Đất
Vườn Và Con Người
Miệt Vườn Bến Tre
Huy Khanh
Thiên nhiên ai cũng
biết vừa hiền ḥa vừa khắc nghiệt. Con
người vừa nhận sự ưu đăi của thiên
nhiên vừa phải t́m cách cải tạo và chế ngự
thiên nhiên để tồn tại. Mấy thế kỷ
gian khổ tạo dựng nên mảnh đất
vườn, con người phải lao động cật
lực và đổ ra biết bao nhiêu công sức. Họ
lớn lên từ đối phó, t́m ṭi, học hỏi và sáng
tạo. Hoạt động vật chất là cơ sở
sáng tạo văn hóa, nhưng hoạt động văn hóa
lại có vai tṛ thúc đẩy hoạt động vật
chất phát triển.
1.
Đất
Bến Tre là đất cù lao, cuối sông, cận biển.
Đất phù sa từ sông Cửu Long bồi đắp
mỗi năm một ít, trải qua nhiều thế kỷ,
cùng với sức lao động của con người,
cồn băi hoang vu mới trở thành vườn
tược, đất đai trù phú như ngày nay.
Toàn
bộ địa h́nh Bến Tre là ba cù lao bằng phẳng
có độ cao từ 2 đến 3 mét trên mặt
nước trung b́nh. Phần có độ cao ở về
phía Đông Nam, gần biển. Đất thấp dần
về phía Bắc - Tây Bắc, thấp nhất là triền
sông Tiền và các triền sông Cổ Chiên, Hàm Luông, Ba Lai,
Cửa Đại từ đầu nguồn đổ
xuống.
Kiến
tạo tự nhiên của địa h́nh Bến Tre thuở
xa xưa tính từ đầu nguồn trở xuống là
đất phù sa trầm thủy cặp ven sông, rừng
rậm, giồng cát, rừng ngập mặn và bờ
biển trên là băi cát dưới cửa sông là cát lẫn
với phù sa.
Ngày
xưa, từ vị trí ba cù lao của Bến Tre có thể
đến miền Tây và miền Đông Nam Bộ bằng
ghe thuyền đi sông, ra miền Trung và xuống vùng mũi
Cà Mau bằng ghe thuyền đi biển. Ngược
lại từ miền Trung vào, miền Đông xuống và
miền Tây lên người ta cũng sử dụng
những phương tiện tương tự. Từ khi
có tàu thủy, sự giao lưu càng thuận tiện và
tấp nập hơn nhiều.
Đặc
điểm địa lư nầy của Bến Tre có liên
quan trực tiếp đến nguồn gốc cư dân và
quá tŕnh khai phá những cù lao hoang vắng trở thành
đất đai xóm làng trù phú như ngày nay. Người
khai phá và cải tạo đất. Đất đai và
cuộc sống h́nh thành trên đó, quan hệ sản
xuất, quan hệ xă hội h́nh thành tính cách con
người. Mối quan hệ cụ thể giữa con
người và con người, lao động và môi
trường, môi trường và cuộc sống quyết
định các hoạt động kinh tế và sinh hoạt
văn hóa có tính phổ biến đồng thời vừa
có tính đặc thù.
Từ
thuở xa xưa phần lớn các cù lao c̣n ngập
nước. Nhiều vùng rộng lớn là đất
trầm thủy, nê địa. Rừng bụi hoang vu, sông
rạch chằng chịt, muỗi ṃng, thú dữ (cọp,
trăn, rắn, sấu, heo rừng...) từ đầu cù
lao xuống đến bờ biển nơi nào cũng có.
Những tên đất, tên sông thuở ông bà mới
đặt chân đến khai phá đất cù lao c̣n lại
cho đến nay như: Giồng
Hổ, Giồng Heo, Giồng Rọ, Rạch Mây, Rạch Cái
Gấm, Cái Trăn, Cái Sấu, Chẹt Sậy, Tắt Hang
Chuột, Ngă Ba Lạc, v.v... đă nói lên t́nh trạng
hoang dă của thuở xa xưa ấy.
2.
Theo những tài liệu
mà chúng ta được biết, cư dân người
Việt bắt đầu đến khai phá các cù lao ở
Bến Tre vào khoảng thế kỷ XVII.
Đến giữa thế kỷ XVIII th́ đă có ấp
trại, xóm làng tương đối đông đúc.
Đầu tiên, người ta chọn những nơi có
thế đất cao ráo và có nguồn nước ngọt
để cư trú và sản xuất. Đất giồng
có lợi thế là cao ráo dễ khai thác, có nguồn
nước mưa và nước ngầm (tức
nước giếng mà độ sâu chỉ đào xuống
đất khoảng 2 - 3 mét), trồng được hoa
màu ngắn ngày, khí hậu tương đối ít
độc địa hơn vùng rừng rậm, nê
địa. Giồng là nơi lớp người đi
trước có điều kiện trụ lại, tổ
chức cuộc sống và tiếp tục tiến hành khai
thác các vùng c̣n hoang vắng. Từ thế đứng trên
đất giồng, người ta tiến hành khai hoang phá
rừng mở ruộng cấy lúa, hoặc cấy lúa xen
với trồng màu và tiến xa hơn nữa cuộc chinh
phục thiên nhiên đi tới các vùng rừng rậm c̣n
đang ngập nước, cồn băi theo ven rạch,
triền sông. Mục tiêu sau cùng nầy đ̣i hỏi
nhiều thou thách, công sức và sáng kiến của
người dân khai phá và từ đó đất cù lao phát
sinh một vùng kinh tế quan trọng: đất
vườn.
Trải
qua nhiều năm tích lũy kinh nghiệm tiếp xúc
với thiên nhiên vùng đất mới, con người
đă rút ra những kết luận quan trọng:
Đất cù lao là đất phù sa. Vùng ngập nước
ven rạch, ven sông là nơi lắng đọng phù sa màu
mỡ nhứt. Đất cù lao không cao hơn mặt
nước, nhưng ḍng chảy của các con sông lớn theo
chế độ bán nhựt triều, ngày đêm hai con
nước lớn ṛng, con người có khả năng
cải tạo vùng nê địa thành đất trồng
trọt có đủ nước tưới thường
xuyên mà không sợ ngập úng.
Sáng
kiến đào mương, lấy mương đắp
liếp, mương càng sâu liếp càng cao, đă tạo ra
một cảnh trạng mới. Vùng ngập nước lùi
dần, mương và liếp mở rộng nhanh chóng
ở các ven rạch, ven sông, nghề vườn xuất
hiện. Đầu tiên vườn c̣n là kinh tế gia
đ́nh, vườn bao bọc xung quanh nhà ở, về sau
vườn phát triển lên thành vùng chuyên canh.
Nếu
như trên giồng thích hợp với các loại hoa màu long
thực, dâu tằm, bông vải, dưới ruộng là cây
lúa nước, th́ ở trên liếp vườn lại
rất thích hợp với các loại hoa quả miền
nhiệt đới. Đầu tiên người ta trồng
trên liếp vườn các loại cây ăn trái chủ
yếu là dừa, cau, chuối, sau đó di thực các
loại cây ăn trái khác về trồng thí nghiệm và
thực sự đă đạt được kết
quả khả quan. Cam, quít, chanh, bưởi, xoài, sầu
riêng, măng cụt, chôm chôm, mận, ổi, v.v... trồng
trên đất vườn hết sức tốt
tươi và đem lại cho người làm vườn
hiệu quả kinh tế và đời sống rất phong
phú.
Sự
tốt tươi, trù phú của vùng đất ngập
nước nay được nâng cao lên bằng bờ
liếp, xung quanh bao bọc bởi một hệ thống
mương vườn vừa có tác dụng tưới
tiêu tự chảy, vừa có tác dụng thường xuyên
bồi đắp phù sa cho cây trồng đă giúp cho
người trồng tỉa phát hiện giá trị lớn
lao của nghề làm vườn và kinh tế vườn,
một nghề rất mới trên đất cù lao.
Nghề
làm vườn xuất hiện và mau chóng phát triển,
đă thu hút đông đảo cư dân vào hướng khai
thác các ven rạch, ven sông, từ vàm đến ngọn.
Một bước ngoặt quan trọng xảy ra trong nông
nghiệp trên đất cù lao: sự phân công tự nhiên
giữa nghề ruộng và nghề vườn. Bước
ngoặt này đưa đến hai đặc điểm
quan trọng: Trong nông nghiệp bắt đầu có sự
phân công lao động mới và đi vào chuyên canh với
hiệu quả kinh tế lớn hơn so với t́nh
trạng chỉ có độc canh cây lúa. Kinh tế
vườn khi phát triển thành vùng chuyên canh đă đi vào
sản xuất hàng hóa.
Từ
kinh tế tự cấp tự túc chuyển sang kinh tế
hàng hóa là một bước tiến quan trọng. Kinh
tế hàng hóa gắn liền với mở rộng lưu
thông và trao đổi sản phẩm. Quan hệ giữa
người với người, giữa vùng nầy
với vùng khác ngày càng phát triển theo yêu cầu mới.
Sông nước mênh mông là thế mạnh về giao lưu
của vùng vườn thuở xa xưa đường
bộ chưa phát triển mấy. Giao lưu kinh tế
đồng thời với giao lưu văn hóa. Thông tin
trong sản xuất và đời sống phát triển tác
động mạnh mẽ đến đời sống
vật chất và tinh thần của cư dân trên
đất cù lao. Kinh tế hàng hóa giúp cho người
xưa hiểu rơ hơn vấn đề tích lũy trong
sản xuất và để tái sản xuất theo nhu
cầu mới trong cuộc sống. Giao lưu
được mở rộng là điều kiện
để con người học hỏi và trao đổi
kinh nghiệm lẫn nhau về ăn, ở, tổ chức
đời sống, hoạt động kinh tế và
hoạt động văn hóa.
3.
Nếu
như cư dân người Việt có mặt trên
đất cù lao từ thế kỷ XVII do các luồng di
dân khẩn hoang từ các tỉnh miền Trung đến,
th́ nghề vườn có
thể đă xuất hiện khoảng nửa cuối
thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX.
Khi người Pháp đến chiếm Bến Tre (1867) th́
ở đây nghề vườn đă khá phát triển,
ở tổng Minh Lư thuộc cù lao Minh, vườn đă
thành vùng chuyên canh tập trung, có người đă trồng
đến hằng mẫu vườn với nhiều cây
trái khá phong phú, mà người Pháp cho rằng “hữu ích và
kỳ lạ, như dừa lùn, cau, trầu và những
loại cây trái của xứ Cao Miên, của bán đảo Mă Lai và
của Nam Triều”(1).
Theo
Gia Định thành thông chí
của Trịnh Hoài Đức th́ trong các đời vua nhà
Nguyễn, hằng năm đến mùa trái cây, các quan
trấn vùng Gia Định đưa những loại trái
quư về kinh đô để tiến Vua. Những loại
trái quư ấy chắc hẳn lấy từ các vườn
cây trái tập trung ở ven sông Đồng Nai và sông
Tiền mới được khai phá.
Vườn
Bến Tre xuất hiện sớm ở đầu trên cù lao Minh và cù lao Bảo
(Bắc Mỏ Cày và Sóc Săi) với nhiều loại cây
trồng xen nhau. Dần dần vườn phát triển theo
ven sông Cổ Chiên, Ba Lai, Cửa Đại dài theo hai bên sông
Bến Tre (có đoạn gọi là sông Giồng Trôm), từ
vùng nước ngọt đến vùng nước lợ và
h́nh thành những vườn dừa tập trung. Dừa An Hóa (Ba Lai), dừa Ba Châu nổi tiếng v́
trồng tập trung, nhiều trái và có chất lượng
cao (dừa đặc biệt thích nghi với vùng
nước lợ, sai trái, cơm dày và hàm lượng
dầu cao hơn dừa trồng ở các vùng khác). Phát
hiện được sự thích nghi này, cư dân Bến
Tre đă chú ư rất sớm về hiệu quả của
cây dừa trong nghề làm vườn và ư thức
được phương hướng đi vào chuyên canh.
Theo
một vài tài liệu cũ, ở cù lao Minh và cù lao Bảo:
“năm 1899 có 4.000 ha dừa và 10.000 ha cây trái khác”.
“Bến Tre bán ra bốn sản vật chính: lúa, cơm
dừa khô, lụa, cau và trầu”(2).
Có
thể trên những cù lao thuộc Bến Tre trồng
dừa sớm, dừa tập trung, sản phẩm dừa
được đưa đi trao đổi nhiều
nơi, nên ở các nơi khác người ta thường
gọi Bến Tre là xứ dừa.
Sự
h́nh thành vùng đất vườn, xây dựng nên hệ
sinh thái mới đẩy lùi t́nh trạng bùn lầy nê
địa, sinh hoạt g̣ bó, bịnh tật, thú dữ lan
tràn, đă đem lại cho con người một cuộc
sống ổn định, khí hậu hiền ḥa, thích nghi
với việc ăn ở lâu dài. Vườn cây mở ra,
cư dân vùng vườn càng thêm đông đúc, nhà cửa
khang trang, xóm làng trù phú. Cảnh quan sông, vườn,
ruộng nối liền nhau, trên bến dưới
thuyền tấp nập, vang vang tiếng haut giọng ḥ là
một sự đổi mới hoàn toàn so với thời
dân cư thưa thớt, rừng bụi, sông rạch
ngăn cách việc giao lưu đi lại kinh tế hoàn
toàn tự cấp. Đó là một kỳ công cải tạo
và sáng tạo thiên nhiên, sáng tạo môi trường sống
của người Việt ở Bến Tre trải qua
hằng thế kỷ lao động nhọc nhằn
vất vả, không biết bao nhiêu con người đă ngă
xuống v́ công việc chinh phục thiên nhiên đầy gian
khổ nầy.
Thuở
ban đầu chinh phục vùng hoang vắng buộc
người ta phải sống quần cư thành từng
xóm để tương trợ đùm bọc lẫn nhau.
Lao động phá đất lập vườn là một
loại lao động hoàn toàn thủ công và vô cùng nặng
nhọc. Phải có những con người cường
tráng, có quyết tâm, biết tổ chức lao động
tập thể với hiệu suất rất cao mới có
thể biến cồn hoang, băi bùn, lùm bụi ngập
nước thành vườn tược khang trang cao ráo. T́nh
làng nghĩa xóm, lao động tập thể đă làm cho ư
thức cộng đồng của người dân khai hoang
ngày thêm củng cố. Quá tŕnh lao động gian khổ
càng làm cho con người thiết tha gắn bó với
đất đai, vườn tược do chính họ làm
nên.
Tạo
nên mảnh vườn là sáng kiến cải tạo thiên
nhiên cộng với sức lao động cần cù
nhẫn nại. Xác định cơ cấu cây trồng
trên đất vườn và phát triển nghề làm
vườn đ̣i hỏi con người phải t́m ṭi phát
hiện những bí ẩn sinh học của các loại cây
trồng, biết di thực và lai tạo các giống cây
trồng thích hợp trên vùng đất mới, biết
bố trí cây trồng sao cho sự phát triển đạt
được hiệu quả kinh tế cao nhứt
đối với từng vùng đất. Kinh nghiệm
đă có về nghề làm ruộng, trồng giồng, không
thể áp dụng cho nghề làm vườn. Điều kiện
sản xuất mới đ̣i hỏi con người
phải biết suy nghĩ, t́m ṭi, học hỏi, phát
hiện cái mới. Cần cù nhẫn nại chưa
đủ mà c̣n phải có kiến thức cần thiết
trong sản xuất. Lao động không giản đơn
mà lao động phải thông minh. Chính do đặc
điểm nầy mà người lao động nghề
vườn sớm phát hiện và biết khai thác nhiều
tầng sinh thái, từ khai thác đơn giản ba tầng
đă tiến đến khai thác năm tầng. Ngày nay trong
một khu vườn công thức nuôi trồng: dừa, cây
ăn trái, tổ ong, mô nấm, liếp rau, ao cá, chuồng
gia súc không c̣n là điều mới lạ, mà là công thức
nuôi trồng phổ biến. Nghề vườn c̣n chia ra
hai ngành: ngành trồng cây và ngành ương cây. Khu vực Cái
Mơn - Vĩnh Thành ngành ương cây, chiết và ghép cây,
lai và tạo giống cây phát triển từ những năm
30. Ngành ương và ghép cây thể hiện một
bước tiến quan trọng của nghề
vườn, từ kinh nghiệm tiến đến kết
hợp kinh nghiệm với tri thức khoa học. Trong ṿng ba thế kỷ, ba cù lao
hoang vắng đă trở thành ruộng vườn, làng xóm
trù phú như ngày nay quả thật là một kỳ công
của lao động tập thể, một chiến công
chinh phục thiên nhiên hết sức vĩ đại
của các thế hệ con người đă nối
tiếp nhau khai phá đất Bến Tre.
4.
Kinh
tế vườn phát triển, đồng thời trên
cơ sở của sinh hoạt kinh tế đó,
đời sống và sinh hoạt văn hóa tinh thần
của người dân miệt vườn cũng
đổi mới và phát triển. Hoàn cảnh mới, sinh
hoạt mới, nảy sinh t́nh cảm, tâm tư, cách làm,
thói quen mới. Người lao động miệt vườn
ngày ngày cặm cụi đào mương đắp
liếp, bồi đất lên gốc cây trồng, chăm
chút từng chiếc mầm xanh, say sưa với chùm trái
chín. Đêm đêm họ thích thú ngắm nh́n sông
nước, bóng dừa pha với ánh trăng, mùi bông
dừa, bông bưởi, bông cau, đưa hương thoang
thoảng, ḷng rộn ră với tiếng chày giă gạo
khuấy động vườn khuya tĩnh mịch, bâng
khuâng nghe giọng ḥ chèo ghe lên bổng xuống trầm, bàng
bạc ngân vang giữa trời cao sông rộng.
Nghề
vườn khác hẳn với nghề ruộng. Dừa ngày
càng cao, sào chiếc sào đôi không với tới.
Người làm vườn muốn giựt dừa phải
dùng đến câu liêm, dừa quá cao th́ leo lên ngọn bẻ
trái. Giựt dừa phải có sức mạnh nâng chiếc
câu liêm dài năm, bảy thước lên ngang ngọn
dừa, một động tác giựt phải đổ
cả một buồng dừa từ năm đến
chục trái. Họ leo dừa nhanh như sóc và chuyền trên
đọt dừa từ cây nầy sang cây khác ngoạn
mục như một tiết mục xiếc. Lao
động miệt vườn có sức khỏe chưa
đủ mà đ̣i hỏi phải thật nhanh
nhẹn,dẻo dai.
Đất
vườn, sông rạch mương xẻo như mắc
cửi, bước ra khỏi nhà là gặp cầu. Từ
nơi nầy sang nơi khác, đi chợ, đi xóm,
thăm hỏi lẫn nhau phần nhiều phải đi
xuồng, xuồng bơi, xuồng chèo, xuồng moat chèo,
xuồng hai chèo. Giỏi đi cầu khỉ, giỏi chèo
chống, bơi xuồng là đặc điểm của
người miệt vườn từ già chí trẻ.
Cầu khỉ không dài nhưng qua cầu phải
điềm tĩnh, nhẹ nhàng, nhanh, và phải biết
phối hợp các động tác thăng bằng cần
thiết. Chèo xuồng, chèo ghe, không phải chỉ có c̣ng
lưng, ưỡn ngực, mà người chèo phải
biết bố trí các động tác cân đối nhịp
nhàng, uyển chuyển, khoan thai khi điều khiển mái
chèo khua mặt nước. Có lẽ do sinh hoạt hằng
ngày, thói quen sử dụng các động tác qua cầu,
bơi xuồng, chèo xuồng, con người miệt
vườn có dáng đứng dáng đi khỏe khoắn,
gọn gàng, khoan thai, uyển chuyển.
Môi
trường đổi mới, cuộc sống phong phú
hiền ḥa, miệt vườn sớm nổi tiếng là
nơi nước ngọt cây lành, trai xinh gái đẹp.
Nhà
cửa miệt vườn vẫn giữ dáng dấp nhà
cửa của làng quê Việt Nam truyền thống,
nhưng rất ngăn nắp, sạch sẽ, khang trang.
Trước nhà là sân hoa với hàng rào cắt gọn
bằng cây cảnh, phổ biến nhà nào cũng có bồn
hoa, chậu cảnh được tạo dáng khá công phu,
chăm sóc hết sức cẩn thận, người ta cho
rằng đó là những nhân tố cần thiết làm
đẹp cửa đẹp nhà, thêm niềm vui cho cuộc
sống. Sau nhà là ao cá, mương tôm và chuồng trại
chăn nuôi. Ngày giỗ, ngày tết, ngày thường, khi
cần thiết, nhà vườn có đủ cả hoa
quả, thịt cá.
Người
miệt vườn thích trang trí trong nhà các loại tranh phong
cảnh. Trên vách, giữa bàn thờ ông bà, người ta
thường treo tranh, tứ thời, tứ b́nh, những
loại tranh theo các đề tài cổ điển: tùng lộc,
hoa điểu, mai hạc v.v... Nét độc đáo là
giữa nhà thường có một bức tranh sơn
thủy cỡ lớn, trong tranh có mái nhà thân thuộc,
cội cây, cầu nước, ḍng sông uốn khúc, xa xa là
chiếc buồm trắng giữa ḍng nước biếc,
in bóng non xanh, man mác một khoảng trời bao la xa
thẳm, sâu sắc t́nh quê, đượm hồn non
nước.
Con
người sinh ra và lớn lên trên đất vườn
lao động rất cần cù và thích cuộc sống êm
đẹp, hiền ḥa, tao nhă. Họ rất hiếu khách,
cởi mở, chân t́nh, quư người phương xa
như thân thuộc. Đất vườn trù phú, cảnh
vật hữu t́nh, người miệt vườn
đẹp nết, đẹp người, chân t́nh,
hiếu khách, đă thu hút số đông người thành
thị về thăm quê vườn trong những ngày
nghỉ, ngày Tết..
Người
miệt vườn siêng năng, chăm làm, ham học
hỏi. Lao động và cuộc sống đ̣i hỏi
họ phải cần mẫn và thông minh. Họ rất say
sưa t́m ṭi những bí ẩn sinh học của cây
trồng để bồi dưỡng, thuần hóa và cải
tạo nó. Từ thuở xa xưa chỉ có cây dừa, cây
cau, cây chuối, dây trầu là những loại cây trồng
phổ biến, ngày nay tập đoàn cây trồng trên
đất vườn hết sức phong phú. Mỗi
loại cây qua sự thuần dưỡng của con
người cũng đều có sự phát triển,
đổi mới, hơn hẳn về số lượng
và chất lượng so với nguồn gốc cũ.
Cải tạo và sáng tạo tự nhiên là nét độc
đáo của người lao động miệt vườn.
Thiên
nhiên ai cũng biết vừa hiền ḥa vừa khắc
nghiệt. Con người vừa nhận sự ưu
đăi của thiên nhiên vừa phải t́m cách cải
tạo và chế ngự thiên nhiên để tồn tại.
Mấy thế kỷ gian khổ tạo dựng nên mảnh
đất vườn, con người phải lao
động cật lực và đổ ra biết bao nhiêu
công sức. Họ lớn lên từ đối phó, t́m ṭi,
học hỏi và sáng tạo. Hoạt động vật
chất là cơ sở sáng tạo văn hóa, nhưng
hoạt động văn hóa lại có vai tṛ thúc
đẩy hoạt động vật chất phát
triển. Không phải ngẫu nhiên mà thuở xa xưa
ở miệt vườn nầy đă sớm xuất
hiện những con người hiếu học, thông minh,
có học vấn cao nổi tiếng cả vùng lục
tỉnh. Ngày nay cũng chính những con người
miệt vườn ấy, đă sớm thấy vai tṛ
của khoa học, t́m đến với khoa học,
rất cần mẫn và thông minh trong việc tiếp
thụ và ứng dụng khoa học vào cây trồng. Họ
đang dẫn đầu phong trào tạo ra lúa cao sản,
dừa cao sản, mía cao sản, đưa dây hồ tiêu và
cây ca cao vào đất vườn, biết khai thác ba
tầng sinh thái trong đất vườn, biết thí
nghiệm và thuần hóa các loại cây công nghiệp khó
trồng để đổi mới cơ cấu cây
trồng, mở đầu cho bước phát triển
mới: công nghiệp hóa từ nông nghiệp đất
vườn. Con người lớn lên cùng với sự trù
phú của thiên nhiên được cải tạo và sáng
tạo. Đời nọ qua đời kia, nhạy bén và
sáng tạo trong đời sống nối tiếp thành
truyền thống. Thừa hưởng những thành
quả lao động sáng tạo của ông cha truyền
lại để rồi tiếp tục tiến xa hơn,
người miệt vườn thực sự có ḷng
tự hào chính đáng về quê hương tươi
đẹp của ḿnh.
Người
dân miệt vườn, tuy cuộc sống có đổi
mới do kinh tế vườn trù phú, nhưng vẫn
giữ vững bản sắc thuần hậu, chất
phác, hun đúc hào khí Đồng Nai của cha ông truyền
lại, yêu đất, yêu vườn, thương người,
thong nước. Phong trào chống Pháp trên đất cù lao
kéo dài đến đầu thế kỷ XX vẫn có
mặt của người miệt vườn. Ḷng yêu
nước đă thử thách
bản lĩnh và tài năng của họ. Ba thế kỷ lao
động và chiến đấu đầy gian khổ
của mấy thế hệ cư dân trên đất cù lao
đă tạo dựng nên đất vườn và rèn
luyện bản sắc con người miệt
vườn. Thừa hưởng truyền thống của
cha ông, thế hệ con cháu người miệt
vườn được hun đúc sâu sắc thêm ḷng yêu
nước, yêu quê hương, gắn bó với đất
đai, cây trồng, cần cù, thông minh, ham học, ham làm,
quư trọng đạo lư và t́nh người, hào hiệp,
mến khách, biết lo xa, dám làm việc lớn.
Quá
khứ và hiện tại, bản lĩnh và tài năng đă
tạo cho con người miệt vườn dáng
đứng Bến Tre rạng rỡ niềm tự hào chính
đáng.
T́m
hiểu đất vườn và
con người miệt vườn là để góp
phần hiểu rơ chiều sâu những ǵ đă nuôi
dưỡng, phát huy và sáng tạo truyền thống
Việt Nam trên vùng đất mới.
Quá
khứ và hiện tại chuẩn bị hành tŕnh cho
bước tiến tương lai l
1995
----------------------------------------------------
(1) và (2) Excursions et
reconnaissances (1880) và Guide annuaire illustré de la Cochinchine (1899) do Nguyễn
Duy Oanh trích dẫn trong “Tỉnh Bến Tre trong lịch
sử Việt Nam” xuất bản 1971.