Ý
nghĩa chữ Cochinchine
B. S. Nguyễn Lưu
Viên
Nam
Kỳ,
Pháp gọi là Cochinchine, vậy danh từ Cochinchine có từ đâu ra ?
Theo
sách “ Cochinchina : Reassessment of the Origin and Use of a
Westernized Place Name “ by Dinh D. Vu, Ph.D. [Vietnamese translation by Dr.
Hoang Xuan Chinh] Meadows Place Texas, 2000,
thì:
1
-
Theo Ông Aurousseau (1924), cố Giám-đốc Trường Viễn Đông Bác Cổ [École
Francaise d’Extrême Orient], thì nước Viet Nam thời xưa không được người
Bồ-đào-nha [Portugais] hoặc người Âu châu biết đến một cách trực tiếp trước năm
1515, do đó sự hiểu biết tên nước đó phải được người Arab giới thiệu với Tây
Phương. Ông chứng minh rằng chữ Cochinchina là do chữ Bồ-đào-nha
Quachymchyna , mà chữ này lại bắt nguồn từ chữ Arab “Kawci-min-cin”.
Theo Ông thì “Kawci” là chữ Arab tương đương với chữ “Kiao-tche”
là tiếng Tàu chỉ nước Việt Nam thời đó [Giao Chỉ]. Còn từ ngữ “min-cin”
có nghĩa là thuộc Trung Hoa Nhưng Ông Aurousseau đã không đưa ra được một bằng
chứng cụ thể nào về tên Cochin-china bắt nguồn từ chữ Giao-Chỉ. . Hơn nữa, Ông
đã không có một bản đồ chính xác nào để hỗ trợ cho giả thuyết của Ông. [tr.2
v]
2 -
Mọi người đều đồng ý là danh từ Cochinchina có hai phần là Cochin và
China.
Chữ
China thì không thành vấn đề vì nó được dùng để chỉ định một địa phương đã được
biết rõ. Còn chữ Cochin thì đã đưa đến nhiều giải thích khác nhau.
Vì có
điểm giống nhau giữa cách đánh vần chữ Chanocochin và danh từ chỉ một nơi trên
bờ biển Malabar Coast của Ân-độ, mà mgười Bồ-đào-nha đã biết đến vào thế kỷ thứ
15 như Colchi, Cocym, hay Cochin, ta có thể dự đoán là các nhà vẽ họa-đồ Tây
Phương đã mượn những từ ngữ trên. Nhưng sự tiếp xúc trực tiếp giữa Tây phương và
VN sau này đã dẫn đến sự thay đổi từ ngữ đó. Trên bản đồ của Ribeiro năm 1529,
người ta đã cố gắng chuyển tên Cửu Chân trong tiếng Việt sang ngôn ngữ
Tây phương, Ông gọi vinh Bắc kỳ [Golfe du Tonkin] là Cauchechina. Cửu
Chân là một trong chín quận được thiết lập bởi vua Hiếu Vũ năm 111 B.C. Danh từ
này được đọc là Cẩu Chân theo tiếng Quảng Đông. Biên giới của Cửu Chân được thay
đổi theo thời gian, nhưng tên gọi không thay đổi cho tới năm 1407 . Đó là tên
độc nhất của một khu vực hành chánh lớn ở VN đã được biết đến suốt 15 thế kỷ. [tr.10
v]
Kể từ
năm 1529 từ ngữ Cauchechina bắt đầu xuất hiện thường xuyên. Nó được thấy
trên bản đồ của Gastaldi, Ortolio, Homen và Luis dưới dạng Gauchi, Cauchy, hay
Cauchin. Cho tới năm 1565 ta thấy có dấu hiệu trở lại cách viết ban đầu khi
Berteli dùng chữ Cochinchina cho bản đồ của Ông. Trong nhiều thập niên
hai tên kể trên xuất hiện thường xuyên , có khi đứng cạnh nhau cùng trên một bản
đồ [hình 4]. Mãi tới thế kỷ thứ 17 thì từ ngữ Cochinchina
mới vĩnh viễn thay thế địa danh Cauchinchina.[tr.11 v]
3
-
Vậy, ta có thể dựa vào những bằng chứng nào để phủ nhận giả thuyết của
Aurousseau cho rằng Cochin là từ Giao-Chỉ [Chiao-chih, Kiao-tche] mà ra ?
Giao
Chỉ không còn được xử dụng như một địa danh quan trọng ngay trong giai đọan đầu
của lịch sử nước ta; Cửu Chân [Chiu-Chen] trái lại được dùng cho tới khi người
Tây phương đến. Hơn nữa cách đánh vần tên cho thấy có sự liên hệ giữa Cửu
Chân và Cochin[Cochin/china][tr.11v]
Kết
luận:
“Tóm lại, họa đồ và những kiến thức mới về sử địa của VN cho ta có một cái nhìn
khác về nguồn gốc và sự xử dụng danh từ Cochinchina . Hình thức sớm nhất,
Chanocochim, là sự phối hợp của hai tên: China và Cochin . Nó chỉ một
vùng đất ở VN, giống như một miền ở bờ biển Malabar Coast, nhưng dân chúng ở
Cochinchina đã có những đặc tính văn hóa giống như Trung Quốc. Nhờ ở những cuộc
tiếp xúc giữa Tây phương và VN sau này, tên Cửu Chân đã được dùng để
chuyển dịch sang tiếng Tây phương . Sự dùng từ ngữ Cauchinchina [Cửu Chân
của Trung Hoa] được tiếp tục cho tới phần đầu của thế kỷ XVII. Sau đó nó được
thay thế bởi từ Cochinchina, một tên mà các nhà truyền giáo thích
hơn và sau cùng được chính quyền Pháp chính-thức-hóa để chỉ 20 tỉnh ở cực Nam
của Việt Nam.” [tr. 12 v]
Nói
thêm:
20 tỉnh của Nam Kỳ hồi xưa có tên và được sắp xếp theo thứ tự như sau [thành một
bài mà học trò lớp Tiểu Học trong Nam phải thuộc lòng] :
Gia,
Châu, Hà, Rạch,Trà,
Sa,
Bền, Long, Tân, Sóc,
Tây,
Biên, Chợ, Mỹ, Bà,
Gò,
Thủ, Vĩnh, Cần, Bạc.
Tức
là:
|
1: Gia Định;
2: Châu Đốc;
3:
Hà Tiên;
4:
Rạch Giá;
5
: TràVinh; |
|
6:
Sa Đéc;
7: Bến Tre;
8: Long
Xuyên;
9:
Tân An;
10:
Sóc Trăng; |
|
11: Tây Ninh;
12:
BiênHòa;
13:
Chợ Lớn;
14:
Mỹ Tho;
15:
Bà Rịa; |
|
16: Gò Công;
17: Thủ
Dầu Một;
18:
Vĩnh Long;
19:
Cần Thơ
20:
Bạc Liêu. |
Tôi
không biết tại sao có thứ tự đó; nhưng trong Nam sông lớn rạch nhỏ chằng chịt
với nhau, nên hồi xưa dân thường hay dùng xuồng tam-bản, hay ghe thuyền, để di
chuyển và chuyên chở. Người nào có ghe thì phải đóng thuế, nên phải lên tỉnh xin
đăng bộ, thì tỉnh cho một cái thẻ có số bắt đầu bằng hai chữ HF [nghĩa là
Hydrographie Fluviale] rồi số thứ tự kể trên của tỉnh [như tôi ở TràVinh thì là
HF5-] rồi mới tới số thứ tự trong sổ của tỉnh [thí dụ như: HF5-1357] thì chủ ghe
phải vẽ số đó trên ghe của mình.
Làm
như vậy còn giúp cho việc giữ gìn an ninh, vì trong làng ông Hương Quản [lo về
an ninh] hay ở tỉnh Ông Cò [Chef de police Tây] nhìn thấy số sau chữ HF là biết
ghe đó từ đâu đến [như bản xe hơi bên Mỹ] để rồi, nếu thấy từ xa đến, thì kiểm
soát kỹ lưỡng hơn.