Tiền Giang
ĐỊA
LƯ TỰ NHIÊN: SÔNG, RẠCH, KINH, AO
Tiền Giang có hai con sông lớn chảy qua, sông Vàm
Cỏ ở phía Bắc và sông Tiền ở phía Nam. Cùng
với các chi lưu của nó đă tạo nên một
bức tranh thủy thế hết sức sống
động và đa dạng góp phần làm giàu đẹp cho
tỉnh Tiền Giang.
I - SÔNG TIỀN
Sông Tiền là một nhánh thuộc vùng hạ lưu
của lưu vực sông Mêkông. Sông Mêkông (từ Lào là Mêkông
có nghĩa là sông mẹ) bắt nguồn từ vùng núi
tuyết trên cao nguyên Tây Tạng ở độ cao 5.000m.
Sông Mêkông chảy qua năm nước: Trung Quốc,
Miến Điện, Lào, Thái Lan, Campuchia rồi mới
đến nước ta. Mêkông là con sông dài nhất Đông
Nam Á. So với những con sông lớn trên thế giới nó
được xếp vào hàng thứ 10 về lượng
ḍng chảy (475 tỷ m3/năm) và chiều dài (4.200km)
đứng thứ 5 về diện tích lưu vực
(795.000km2).
Sông Hậu chảy thành một ḍng thẳng tắp
theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Đến gần
cửa biển mới tách ra thành hai cửa lớn
Định An và Trần Để.
Sông Tiền cũng chảy theo hướng đó,
tới Vĩnh Long nó được tách làm 3 nhánh lớn:
nhánh Hàm Luông, Cổ Chiên chảy qua địa phận
của tỉnh Bến Tre và đổ ra biển bằng
hai cửa cùng tên. Nhánh Mỹ Tho chảy qua địa
phận Tiền Giang và đổ ra biển bởi ba
cửa: cửa Tiểu, cửa Đại và cửa Ba Lai.
Hướng chảy của đoạn này gần
như từ Tây sang Đông so với lượng chảy
ban đầu (trước khi đến địa
phận của Tiền Giang) Tây Bắc – Đông Nam. H́nh thái
sông phức tạp, các vực sâu vào băi bồi xen kẽ
nối tiếp nhau, mà sâu nhất có thể tới 40m.
Sau vị trí Phnom Penh, nước từ thượng
nguồn sông Mekong đổ ra biển Đông qua 2 nhánh là
Sông Tiền (Mekong) và Sông Hậu (Bassac). Đoạn sông
Tiền từ chỗ tiếp giáp với sông nhánh Hàm Luông
đến đầu cù lao Tàu cũng được
gọi là sông Mỹ Tho. Xét theo đặc điểm
tự nhiên, 92% diện tích của tỉnh Tiền Giang
thuộc lưu vực Sông Tiền và sông nầy là nguồn
cung cấp nước tưới, nước sinh hoạt
chủ yếu cho cả tỉnh. Sông Tiền cùng với các
nhánh của nó cũng là môi trường rất thuận
lợi cho nuôi trồng và phát triển thủy sản.
Chiều dài sông Tiền tính từ chỗ giáp ranh
với tỉnh Đồng Tháp đến đầu cù lao
Tàu, nơi phân lưu thành 2 sông Cửa Tiểu, Cửa
Đại là 77.400 m, đây cũng là ranh giới tự
nhiên của Tiền Giang với 2 tỉnh Bến Tre và
Vĩnh Long ở phía Nam. Nơi rộng nhất 2.100 m
tại đầu cù lao Tàu, nơi hẹp nhất chỉ
300 m cách vàm Rạch Trà Lọt thuộc xă Ḥa Khánh, huyện
Cái Bè 600 m về hướng Tây. Chiều sâu sông thay
đổi tùy theo đoạn: Đoạn từ
đầu cù lao Tàu đến Vàm Kỳ Hôn sâu 9 m
đến 11 m, đoạn từ Vàm Kỳ Hôn qua thành phố
Mỹ Tho đến vàm Kinh Nguyễn Tấn Thành sâu 7 m
đến 9 m, từ vàm Kinh Nguyễn Tấn Thành
đến Cầu Mỹ Thuận độ sâu ḷng sông chính
trung b́nh từ 12 m đến 15 m so với mặt
đất tự nhiên – trong đoạn nầy khúc sông
từ cầu Mỹ Thuận ngược về phía Tây có
nơi sâu đến 27 m, địa h́nh ḷng sông thấp
hẵn về phía Tiền Giang và độ dốc mái
bờ tại khúc nầy rất bé.
Sông Tiền cùng 2 nhánh của nó có liên quan đến
tỉnh Tiền Giang là Sông Cửa Tiểu, Sông Cửa
Đại và hệ thống kinh rạch trong tỉnh
chịu ảnh hưởng mạnh mẽ chế
độ bán nhật triều không đều của
Biển Đông. Trong 1 ngày có 2 lần nước lớn
(triều cao) với một đỉnh thấp và một
đỉnh cao hơn và 2 lần nước ṛng với
một chân thấp và một chân cao hơn. Hàng tháng có 2
lần nước rong (kỳ triều cường) và 2
lần nước kém (kỳ triều kém). Tại Mỹ
Tho, biên độ cực đại vào kỳ triều
cường xấp xỉ 3,50 m và vào kỳ triều kém là
1,50 m; càng chảy sâu vào các nhánh kinh, rạch biên độ
triều càng giảm.
Khi thủy triều lên sẽ tạo ḍng chảy
ngược về phía thượng lưu. Nếu
lượng nước từ thượng nguồn
đổ về thấp sẽ tạo điều kiện
thuận lợi để nước biển lấn sâu
vào nội địa. Tại cầu Mỹ Thuận, vào mùa
cạn (tháng 1 đến tháng 6 dl) lượng nước
đổ về thấp nhất vào tháng 4 dl (1.300 m3/s – 1.500
m3/s) và cao nhất vào tháng 6 dl (xấp xỉ 5.500 m3/s).
Như vậy mùa cạn, đặc biệt vào tháng 4 dl, là
thời đoạn mà nước biển dễ dàng xâm
nhập sâu về phía thượng nguồn. Thành phố
Mỹ Tho, các huyện G̣ Công Đông, G̣ Công Tây, Chợ
Gạo, Châu Thành và phần cực Đông của 2 huyện
Cai Lậy, Tân Phước là vùng chịu ảnh
hưởng mặn hàng năm từ sông Tiền và sông Vàm Cỏ
(xem mục từ nầy). Độ mặn, thời gian
nước bị nhiễm mặn trong năm tùy thuộc
vào vị trí so với cửa sông. Nói chung từ cuối
tháng 12 dl độ mặn nước sông tại khu
vực gần cửa sông bắt đầu tăng lên,
thời đoạn độ mặn ≥ 4 gNaCl/l trên Sông
Cửa Tiểu tại Vàm Kinh (cách cửa sông 3 km) là gần
8 tháng (đầu tháng 1 đến hạ tuần tháng 8 dl),
tại cửa Rạch Vàm Giồng (cách cửa sông 26,50 km)
là 3 tháng (tháng 3, 4, 5 dl), tại Vàm Kỳ Hôn (cách cửa
sông 42,50 km) là gần 1 tháng. Trên Sông Tiền tại
Mỹ Tho (cách cửa sông 47,50 km) độ mặn ít khi
vượt quá 4 gNaCl/l, tuy nhiên vào những năm lưu
lượng thượng nguồn ít độ mặn
tại đây vẫn vượt qua mức 4 gNaCl/l và kéo dài
trong nhiều ngày như năm 1998 chẳng hạn,
độ mặn lên đến 10,44 gNaCl/l đo
được vào ngày 08/4, cao nhất tính từ năm 1936
đến năm 2005 và trong suốt tháng 4 năm đó
độ mặn luôn lớn hơn 4 gNaCl/l. Hiện nay, sau
gần ba thập niên thực hiện Chương tŕnh
Ngọt Hóa G̣ Công, phần đất canh tác trên 35.000 ha
từ Vàm Kỳ Hôn đến Biển Đông đă
được ngăn mặn và cấp nước
ngọt bằng hệ thống đê và các cống
điều tiết dưới đê. Chương tŕnh
nầy đă tạo điều kiện để tăng
vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và
cấp nước sinh hoạt, từ đó góp phần làm
tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống
của cư dân trong vùng.
Nếu lượng nước từ thượng
nguồn đổ về quá nhiều sẽ gây ra ngập
lụt. Vào mùa lũ (từ tháng 7 đến tháng 12 dl),
lượng nước đổ vào Sông Tiền tại
Mỹ Thuận từ 8.000 đến 9.500 m3/s (tháng 12 dl,
thấp nhất) đến khoảng từ 19.000
đến 21.000 m3/s (tháng 10 dl, cao nhất). Những năm
có lũ lớn, nước từ thượng nguồn
đổ ra biển qua sông Tiền, sông Hậu và chảy
tràn vào Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên.
Trong địa phận tỉnh Tiền Giang, nước
từ Sông Tiền ở phía Nam và từ Đồng Tháp
Mười ở phía Bắc chảy vào mạng
lưới kinh rạch và dâng lên làm ngập gần 140.000 ha
của các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phước,
phần phía Tây Quốc lộ 1A của huyện Châu Thành và
một phần xă Trung An của thành phố Mỹ Tho.
Lũ lụt - ngoài những lợi ích như làm sạch
đồng ruộng, mang phù sa bồi bổ đất
đai... – đă làm hư hỏng nhà cửa, vườn,
ruộng của dân và nhiều công tŕnh cơ sở hạ
tầng. Trận lũ lớn năm 2000 đă làm thiệt
mạng 47 người, thiệt hại hoa màu, tài sản
công và tư gần 748 tỷ đồng (gần 53
triệu USD), chiếm 10,58% GDP của cả tỉnh trong
năm đó.
Trên 120km, sông Tiền chảy trên đất Tiền
Giang, ngoài ḍng chính ra c̣n có một hệ thống phụ
lưu phong phú như: Rạch Cái Thia và phụ lưu
của nó; rạch Trà Lọt; rạch Cái Bè và phụ lưu
của nó; rạch Ba Rài; rạch Trà Tân; rạch Gầm;
rạch Bảo Định; rạch Cả Hôn – Cầu
Ngang; rạch Vàm Giồng; Sáu Thoàn; rạch Giá, rạch Long
Nông; rạch Gốc. Phần lớn các phụ lưu này
đều ngắn nhưng khá sâu và rộng. Nó có nhiệm
vụ dẫn nước tưới và tiêu cho nhiều vùng
đất cổ bọc phía Bắc sông Mỹ Tho.
Sông Tiền đoạn chảy qua Tiền Giang đă
tạo nên nhiều cù lao dài, hẹp và trù phú (Ngũ
Hiệp, Tân Phong, Tân Thới, Tân Phú, Phú Thạnh, Phú
Đông).
II - SÔNG VÀM CỎ
So với Sông Mekong, Sông Vàm Cỏ chỉ là sông nhỏ
và có rất nhiều đoạn uốn khúc. Nước
từ thượng nguồn đổ về theo 2 nhánh Vàm
Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, đến gần Cần
Đước 2 nhánh nhập một rồi đổ ra
Biển Đông qua cửa Soài Rạp.
Vàm Cỏ là con sông lớn thứ hai chảy qua
địa phận Tiền Giang ở phía Bắc, chỉ chỉ
có 39 km chiều dài chảy trên đất Tiền Giang
trước khi đổ vào cửa Soài Rạp để
ra biển. Tuy vậy, nó cùng với nhánh Vàm Cỏ Tây
ảnh hưởng khá lớn đến các hoạt
động kinh tế, văn hóa, xă hội của tỉnh
nhà.
Sông không có lưu vực riêng, lượng ḍng chảy
trên sông chủ yếu từ sông Tiền chuyển qua, sông
quanh co uốn khúc (hệ số nồn khúc 1,5), độ
dốc đáy sông nhỏ (0,02%) làm cho việc tiêu thoát
thủy gặp nhiều khó khăn. Hướng chảy
cơ bản Tây Bắc – Đông Nam.
Phần lớn chiều dài sông Vàm Cỏ thuộc
tỉnh Long An, riêng đoạn dài 39 km từ vàm sông Tra
(một nhánh của sông Vàm Cỏ, vàm nầy tại xă B́nh
Xuân, Huyện G̣ Công Đông, Tỉnh Tiền Giang)
đến cửa Soài Rạp là một phần ranh giới
tự nhiên giáp biển giữa 2 tỉnh Tiền Giang và Long
An. Tại đoạn sông nầy nơi rộng nhất
3.100 m tại ngay sau chỗ hợp lưu với Sông Nhà Bè,
nơi hẹp nhất 420 m gần vàm sông Tra. Lượng
nước chảy qua sông vào mùa lũ tại Tân An trung b́nh
từ 1.000 đến 1.200 m3/s, cao nhất khoảng 2.300
m3/s.
Sông Vàm Cỏ chỉ có ảnh hưởng đến
8% diện tích ở phần cực Bắc của tỉnh.
So với sông Tiền, nước từ sông Vàm Cỏ kém
hẵn về chất lượng. Trong mùa lũ, một
phần lượng nước từ Sông Tiền chảy
tràn vào Đồng Tháp Mười và thoát ra biển qua sông
Vàm Cỏ Tây nhưng khả năng tháo lũ của sông
nầy rất kém v́ có quá nhiều đoạn uốn khúc.
Nước đổ về vào đầu và giữa mùa
lũ thường là nước nhiễm phèn v́ chảy qua
Đồng Tháp Mười. Vào mùa cạn, hầu như
toàn bộ sông Vàm Cỏ hoàn toàn bị thủy triều bán
nhật của Biển Đông chi phối, nước
biển dễ dàng lấn sâu về phía thượng
nguồn. Vào cùng một thời điểm và đồng
một khoảng cách đến biển độ mặn
nước sông Vàm Cỏ lớn gấp nhiều lần
trên Sông Tiền. các cống Rạch Chanh, Bắc Đông...
Cũng như sông Tiền ở hai phía (tả,
hữu) của sông Vàm Cỏ có rất nhiều chi lưu.
Riêng địa phận Tiền Giang có: rạch Cái Tôm,
rạch Láng C̣, rạch Chanh, rạch Cần Đối,
rạch Bảo Định, rạch G̣ Công, rạch Vàm Tháp.
Chạy theo hướng Bắc - Nam, từ Sông Cũ
- Kinh 12 (Bắc) đến Sông Tiền (Nam). Rạch
nằm hoàn toàn trong huyện Cai Lậy với chiều dài
22.200 m, cắt ngang qua Quốc lộ 1A tại Cầu Cai Lậy.
Phần Rạch phía Nam Quốc lộ 1A có nhiều
đoạn uốn khúc, ngay trước khi ra đến
Sông Tiền có một khúc ngoặc h́nh Ω. Nơi rộng
nhất130 m tại chỗ giáp sông Tiền, bề rộng
trung b́nh 40 m, càng về phía Bắc rạch hẹp dần,
chỗ hẹp nhất 20 m tại vị trí giáp rạch Bà
Bèo (cũng gọi là Sông Cũ, Bàu Bèo). Độ sâu trung
b́nh 7 m- 8 m so với mặt đất tự nhiên.
- Kinh Bảo Định (Tên cũ: Bảo Định Hà,
Arroyo de la Poste)
Trước kia, về phía nam chỉ có rạch Mỹ
Tho chảy từ Hóc Đùn ra sông Tiền. Về phía
bắc có rạch Vũng Gù chảy từ rạch Cai
Lộc ra sông Vàm Cỏ. Khoảng giữa là đầm
lầy, rừng bụi. Vào năm 1705, quân Xiêm tiến tới
Rạch Gầm. Chúa Nguyễn cử Thống suất
Nguyễn Cửu Vân đem quân ngăn chặn. Nhằm
thuận đường tiến quân, Nguyễn Cửu Vân
cho đào một con kinh nối liền ngọn rạch
Mỹ Tho và ngọn Vũng Gù. Do đào vội, kinh Vũng
Gù không được thẳng, khoảng sau một thế
kỷ nhiều chỗ bị lấp cạn, giao thông
bất tiện. Sau đó Trấn thủ Định
Tường Nguyễn Văn Phong đă huy động 9 ngàn
dân phu cải tạo lại kinh Vũng Gù, dài 14 dặm,
ngang 7 trượng, sâu 9 thước. Công tŕnh khởi công
từ tháng giêng đến tháng tư năm 1819 (Kỷ Măo)
th́ hoàn thành.
Trước khi đào kinh Chợ Gạo, kinh Bảo
Định là thuỷ lộ quan trọng để vận
chuyển hàng hóa, văn thư… từ đồng bằng
Sông Cửu Long đi Sài G̣n. Năm 1974, cống Tân An đă
được xây tại đầu phía Bắc của
rạch (gần thị xă Tân An) nhằm ngăn nước
mặn từ sông Vàm Cỏ Tây xâm nhập vào ruộng,
vườn. Năm 2004, cống Bảo Định với
chức năng tương tự cũng đă
được xây tại gần vàm phía Nam. Vào mùa
nước mặn hai cống đóng cửa, vai tṛ giao
thông thủy của rạch hiện không như
trước đây.
Kinh Bảo Định đă được vét
nhiều lần, lần gần đây nhất là vào năm
1979. Chiều dài kinh qua địa phận Tiền Giang là
19.000 m. Bề sâu rạch so với mặt đất
tự nhiên thay đổi tùy theo đoạn, đoạn
từ cửa rạch chỗ thông với Sông Tiền
đến cầu Triển Lăm sâu 6 m – 9 m, đoạn
từ vàm rạch Đạo Ngạn đến chùa Phổ
Đức sâu 4 m – 5 m, từ vàm rạch Đạo Ngạn
đến chợ Bến Tranh sâu 5 m – 6 m, cạn nhất là
đoạn chảy qua 2 xă Phú Kiết và Mỹ Tịnh An
của huyện Chợ Gạo chỉ sâu 2 m – 3 m v́ đây
là đoạn giáp nước.
Rạch Cái Cối nằm ở phía Nam Quốc lộ
1A-Quốc lộ 30 trong địa phận huyện Cái
Bè, chạy từ Tây sang Đông qua các xă chuyên canh cây ăn
trái là Tân Thanh, An Hữu, An Thái Đông, Mỹ Lương,
Mỹ Đức Đông và cắt ngang Quốc lộ 1A
tại cầu An Hữu. Đầu phía Tây thông với
rạch Cái Nhỏ, đầu phía Đông thông trực
tiếp ra Sông Tiền. Đoạn rạch qua xă Tân Thanh c̣n
có tên khác là Rạch Dâu. Rạch có nhiều nhánh khá lớn
chảy về phía Bắc và cắt ngang qua Quốc lộ
30 và Quốc lộ 1A như rạch Cái Lân, rạch
Ruộng, rạch Đào, rạch Giồng, rạch Bà
Tứ, rạch Chanh, rạch Cổ C̣. Chiều dài rạch
là 20.900 m, nơi rộng nhất 400 m tại đầu phía
Đông, nơi hẹp nhất 37 m tại đoạn qua xă
Tân Thanh và cách cửa rạch Đào 775 m về phía Tây.
Chiều sâu trung b́nh 6 m – 7 m so với mặt đất tự
nhiên.
Nối từ Kinh Xuân Ḥa đến rạch Vàm
Giồng (xem hai mục từ nầy), rạch dài 9.900 m,
bề rộng mặt trung b́nh 15 m đến 17 m, sâu 3 m – 4
m so với mặt đất tự nhiên. Phần lớn
chiều dài rạch thuộc huyện Chợ Gạo và là
ranh giới tự nhiên giữa 2 xă B́nh Ninh và An Thạnh
Thủy. Rạch Cầu Ngang là một đoạn trong
trục dẫn nước chính cấp cho vùng ngọt hóa G̣
Công, đă được vét 2 lần vào năm 1985 và 1992.
- Rạch G̣ Cát - Rạch Hóc Lựu
và Rạch Tràm
Ba rạch nầy nối liền nhau, chạy theo
hướng Tây - Đông từ chỗ hợp lưu
với rạch Bảo Định (Tây) tại vị trí
cách cầu Hùng Vương 340 m về phía Đông thuộc
Thành phố Mỹ Tho đến chỗ giáp với Sông Tra -
Kinh Chợ Gạo (Đông) tại Xă Đồng Sơn,
Huyện G̣ Công Tây . Tổng chiều dài của 3 rạch là
27.100 m, trong đó chiều dài của rạch G̣ Cát, rạch
Hóc Lựu, rạch Tràm lần lượt là 5.400 m, 11.800 m,
9.900 m. Bề rộng trung b́nh 17 m. Năm 1985 rạch G̣ Cát
và rạch Hóc Lựu đă được vét sâu 4 m so với
mặt đất tự nhiên, tuy nhiên do vét đă lâu và v́
rạch nhận nước từ sông Tiền qua rạch
Bảo Định và từ sông Vàm Cỏ qua sông Tra nên khúc
giữa là giáp nước, mau bồi lắng, hiện nay
độ sâu rạch chỉ 2 – 3 m so với mặt
đất tự nhiên. Đầu rạch phía Tây gần
chỗ hợp lưu với rạch Bảo Định
đă xây cống G̣ Cát vào năm 2000.
Rạch rộng nhất trong các kinh, rạch ở 3
huyện phía Đông của tỉnh, chạy từ rạch
Vàm Giồng ở phía Nam Thị xă G̣ Công, cắt qua Quốc
lộ 50 tại Cầu Long Chánh và Quốc lộ 50 mới
(tuyến tránh thị xă G̣ Công) tại Cầu G̣ Công (mới
xây xong năm 2004), sau đó nối với Sông Vàm Cỏ
ở phía Bắc. Chiều dài 16.900 m, nơi rộng
nhất 190 m tại cửa rạch, nơi hẹp nhất
40 m gần chỗ giáp với rạch Vàm Giồng,
độ sâu trung b́nh 7 m – 8 m so với mặt đất
tự nhiên. Rạch G̣ Công có nhiều nhánh khá lớn như
rạch Sơn Quy, rạch Công Lương, rạch Giá,
rạch Băng, rạch Rầm Vé, rạch G̣ Gừa. Do
thông lưu với Sông Vàm Cỏ nên vào mùa cạn
nước trong rạch bị nhiễm mặn với
nồng độ cao, từ tháng 1 dl đến giữa
tháng 7 dl nước luôn có độ mặn lớn hơn 4
gNaCl/l. Năm 1988 đă xây cống cùng tên nhằm ngăn
nước mặn xâm nhập sâu vào phía đồng. Hai
năm 1996, 1997 đă đắp đê ngăn mặn
chạy dọc theo 2 bờ từ Cống G̣ Công đến
cửa rạch, đồng thời cũng đă xây hàng
loạt cống ngăn mặn tại đầu các nhánh của
rạch nầy.
- Rạch Trà Tân - Rạch Bang Lợi
- Rạch Gầm (Sầm Giang)
Ba rạch nầy nối liền nhau và có h́nh dạng
như chữ U ngược, hai đầu thông với
Sông Tiền: đầu phía Tây tại xă Long Trung sau đó
đi qua các xă Long Tiên, Mỹ Long (huyện Cai Lậy) và Bàn
Long, Vĩnh Kim, Kim Sơn (đầu phía Đông) thuộc
huyện Châu Thành. Phần rạch phía Tây tên là Trà Tân,
đoạn giữa được gọi Bang Lợi và
đoạn phía Đông mang tên rạch Gầm. Tổng
chiều dài cả 3 rạch là 27.300 m, bề sâu 7 m – 8 m
tại đoạn gần vàm, 4 m – 5 m ở đoạn
giữa. Bề rộng tại cửa rạch Gầm là 80
m, cửa rạch Trà Tân là 50 m, chỗ rộng nhất lên
đến 100 m tại vị trí cách cầu Ô Thước
950 m về phía Tây thuộc xă Vinh Kim, đoạn hẹp
nhất chỉ 25 m thuộc xă Long Tiên. Ba rạch có
nhiều nhánh khá lớn chạy theo hướng Nam -
Bắc như rạch Ông Bảo, Kinh Ông Mười,
rạch Mỹ Long...
- Rạch Vàm Giồng (Tên khác: rạch Vàm Rồng,
rạch Rồng)
Chạy từ Sông Cửa Tiểu theo hướng
Nam-Bắc rồi rẽ về phía Đông qua Thị
trấn Vĩnh B́nh của Huyện G̣ Công Tây và nối
với rạch G̣ Công tại vị trí gần thị xă G̣
Công. Chiều dài 18.000 m, bề rộng từ 15 m tại
chỗ tiếp giáp rạch G̣ Công đến 25 m tại khúc
gần vàm, độ sâu trung b́nh 4 m so với mặt
đất tự nhiên. Phần lớn chiều dài rạch
thuộc huyện G̣ Công Tây. Rạch Vàm Giồng cũng là
một đoạn trong trục dẫn nước chính
cấp cho vùng ngọt hóa G̣ Công, đă được vét vào
năm 1999. Tại cửa rạch đă xây một cống
thủy lợi cùng tên vào năm 1991. Trước khi có
cống, từ đầu tháng 3 dl đến cuối tháng
5 dl nước mặn với nồng độ lớn
hơn 4 gNaCl/l từ Sông Cửa Tiểu chảy vào rạch
và ảnh hưởng đến trên 9.000 ha diện tích
thuộc lưu vực rạch nầy.
1.
Kinh 14
Cũng là một đoạn trong trục dẫn
nước chính của vùng ngọt hóa G̣ Công, kinh nối
liền từ rạch Vàm Giồng, chỗ gần vàm,
chạy theo hướng Đông - Đông - Bắc ngang qua
Huyện G̣ Công Tây, Xă Long Hoà của Thị Xă G̣ Công và thông
với Kinh Salisetti. Kinh dài 16.500 m, rộng 27 m, sâu 4,50 m.
2.
Kinh 28
Kinh 28 là đoạn cuối gần Sông Tiền
của một hệ thống gồm nhiều đoạn
kinh đào khá thẳng nối từ kinh Hồng Ngự
thuộc tỉnh Đồng Tháp rồi chạy theo
hướng Đông – Nam cắt ngang các kinh Đồng
Tiến, An Phong - Mỹ Hoà, Nguyễn Văn Tiếp A,
Nguyễn Văn Tiếp B và ra sông Tiền qua ngỏ
rạch Thông Lưu - rạch Cái Bè. Kinh 28 nằm trong
địa phận Huyện Cái Bè, thông với kinh Nguyễn
Văn Tiếp B tại Ngả Sáu Mỹ Trung, chiều dài
14.000 m, bề rộng trung b́nh 60 m, bề sâu 9 m – 13 m so
với mặt đất tự nhiên. Với vị thế
như vậy, kinh 28 là một đoạn trong tuyến
đường thủy quan trọng nối từ trung tâm
Đồng Tháp Mười ra Sông Tiền. Vào những
năm lũ lớn, kinh nầy là một trong những
trục thoát lũ chính với lưu tốc ḍng chảy
thường trên 1,30 m/s, làm sạt lở rất nhiều
chỗ trên suốt chiều dài kinh.
3.
Kinh Bắc
Đông
Kinh nầy là một đoạn trong 3 kinh liền nhau
đă được đào từ lâu, chạy từ Tây
sang Đông, nối liền Sông Tiền và Sông Vàm Cỏ Tây
là Kinh Đồng Tiến – Kinh Lagrange – Kinh Bắc Đông.
Trước đây đoạn Kinh Bắc Đông chỉ
dài 14.000 m tính từ chỗ nối đầu với Kinh
Lagrange đến Sông Vàm Cỏ Tây, năm 1987 đă đào
một con kinh mới dài 14.500 m chạy thẳng từ Kinh
12 ở phía Tây đến chỗ nối giữa kinh Lagrange
và Kinh Bắc Đông, con kinh mới nầy cũng
được gọi là Kinh Bắc Đông. Như vậy,
hiện nay tổng chiều dài của Kinh Bắc Đông là
28.500 m, trong đó phần thuộc địa phận
Tiền Giang là 20.300 m và cũng là một phần ranh
giới giữa Tỉnh Tiền Giang và Tỉnh Long An,
chiều sâu trung b́nh 4 m, bề rộng 20 – 22 m. Năm 1993
tại đầu phía Đông trong địa phận
Tỉnh Long An, gần Sông Vàm Cỏ Tây, đă xây Cống
Bắc Đôngvới nhiệm vụ chính là ngăn
nước mặn chảy từ sông vào phía đồng.
4.
Kinh Chợ
Gạo (Tên cũ: Canal Dupérré)
Nối thẳng từ rạch Kỳ Hôn đến
Sông Tra, một nhánh ngắn của Sông Vàm Cỏ. Kinh
được đào lần đầu bằng
phương tiện thủ công vào năm 1875 với
chiều sâu 3 m, bề rộng 20 m, cuối năm 1876 khánh
thành. Năm 1913 kinh được vét sâu và mở rộng
bằng xáng với kích thước như hiện nay: sâu 5
- 7 m, rộng trung b́nh 100 m. Kinh Chợ Gạo dài 11.800 m,
phần lớn chiều dài thuộc huyện Chợ
Gạo, chỉ 2.000 m đầu phía Bắc chảy qua Xă
Đồng Sơn thuộc Huyện G̣ Công Tây. Kinh đă
được vét lại nhiều lần và hiện là
thủy lộ quan trọng nối Sông Tiền và Sông Vàm
Cỏ với số lượng tàu thuyền qua lại
rất cao. Hiện hai bờ kinh đă bị sạt lở
tại rất nhiều đoạn.
5.
Kinh N8 -
Rạch Lớn
Đây là kinh cấp 1, nhánh của Kinh 14, chạy
từ kinh nầy lên phía Bắc nối với rạch G̣
Công và nằm gọn trong địa phận Huyện G̣ Công
Tây. Kinh gồm 3 đoạn liền nhau: Đoạn
đầu là rạch Lớn từ Kinh 14 chạy về
phía Bắc thông với rạch Vàm Giồng, đoạn
giữa từ rạch Vàm Giồng nối với Kinh Tham
Thu tại vị trí đầu Kinh N8 và đoạn cuối
là Kinh N8. Hai đoạn đầu và cuối là kinh có
sẵn được vét sâu và mở rộng vào năm 1991
và 1993, đoạn giữa được đào mới
năm 1991. Cả ba hợp thành một tuyến dẫn
nước từ Kinh 14 ở phía Nam cấp cho phần
đất phía Bắc Quốc lộ 50 từ Lộ
Đồng Sơn đến rạch G̣ Công. Kinh cắt
ngang Quốc lộ 50 tại Cống Thạnh Trị,
tại đầu phía Bắc đă xây cống ngăn mặn
rạch Sâu vào năm 1996. Kinh dài tổng cộng 13.400 m;
đoạn rạch Lớn rộng 12 m, sâu 3 m; đoạn
N8 rộng 9 m, sâu 3 m.
6.
Kinh Nguyễn
Văn Tiếp (Tên cũ: Kinh Tổng
đốc Lộc)
Kinh Nguyễn Văn Tiếp là kinh dài nhất tỉnh
Tiền Giang, chảy qua 4 huyện là Cái Bè, Cai Lậy, Tân
Phước và Châu Thành. Tổng chiều dài của kinh
thuộc địa phận Tiền Giang là 65.900 m, trong
đó đoạn kinh từ rạch Ruộng chạy lên
phía Đông - Bắc được gọi là Nguyễn
Văn Tiếp B dài 20.400 m, đoạn rẻ về
phía Đông nối với Sông Vàm Cỏ Tây gọi là
Nguyễn Văn Tiếp A dài 45.500 m. Kinh Nguyễn Văn
Tiếp B cũng là một phần ranh giới giữa
Tỉnh Tiền Giang và Tỉnh Đồng Tháp. Bề
rộng kinh Nguyễn Văn Tiếp là 40 m, bề sâu trung b́nh
4 m. Kinh đă được vét lại nhiều lần,
gần đây nhất vào các năm 2000 để lấy
đất đắp bờ bao ngăn lũ. Năm 1993 tại
đầu vàm phía Đông trong địa phận Tỉnh
Long An, gần Sông Vàm Cỏ Tây, đă xây Cống rạch
Chanh với mục đích chính là ngăn nước
mặn xâm nhập từ sông nầy.
7.
Kinh Nguyễn
Tấn Thành (Tên khác: Kinh Xáng)
Kinh nầy nối từ Kinh Nguyễn Văn Tiếp
A, tại trung tâm Thị trấn Mỹ Phước của
Huyện Tân Phước xuống phía Nam, cắt qua Quốc
lộ 1A tại Cầu Kinh Xáng. Trước khi thông ra Sông
Tiền, kinh cắt Đường tỉnh 864 tại
cầu cũng có tên là Cầu Kinh Xáng. Kinh dài 19.300 m,
rộng 40 m, bề rộng tại vàm kinh lên đến 125
m, chiều sâu 5 m – 8 m so với mặt đất tự
nhiên. Kinh nầy ngoài chức năng giao thông thuỷ c̣n là
một trục thoát lũ quan trọng của tỉnh. Kinh
đă được vét nhiều lần, lần gần
đây nhất vào cuối năm 2000 để lấy
đất đắp bờ bao ngăn lũ.
8.
Kinh Tham Thu (Tên khác: Kinh Lộ 24)
Kinh dài 19.000 m, ở phía Bắc và chạy theo
hướng Tây - Đông song song với Tỉnh Lộ 24
(nay là Quốc lộ 50), được đào vào
đầu thập niên 1970 để dẫn nước
được bơm từ trạm bơm Tham Thu (phía Tây;
nguồn nước lấy từ Kinh Cả Hôn)
đến ao trữ của Nhà máy nước Thị xă G̣
Công (phía Đông, cũng gọi là ao Tham Thu), đồng
thời tưới cho một phần diện tích canh tác
dọc kinh. Sau đó, vào năm 1976 – 1977 trạm bơm B́nh
Phan với lưu lượng thiết kế lớn
hơn đă được xây dựng kề bên trạm
Tham Thu nhằm mở rộng diện tích được
tưới và tăng lượng nước cấp cho
thị xă G̣ Công, kinh Tham Thu cũng đă
được đào rộng ra với bề rộng
đáy là 13 m, bề rộng mặt trung b́nh 22 m. Lúc
đầu đáy kinh chỉ sâu trung b́nh 1,50 m dưới
mặt đất tự nhiên, 2 bờ kinh được
đắp cao xấp xỉ 2m trên mặt đất tự
nhiên để khi bơm có thể nâng mực nước
trong kinh cao hơn mặt ruộng từ 1m đến 1,50m,
đủ sức tưới tự chảy cho các ruộng
xa qua các kinh nhánh và cống điều tiết đầu
kinh mà không cần sử dụng thêm bơm nhỏ. Sau
nầy kinh từng bước được vét sâu thành
kinh ch́m: Các năm 1993, 2004 vét đoạn từ cống
Đồng Sơn (dưới lộ Đồng Sơn,
huyện G̣ Công Tây) đến ao Tham Thu, năm 1999 vét
đoạn từ trạm bơm đến Lộ
Đồng Sơn, cả hai đều vét sâu đến 3
m. Năm 2001 xây cống điều tiết B́nh Phan tại
vị trí gần trạm bơm, từ đây trạm bơm
ngưng hoạt động, nước vào Kinh Tham Thu qua
cống nầy, dân tự sử dụng bơm nhỏ
để đưa nước vào ruộng.
9.
Kinh Salisetti –
Kinh Champeaux
Kinh Salisetti được đào năm 1869 và kinh
Champeaux được đào năm 1870. Hai kinh nối
liền nhau và là một đoạn trong trục dẫn
nước chính của vùng ngọt hóa G̣ Công. Tuyến kinh
chạy song song với đường tỉnh 862, nối
từ rạch Vàm Giồng, đoạn Nam thị xă G̣ Công,
đến xă Tân Thành của huyện G̣ Công Đông, chỗ
gần đê biển. Hai kinh dài 13.000 m, rộng trung b́nh 18
m, sâu 3 m và đă được vét nhiều lần, gần
đây nhất vào năm 1999 đă vét đoạn Champeaux
từ Tân Ḥa đến Tân Thành.
10.
Kinh Trần
Văn Dơng
Kinh nầy là đoạn cuối của trục
dẫn nước chính cho vùng ngọt hóa G̣ Công, nối
từ Kinh Salisetti chạy theo hướng Đông - Đông
- Bắc cắt ngang qua đường huyện 13 tại
cầu Vạn Thắng rồi rẻ thẳng về
hướng Đông thông ra Biển Đông sau khi qua cống
rạch Bùn. Kinh dài 10.500 m, rộng 25 m, sâu 4 m so với
mặt đất tự nhiên. Kinh đă được vét
lần gần đây nhất vào năm 1987.
11.
Kinh Xóm
Gồng
Đây là kinh cấp 1, nhánh của kinh chính Trần
Văn Dơng, chạy từ kinh nầy về phía Bắc và
thông với Sông Vàm Cỏ. Tại đầu phía Bắc
đă xây cống cùng tên vào năm 1991-1992. Kinh
được h́nh thành vào năm 1991-1992 bằng việc
đào nối các đoạn kinh đă có sẵn để
cấp nước cho khu vực thường bị
hạn ở cuối nguồn của vùng ngọt hoá G̣ Công
như các xă Tân Phước, Gia Thuận, Vàm Láng, Kiểng
Phước, Tân Tây, Tân Đông của huyện G̣ Công
Đông. Kinh dài 12.800 m, sâu 3 m, rộng 13 m – 15 m. Kinh đă
được vét lại năm 1998.
12.
Kinh Xuân Hoà
Kinh nầy là đoạn đầu của trục
dẫn nước chính gồm nhiều đoạn của
vùng ngọt hóa G̣ Công. Kinh dài 8.650 m nối từ sông
Tiền đến rạch Cầu Ngang (xem mục từ
nầy), qua 2 xă Xuân Đông và Hoà Định của
huyện Chợ Gạo. Điểm đầu kinh nối
với sông Tiền cách Cửa Tiểu theo đường
thủy là 42,5 km. Kinh đă được đào xong giai
đoạn 1 vào năm 1982 với bề rộng 24 m, sâu 4
m. Theo dự án, kinh phải đủ khả năng
tải nước tưới cho trên 37.000 ha, v́ vậy
trong tương lai kinh sẽ được mở
rộng hơn. Tại đầu kinh phía Sông Tiền đă
xây một cống lớn là cống Xuân Hoà, đây là công
tŕnh đầu mối của cả vùng ngọt hóa G̣
Công.
Ao có tên nầy v́ khi xưa nó được bao
bọc bởi một đường đất rộng 5
m chạy theo tuyến h́nh tṛn chu vi 3.000 m do người Pháp
cho đắp để đua ngựa. Về sau
trường đua bị dẹp bỏ, ao dùng trữ
nước mưa phục vụ nhu cầu sinh hoạt
của dân trong thị xă G̣ Công. Trước khi có nhà máy
nước G̣ Công và kinh Tham Thu, vai tṛ của Ao
Trường Đua rất quan trọng v́ khi ấy
nước trong kinh, rạch quanh thị xă G̣ Công bị
nhiễm mặn phần lớn thời gian trong năm. Ao
h́nh vuông, mỗi cạnh dài 100 m, hiện nằm trong
phạm vi thị xă, kề bên đường tỉnh 862
đi Tân Ḥa, Tân Thành. Năm 1999 bờ ao đă
được lát đá hộc, quanh ao xây lan can.
Giếng nước Mỹ Tho là một hệ
thống gồm 2 giếng được đào với
mục đích trữ nước cấp cho Thành phố
Mỹ Tho:
- Giếng nhỏ nằm kề sông Tiền giới
hạn bởi các đường xe lửa (Bắc, nay là
Lư Thường Kiệt), Doudard de Lagrec (Đông, nay là Yersin),
đường tỉnh số 26 (Nam, nay là Lê Thị
Hồng Gấm) và đường Tết Mậu Thân
hiện nay (Tây). Giếng nhỏ dài trung b́nh 190 m, rộng 85
m.
- Giếng lớn ở ngay phía Bắc giếng
nhỏ, kéo dài từ đường Lư Thường
Kiệt (Nam) đến đường Ấp Bắc
hiện nay (Bắc), phía Tây và Đông vẫn là
đường Tết Mậu Thân và Yersin. Chiều dài
giếng lớn là 800 m, bề rộng như giếng
nhỏ.
-Giếng nhỏ thông với Sông Tiền qua một
cống ngầm dưới đường Lê Thị
Hồng Gấm và 2 giếng thông nhau cũng bằng một
cống ngầm dưới đường Lư
Thường Kiệt. Trước đây nước
từ sông được lấy trữ trong giếng
nhỏ để lắng bớt phù sa sau đó cho vào
giếng lớn và cấp cho nhà máy nước. Hiện nay
nhà máy đă không c̣n lấy nước từ giếng
nữa, tuy vậy nước ngoài sông vẫn
được cho vào, chủ yếu để tạo
cảnh quan đô thị.
Đến năm 1988 bờ giếng lớn phía
đường Ấp Bắc và đường Lư
Thường Kiệt bị xói lở dần ảnh
hưởng đến sự ổn định của
đường, v́ vậy hai đầu giếng lớn
đă được lấp cạn một đoạn khá
dài để vừa gia cố đường vừa h́nh
thành công viên. Năm 1998-1999 mái bờ của 2 giếng
được lát đá hộc, quanh giếng xây lan can
như hiện nay.
Ao nằm ở trung tâm của một quần thể
có diện tích ban đầu khoảng 100 ha với mặt
nước và các giống loài cây, con đặc trưng cho
Đồng Tháp Mười. Ao được đào vào
năm 1999 tại Xă Thạnh Tân thuộc Huyện Tân
Phước theo một dự án bảo tồn sinh thái
của tỉnh. Ao có h́nh dạng gần như ellip,
trục lớn dài 50 m, trục nhỏ 30 m, sâu 3,50 m và
nối với kinh vành đai rộng 50 m qua 4 kinh nhỏ
xếp thành h́nh chữ thập.
Ao được đào năm 1993 ngay phía Bắc
đường tỉnh 871, cách chợ xă Vàm Láng huyện G̣
Công Đông 1.400 m về phía Tây, kinh phí do Cộng
đồng Châu Âu tài trợ. Ao dài 200 m, rộng 100 m, sâu 3 m
nhằm trữ nước mưa và nước ngọt
lấy từ kinh Xóm Gồng cấp cho khu vực đông
dân ở trung tâm xă.
Nguồn: www.tiengiang.gov.vn