Nàng biết không ngăn được, nên bịn
rịn tỏ lời chung thuỷ với người yêu:
Sông dài cá lội biệt
tăm,
Phải
duyên phu phụ ngàn năm cũng chờ.
Nói th́ nói vậy chớ làm sao
nàng chịu nỗi cái cảnh biệt ly, người
đi kẻ ở:
Ngày ngày em đứng em trông,
Trông
non non ngất, trông sông sông dài.
Trông
mây mây kéo ngang trời,
Trông
trăng trăng khuyết, trông người người xa.
Hết “trông đứng”
lại “trông ngồi”:
Trăng thanh chờ
đợi, trăng lu,
Trông
anh như thể vọng phu trông chồng.
Em
ngồi buồn trông Bắc ngó Đông,
Ngó
thấy thiên hạ sao không thấy chàng?!
Rồi “trông nằm” – ôi, cái
cảnh “pḥng không mông quạnh”:
Đêm nằm ôm gối
thở than,
Gối
ơi gối hỡi bạn lang xa rồi.
Nàng không thể không thổn thức
lúc canh thâu:
Chàng đi Châu Đốc – Nam
Vang,
Nỗi
sầu em chịu đa mang một ḿnh.
Ngày lại ngày qua, (chàng
từ Châu Đốc đi Nam Vang) nàng cứ ṃn mỏi
đợi trông măi vẫn không hề nghe biết tin tức
ǵ của người yêu:
Nước ṛng chảy
thấy Nam Vang,
Mù
u chín rụng bóng chàng biệt tăm.
Chàng ơi !
Ra đi sao chẳng thấy
về,
Hay
là quần tía dựa kề áo nâu ?
Nhớ buổi tạm
biệt anh c̣n cầm tay nói vói:
Dẫu anh có lạc Sở qua
Tề,
Ngàn
năm đi nữa anh cũng trở về với em.
Vậy mà sao chàng vẫn
biền biệt bóng chim tăm cá!
Xa th́ xa núi xa sông,
Xa
vợ xa chồng nhân nghĩa đừng xa.
Sự trống vắng
như ngày càng trống vắng hơn! Nhớ điếng
người thương, và mặc dù dư biết chàng
vẫn thuỷ chung với ḿnh, nhưng chẳng hiểu v́
sao lại nảy sinh vu vơ ghen hờn, giận dỗi:
Trách ai tham đó bỏ
đăng,
Thấy
lê quên lựu thấy trăng quên đèn.
C̣n nhớ:
Anh đi em có dặn rằng,
Đâu
hơn anh lấy, đâu bằng chờ em.
Cứ khắc khoải
đợi chờ măi, có khi “máu Hoạn Thư” dâng tràn
tận cổ, nàng nh́n về Nam Vang mà đùng đùng
nổi giận một ḿnh:
Giương cung thẳng
chỉ,
Em
nhắm ngay con đĩ ngoại t́nh,
Bắn
cho nó chết hai đứa ḿnh mới yên.
Chuyện đời, trách
phiền là quyền của người mong đợi; ghen
tương bóng gió là chuyện thường có của con
gái, đàn bà. Chung nhất là vậy. Nhưng trong
trường hợp này, làm sao nàng h́nh dung nỗi cảnh t́nh
cơ cực của chàng từ khi nhầm chân vô nghề
“bạn biển”:
Bây giờ cá đă cắn câu,
Mặc
t́nh ngư phủ cắt đầu lột da!
Đă chấp nhận đem
thân đi làm thuê làm mướn, th́ cho dù “ban đêm xẻ
cá ban ngày phơi khô”, cực khổ thế mấy chàng
cũng cam ḷng, miễn sao dành dụm được ít
tiền để về lại quê hương xây dựng
mái ấm gia đ́nh. Những tưởng người
lương thiện an phận kiếp tôi đ̣i không ai
nỡ hiếp đáp, bóc lột, nào ngờ cứ đem
thân chèo ghe, kéo lưới măi, hết ngày này qua tháng khác mà
chẳng thấy ai trả cho một đồng ten nào.
Chừng hỏi ra mới biết là ḿnh đă bị
bọn bất lương dẫn bán cho mấy tay hùm xám
“chủ thuỷ lợi” – thường là bọn
đầu gấu có thế lực mạnh, nhờ câu
kết với quan tham. Bọn trùm này chỉ biết ṣng
phẳng với giới ma cô dẫn mối bằng một
số tiền nhỏ, rồi ngọt ngào gọi “món hàng”
mới chuộc về là “bạn biển” cho có vẻ thân
mật, nhân đạo, không khác ǵ gái nhà lành bị
đẩy vô lầu xanh, ngày ngày Tú Bà cứ “mẹ mẹ
con con” như phụ mẫu ruột thịt, nhưng
đằng sau sự ngọt ngào ấy, chính họ là
những con quỷ cái chuyên hút máu người!
C̣n nhớ, lúc mới
đến “Nam Vang” chân ướt chân ráo, trong khi chưa
biết nương tựa vào đâu th́, bỗng nhiên có
người ra vẻ lịch thiệp, sốt sắng săn
đón giới thiệu, nên chỉ trong một buổi chàng
đă có ngay được chỗ làm. Thật vui mừng
khôn xiết, ngày ngày chàng cứ thầm ghi tạc ơn sâu
quới nhơn tốt bụng. Măi sau một thời gian
mới vỡ lẽ ra, đó chính là “ma đưa lối,
quỷ dẫn đường”! Chúng toa rập nhau xô
đẩy chàng vào ngơ cụt, vô phương trốn thoát:
Hoạ hổ hoạ b́ nan
hoạ cốt,
Tri
nhơn tri diện bất tri tâm.
Ở
xa không biết nên lầm,
Bây
giờ rơ lại vàng cầm cũng buông.
Đêm ấy trăng sáng
vằng vặc Biển Hồ, như mọi khi, chàng
vẫn thu ḿnh nằm chèo queo trên bồng lái ghe cá trảng
lườn canh chờ con nước để bủa
lưới, tuy mệt mỏi rả rời vẫn không
thể t́m đâu ra một giấc ngủ ngắn an lành cho
lợi sức. Mỗi tối, hễ có dịp rănh rang
đôi chút, giữa không gian yên ắng như vậy là chàng
mơ màng nghĩ đến chuyện sổ lồng.
Nhưng trời xanh th́ cứ thản nhiên trên cao xa tít, làm
sao hiểu thấu cảnh t́nh của những kiếp
đời bơ vơ dưới thế? Bất chợt
chàng nhớ đến người yêu ở quê nhà,
chẳng biết hiện nàng đang làm ǵ, nghĩ ǵ, bèn
“tức cảnh sanh t́nh” ngâm lên nho nhỏ:
Ngó lên Nam Vang thấy cây
nằm nước,
Ngó
về Sông Trước thấy sóng bủa lao xao,
Anh
thương em ruột thắt gan bào,
Biết
em có thương lại chút nào hay không!
Ở quê nhà, nàng thương
nhớ chàng bấn lên như điên loạn, ghen
tương vớ vẩn đủ điều. Nhưng
đó là thực tế hiển nhiên trong trái tim rực
lửa t́nh yêu của tuổi trẻ mà thôi, chứ nàng có
ngờ đâu thân phận chàng đang gian nan dường
ấy?! Tâm trạng của chàng luôn là nỗi oán hận ai
kia đă nhẫn tâm lường gạt, khiến phải
nhắm mắt đưa chân làm thân nô lệ nơi xứ
lạ quê người. Bất chợt, hằng loạt h́nh
ảnh và kỷ niệm thân thương quê hương
xứ sở bỗng hiển hiện trước mắt
ḿnh, gợi lên xiết bao nỗi nhớ… Nhớ cả câu
nói tán tụng đầy tự hào của bà con nơi quê
mẹ:
“Đèn nào cao bằng đèn
Châu Đốc”,
rồi ngẫu hứng kết thành vần thành điệu
khá ăn ư:
Đèn
nào cao bằng đèn Châu Đốc,
Đất
nào dốc bằng đất Nam Vang…
Phải! Bọn
người quỷ quyệt kia vô h́nh trung buộc chàng
hiểu Nam Vang đă đánh mất bản chất dễ
mến ngày nào. Kiểu làm ăn của bọn bất
lương thật đáng ghét. Mượn thực tế
địa h́nh của một vùng đất Nam Vang nhấp
nhô đồi dốc để ám chỉ hạng
xảo ngôn kia tưởng không c̣n ǵ chính xác bằng,
thậm chí độc đáo, bởi nó được
đem dùng đúng ngay trong cảnh t́nh đương bi
phẫn: “Đất nào dốc (dóc) bằng đất
Nam Vang”! Đúng vậy, đất Nam Vang thời
thuộc Pháp từng là nơi tụ cư của bọn
giang hồ phiêu bạt: trai làm điếm, gái làm tiền,
du côn làm cướp… – không chỉ dân bản xứ, mà
cả người Việt, người Tây, người
Tàu, Chà Và, Ma Ní… đủ cả. Dân nghèo trôi giạt, cho dù
thân sơ thất sở, hay được làm thuê làm
mướn cho các đại gia, với bản chất
thật thà, hèn mọn, làm sao chống đỡ nỗi
trước ngh́n trùng mưu mô vây ví? Hăy hiểu cho tâm
trạng của chàng lúc ấy – không thể không căm
hờn như thế được!
“Đất dốc” tất
nhiên rất trắc trở cho việc đi lại.
Nhất là khi người ta đă có ư đồ câu nhữ
đặng “đi dễ”, th́ đến lúc đă sa chân vào
cạm bẫy, chuyện “khó về” là lẽ
đương nhiên!
Với đàn ông con trai, tiêu biểu
là trường hợp “vô bạn biển” như chàng,
thật đáng thương tâm:
Bây giờ cá đă cắn câu
Mặc cho ngư phủ cắt
đầu lột da!
C̣n đàn bà con gái th́ sao?
Cũng nhục nhă không kém: Phải “về tàu kê”, nghĩa là
phải chấp nhận thực tế, “bán trôn nuôi
miệng”!
V́ sao gọi tàu kê? Để
“đánh bóng món hàng” đồng thời cũng nhằm che
đậy tội ác tày trời của ḿnh, bọn chuyên
sống bằng nghề kinh doanh thân xác phụ nữ, một
mặt thường sử dụng tiếng lóng trong sinh
hoạt, một mặt lạm dụng những mỹ
từ mang tính đại ngôn, thậm chí trịch
thượng. Như chúng ta đều biết, giới này
từ xưa đă ngang nhiên chiếm đoạt, xâm
phạm và làm ảnh hưởng, thậm chí gây tai
tiếng oan ức biết bao trường hợp vốn
rất mẫu mực, đàng hoàng. Từ trang điểm,
đến trang phục cá nhân, họ đều cố nhái
gái nhà lành. Rồi th́ “nhà chứa”, vốn vô cùng nhơ nhớp,
vậy mà họ cũng chiếm đoạt luôn hai
tiếng “lầu xanh” tốt đẹp tự ngàn xưa
để làm “của riêng” cho ḿnh. Nhân tiện, tưởng
cũng nên phớt nhắc điển cố này. Xa xưa,
“lầu xanh” là nhà ở của hạng người giàu sang
phú quư, hoặc cung điện của nhà vua. Đời
Tề, vua Vơ Đế cho xây dựng lầu cao, phía trên
sơn xanh, nên chỗ vua ở bấy giờ cũng
gọi thanh lâu (lầu xanh). Nhưng từ khi Lương
Lưu Diếu làm câu thi: “Thương nữ bất
năng sầu, kết thúc hạ thanh lâu” (Thương
sầu mênh mông, thanh lâu nàng bước xuống) th́ các
chủ chứa tiếm dụng thành sở hữu riêng
để nói về nhà điếm của ḿnh. Sách Dạ
Hoạch biên ghi, trong nhà, họ thờ Bạch My
thần (thần mày trắng) tượng giống như
ông Quan Vân Trường, cũng râu dài, cưỡi ngựa,
tay cầm siêu đao… chỉ khác là mắt đỏ và lông
mày trắng. Ngày xưa ở kinh sư của Tàu, khi gây
gổ, người ta thường mắng nhiếc nhau
bằng câu “bạch mi xích nhăn”. Có người lại cho
rằng thần Mày Trắng ấy là Quản Trọng
(người đời Xuân Thu, giúp Tề Hoàn Công làm nên
nghiệp bá), người đầu tiên nghĩ ra cách
tập hợp một nhóm đàn bà con gái mua vui cho khách
đàn ông để thương gia các nơi t́m
đến, nhờ thế mà xứ sở trở nên
phồn thịnh!
Thời Pháp, đă
hiện đại hoá một thuật ngữ vốn đă
quá cổ xưa, nghe ra có phần mơ hồ và không
mấy bảnh, “giới giang hồ” nhân thấy các nhà buôn
lớn Triều Châu, Phước Kiến xưng “Tàu
khậu” (hay “thổ khố” hoặc “đại khố”,
là nhà trữ hàng hoá), rồi “tùa kê” với nghĩa
“đại gia”, phổ dụng rộng ở tầng
lớp giàu sang, nhiều tiền lắm của…, các mụ
chủ chứa bèn tự xem ḿnh là “mẹ tàu kê”.
Tất nhiên các “gái sang của
mẹ” (“sang như đĩ”) cũng xưng “gái tàu kê” (nói
trại từ “tùa kê”) để treo giá, làm tiền khách làng
chơi. Dân gian miền lục tỉnh bèn nhân đó diễn
dịch ra: tàu là chuồng; kê là gà, để
chế giễu gái ăn sương là… “gà chết”, ai
lỡ “cọ xát” với loại gà bị cách ly này tất
phải bịnh “mồng gà”, ắt chết.
Thành ra, nói “gái về tàu kê” là
nói đàn bà con gái hạng ấy – hầu hết có thể
do hoàn cảnh đưa đẩy, bị gạt bán…
nhưng cũng không loại trừ trường hợp
tham tiền, hám lợi mù quáng tự dấn thân vào. Câu hát
cũ tế nhị cười những phụ nữ
lấy cớ đi Nam Vang (Biển Hồ) làm ăn
để “rong ruỗi”:
Con ơi con ở với bà,
Má
đi mần mắm tháng ba má về.
Má
về có mắm con ăn,
Có
khô con nướng có em con bồng.
Tất nhiên đó chỉ là
một cách nhắc nhở đối với những
trường hợp “làm lẻ” hoặc “nhảy dù”, chưa
vô “hộ khẩu nhà số”. Tuy cũng “khó về” nhưng
nếu quyết tâm, thức tỉnh, cũng có thể
về được:
Nam Vang đi dễ khó về,
Xứ
anh anh ở em về xứ em.
Chung nhất, ǵ th́ ǵ, chứ
măi léng phéng ở Nam Vang th́ “trai đi có vợ, gái về
có con” là cái chắc!
Không thể dửng dưng
chứng kiến thực tế quá đỗi xót xa như
vậy, nên ông bà ta ngày ấy đă không ngớt lời
khuyên răn, cảnh tỉnh và giáo dục con cháu ḿnh
phải cố gắng giữ ǵn nhân cách, phẩm hạnh: “Giấy
rách phải giữ lấy lề”, “Nghèo cho sạch, rách cho
thơm”, không làm bất cứ
điều ǵ có thể gây tổn hại đến
phẩm giá, đạo đức gia đ́nh, v́ như
thế là “điếm nhục tông môn”. Sự nhắc
nhở cho nhau trong việc ư thức giữ ǵn bản
sắc văn hóa dân tộc đă gây được tác
động mạnh trong nếp nghĩ những
người lầm lạc. Tệ trạng xă hội
giảm hẳn. Nhiều tấm gương đẹp
về t́nh yêu đôi lứa xuất hiện, rất đáng
tuyên dương, ca ngợi. Ở đó, phổ biến
nhất là ư chí khắc phục mọi khó khăn nghiệt
ngă, vượt qua những cạm bẫy cuộc
đời để bảo vệ bằng được
tính thuỷ chung của đạo vợ chồng, xem
đó như một trong những thứ t́nh yêu thiêng liêng
tối thượng cao cả của con người.
Thật vậy, nếu nàng luôn chung thuỷ thiết tha:
Gươm vàng để
đó anh ơi,
Chết
th́ chịu chết ĺa đôi không ĺa.
Th́ chàng cũng thuỷ chung
tha thiết không kém:
Dao phai kề cổ, máu
đổ anh không màng,
Chết
anh anh chịu chớ buông nàng anh hổng buông.
Dù “sơn xuyên cách trở”,
họ vẫn nhứt quyết giữ vẹn lời
nguyền “Chín trăng cũng đợi, mười thu cũng
chờ” – tiêu biểu như chuyện t́nh của chàng và
nàng đề cập ở trên. Chính v́ thế mà văn
học dân gian đă hồ hỡi “dựng tượng”
biểu dương nếp sống mới cho cả
“một vùng gia đ́nh văn hóa” tỏ rơ như ánh hải
đăng, ngay bên con sông Sở Thượng sát nách
“đất Nam Vang” bằng lời ngợi ca bất hũ:
“Đèn nào cao bằng đèn Sở
Thượng,
Nghĩa
nào trượng bằng nghĩa phu thê.
Cao, thượng,
trượng, thê đều
là cao cả! Dụng ngữ thật tuyệt vời!
Đồng bào miền Nam
lục tỉnh rất tâm đắc và tự hào,
thường mượn câu ca dao này để làm thể
tỉ, hứng hoặc phú mỗi khi muốn ca ngợi t́nh
yêu thuỷ chung son sắt, bởi sự ra đời
của câu ca dao “cao, thượng, trượng, thê”
chính là “cú rờ ve” hiểm hóc, đập vỡ một
thảm trạng xă hội vô cùng tồi tệ mà những
người nặng t́nh với tiền đồ dân
tộc lúc ấy tưởng chừng không sao giải
quyết được.
Thế nên, chuyện: “Nam
Vang đi dễ khó về, Trai vô bạn biển gái về
tàu kê” mà ngày nay thỉnh thoảng chúng ta c̣n nghe thấy
rơi rớt đâu đó, chỉ là một cách nhắc
nhớ dấu ấn tủi nhục, nhưng may mắn là
chỉ mang tính giai đoạn của một thời – cái
thời mà thực dân Pháp đă gác ách đô hộ lên toàn cơi
Đông Dương, nhân phẩm người dân bản
xứ ở nhiều nơi không khác ǵ con vật!
- CÔNG
CUỘC LÀM ĂN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM VỚI
CAMPUCHIA
HIỆN
NAY ĐĂ HOÀN TOÀN KHÁC XƯA: HẤP DẪN VÀ HIỆU QUẢ!
Sau ngày miền Nam hoàn toàn
giải phóng, đất nước hoàn toàn độc
lập, tự chủ; cuộc sống người dân
đă thực sự đổi đời. Từ thành
quả công cuộc đổi mới (xóa bỏ quan liêu bao
cấp, chuyển sang kinh tế thị trường theo
định hướng xă hội chủ nghĩa), nền
kinh tế Việt Nam đă từng bước phát
triển và phát triển một cách bền vững,
đủ điều kiện để hội nhập và
theo kịp đà tiến chung khu vực, đất
nước đang vững vàng bước vào thời
kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá, cuộc
sống người dân ngày càng ổn định. Về sản
xuất, không chỉ nhanh chóng khắc phục
được t́nh trạng thiếu đói, mà c̣n
đảm bảo an ninh lương thực, và xuất
khẩu nhiều mặt hàng có giá trị kinh tế cao. Riêng
quan hệ ngoại thương với Campuchia, theo ông Chheng
Saroeun, đại diện Bộ Thương mại
Campuchia, hiện hàng Việt Nam chiếm 35% – 40% thị trường nước
này. Và hiện nay ở Campuchia, Việt Nam đă có gần
100 mặt hàng, chiếm đến 80% thị phần!
Đặc biệt, hàng nhựa gần như không có
đối thủ! Báo Sài G̣n tiếp thị cho
biết, một số mặt hàng Việt Nam c̣n
được xuất từ Campuchia sang Thái Lan.
Theo Bộ Thương
mại Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu hàng Việt
Nam vào Campuchia tăng đều hàng năm:
Năm 1998 là 75 triệu USD.
Năm
1999 là 91 triệu USD.
Năm
2000 là 133 triệu USD.
Năm
2001 là 180 triệu USD.
Năm
2002 là hơn 200 triệu USD…
Hàng xuất qua
đường biên giới tiểu ngạch khoảng hàng
chục triệu USD/ năm.
Bộ Thương mại
Việt Nam cũng đă đưa ra nhận định
về chiều hướng phát triển thương
mại Việt Nam – Campuchia giai đoạn 2001 – 2010: Nên
cố gắng tạo mọi điều kiện buôn bán
đường biên và tiểu ngạch là chính, trên cơ
sở đó từng bước đẩy mạnh buôn bán
chính ngạch và phát triển tốt hơn nữa lợi
thế này.
Trong buổi tiếp Chủ
tịch Quốc hội Nguyễn Văn An nhân chuyến
thăm Campuchia vào cuối tháng 12/2002, Thủ tướng
Campuchia Hun Sen nói: “Hai nước nên khuyến khích các địa
phương có chung biên giới hợp tác kinh tế,
thương mại, đầu tư”.
Phát biểu tại Hội
thảo “Xúc tiến thị trường Campuchia 2003” vị
đại diện UBND tỉnh An Giang cho biết: “Với
những điều kiện thuận lợi của
ḿnh (về vị trí
địa lư, mối quan hệ), An Giang đă phối
hợp với Tp. Hồ Chí Minh, Bộ Thương mại
cùng các tỉnh Tàkeo, Kandal và thủ đô Phnôm Pênh hỗ
trợ tích cực cho các doanh nghiệp Việt Nam xúc
tiến thị trường Campuchia thông qua việc tổ
chức Hội chợ hàng Việt Nam chất lượng
cao và xuất khẩu Việt – Cam với quy mô lớn, gây
được tiếng vang tại thủ đô Phnôm Pênh,
Campuchia vào cuối năm 2002 vừa qua. Việc hỗ
trợ xúc tiến thị trường Campuchia đă mang
lại kết quả đáng phấn khởi và đang
được các doanh nghiệp tiếp tục khai thác.
Sự hỗ trợ tích
cực của chương tŕnh xúc tiến thương
mại cùng với sự năng động của các doanh
nghiệp và điều kiện thuận lợi của An
Giang đă đem lại kết quả tốt. Kim ngạch
xuất khẩu hàng hoá sang thị trường Campuchia
năm 2002 của các doanh nghiệp (chủ yếu là các
doanh nghiệp trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh, các
tỉnh đồng bằng sông Cửu Long) qua các cửa
khẩu An Giang đạt trên 120 triệu USD và đang tăng
mạnh từ sau Tết Nguyên đán đến nay. Đây
thực sự là tín hiệu vui cho các doanh nghiệp quan tâm
xúc tiến thị trường Campuchia (…). Để
tiếp tục chương tŕnh hỗ trợ các doanh
nghiệp xúc tiến thị trường Campuchia, năm
2003 An Giang phối hợp với Tp. Hồ Chí Minh cùng chính
quyền của Campuchia tổ chức Hội chợ hàng
Việt Nam chất lượng cao và hàng xuất khẩu
tại thủ đô Phnôm Pênh. Cùng với chương tŕnh Hội
chợ sẽ tham gia với Tp. Hồ Chí Minh và đối
tác Campuchia cho ra đời một siêu thị tại
thủ đô Phnôm Pênh, tạo điểm đứng chân và
phân phối hàng Việt Nam tại Campuchia.
Đó là những công
việc cần phải thực hiện để tiếp
tục hỗ trợ cho các doanh nghiệp xúc tiến
thị trường Campuchia. Riêng tỉnh An Giang cũng
đă và đang thực hiện các công việc có liên quan
để hỗ trợ thiết thực cho các doanh
nghiệp tiếp cận thị trường Campuchia
hiệu quả”.
Tất nhiên Chính phủ hai
nước đă thoả thuận và cho xúc tiến xây
dựng, mở rộng hoặc nâng cấp các công tŕnh
cầu, đường, chợ, cửa khẩu, kho băi…
để phục vụ việc giao thông, chuyển vận
hàng thuận lợi nhất.
Rơ ràng, công cuộc làm
ăn của người Châu Đốc/ An Giang nói riêng,
Việt Nam nói chung với Campuchia hiện nay đă hoàn toàn
khác xưa: Tự do, an toàn, hấp dẫn và hiệu
quả. Thật đáng mừng!
Nguyễn
Hữu Hiệp
4/2006