CÙ
LAO PHỐ
BS
Trần Nguơn Phiêu
Trong lịch sử mở rộng bờ cỏi đất nước Việt Nam, cuộc Nam Tiến đã thật sự thành
công khi vùng đất Đồng Nai-Gia Định đã được tiền nhân gia công củng cố phát
triển. Từ nơi đây, một đầu cầu vững chắc đã được hình thành, để từ đó bung ra
khai thác toàn vùng đồng bằng Sông Cữu.
Vùng đất miền Nam đã thành hình trong lịch sử Việt Nam chỉ vào khoảng 400 năm,
kể từ thế kỷ XVII. Trước thế kỷ thứ VI, đây là một vùng đất hoang vu thuộc Vương
quốc Phù Nam. Trường Viển Đông Bác Cổ, sau cuộc khám phá các di tích ở Óc Eo,
vùng núi Ba Thê (Châu Đốc) năm 1944 đã gọi thời này là nền văn minh Óc Eo. Sau
thế kỷ thứ VI, sắc tộc Kambuja từ miền Bắc tràn xuống đã phá tan vương quốc Phù
Nam và thành lập vương quốc Chân Lạp. Vương quốc Chân Lạp đã nổi tiếng vì sự
nghiệp xây dựng một kỳ công kiến trúc: đền đài Angkor vào thế kỷ XII! Vương quốc
Chân Lạp đã suy yếu vì những cuộc tranh dành nội bộ cộng với sự lấn chiếm của
lân quốc Xiêm. Họ đã phải ba lần dời đô, từ bỏ Angkor để qua Oudong và sau cùng
dừng lại ở Phnom Penh.
Năm 1620, với ý định tìm đồng minh liên kết để chống trả vương quốc Xiêm, vua
Chey Chetta II đã đến đất Thuận Hóa, xin cầu hôn cưới công chúa Nguyễn Ngọc Vạn,
con của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Công chúa Ngọc Vạn đã trở thành Hoàng hậu
Ang Cuv hay Sam Đát đất Chân Lạp. Chuyện cưới gả này cũng là dịp để Chúa Nguyễn
có thêm được tiềm lực tài nguyên trong cuộc phân tranh với chúa Trịnh ở Bắc.
Cuộc Nam Tiến đã thực sự khởi tiếp để kết thúc ở miền Nam nhờ ở sự kết hôn của
công chúa Ngọc Vạn. Việc này cũng có thể coi như sự lập lại của lịch sử trước
kia, khi nhà Trần gả công chúa Huyền Trân về vương quốc Chàm để lấy đất hai châu
Ô, Rí!
Tháp tùng công chúa Ngọc Vạn là một số tùy tùng thân tín theo để phục vụ. Lịch
sữ ghi nhận công chúa Ngọc Vạn, nay là hoàng hậu Sam Đát đã xử sự rất khéo và
rất được lòng hoàng tộc Chey Chetta. Sau cuộc hành quân năm Mậu Tuất (1658) của
chúa Nguyễn Phước Nguyên vào Môi Xuy (Bà Rịa), vua Nặc Ông Chân mới chịu thuần
phục Chúa Nguyễn và đồng ý cho người Việt đến sinh sống trên đất mình. Chúa
Nguyễn lại khuyến khích dân Thuận Quảng di vào đất Chân Lạp khẩn hoang, lập ấp,
biến miền đất hoang phế, ít ỏi dân cư này càng ngày càng thêm trù phú.
Năm 1679, một sự kiện mới lại làm cho cuộc Nam Tiến đợt này thêm phần đột khởi:
cuộc di dân của hơn ba ngàn quan binh Trung Hoa, gốc Quảng Đông- Phước Kiến,
trung thành với Minh triều, không chấp nhận sống dưới triều Mản Thanh. Xuôi về
Nam trên 50 chiến thuyền, họ đã đến xin chúa Nguyễn Phúc Tần chấp nhận cho nơi
cư trú. Chúa Nguyễn ưng thuận cho họ đến khai khẩn đất miền Nam. Nhóm di dân này
đã chia làm hai: một nhóm do tướng Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình hướng
dẫn đã chọn vùng Đồng Nai- Gia Định để khai khẩn. Nhóm thứ hai do Dương Ngạn
Địch, Hoàng Tiến chỉ huy đã tiến xa hơn, chọn vùng Mỹ Tho- Cao Lãnh làm đất
dung thân.
Trần Thượng Xuyên và các bộ hạ đã chọn vùng Cù Lao Phố để thành lập và phát
triển thành Nông Nại Đại Phố, một thương cảng sầm uất, tấp nập thương thuyền
buôn bán với người nước ngoài như Nhật Bản, Trung Hoa, Ấn Độ, Mã Lai, Nam
Dương... Là một cấp chỉ huy có tầm nhìn xa, Trần Thượng Xuyên đã thấy vùng đất
này có nhiều tiềm năng về nông nghiệp và thương nghiệp vì thuận lợi giao thông
thủy bộ. Ông đã huy động sức người và của cải để thương cảng Nông Nại Đại Phố
thành một trung tâm thương mại danh tiếng vào bật nhất ở phương Nam vào thời bấy
giờ. Khúc sông Đồng Nai, vùng Cù Lao Phố từ đó, đã được biết với danh xưng mới:
Sông Phố.
Cù
Lao Phố mang nhiều tên gọi khác nhau. Ngoài tên Nông Nại Đại Phố, còn có các
tên: Đông Phố, Giản Phố, Cù Châu, Bải Rồng. Đối với người dân đất Đồng Nai hiện
nay, Cù lao Phố là một địa danh quen thuộc, mọi người đều biết. Đây là một hòn
đảo phù sa, nằm gọn giữa hai cánh tay sông Đồng Nai. Quốc lộ số 1 ngày trước
cũng như đường xe lửa xuyên Việt đều băng qua cù lao này qua hai chiếc cầu: Cầu
Gành bốn nhịp về phía Nam và Cầu Rạch Cát về hướng Bắc.
Sách Đại Nam Nhất Thống Chí đã ghi nhận cảnh phồn thịnh của Cù Lao Phố
ngày trước như một nơi hưng thịnh, thu hút nhiều cư dân đến từ miền Trung. Nhà
mái ngói, tường vôi, lầu cao, quán rộng. San sát bên bờ sông là các nhà gổ hai
từng, nối liền năm dậm. Ngoài việc xây cất nhà cửa, chợ búa, phát triển các nghề
trồng trọt, thủ công nghiệp, Trần Thượng Xuyên còn cho xây ba loại đường rộng,
bằng phẳng, đến nay vẫn còn. Con đường giữa theo chiều dài cù lao lót đá ong đỏ,
dài độ 4 km, từ chùa Đại Giác đến bến đò Kho. Đường thứ hai, xây ngang cù lao,
lót đá trắng chặt con đường giữa cạnh chợ Hiệp Hòa đi đến bến đò Tân Vạn. Con
đường thứ ba, lót đá xanh bao quanh cù lao thì hình như đã biến mất dạng, nay
chỉ còn vài dấu tích.
Trần Thượng Xuyên ngoài biệt tài tổ chức khai khẩn vùng đất hoang vu thành một
thương cảng phồn thịnh, lại cũng là một dũng tướng đã giúp Chúa Nguyễn trong
nhiều trận đánh dẹp Cao Miên, mở rộng biên cương miền Nam. Năm 1690, ông đã cùng
với Mai Vạn Long đánh bại và bắt được Nặc Ông Chân, chiếm Nam Vang, Gò Bích, Cầu
Nam. Năm 1700, ông đã giúp Nguyễn Hữu Cảnh tiến đánh vua Chân Lạp lần thứ hai.
Sau cuộc hành quân này, biên cương Đàng Trong đã được mở rộng thêm từ Biên Trấn,
Phiên Trấn đến tận Định Tường, Long Hồ và An Giang. Năm 1715 ông cùng với Nguyễn
Cửu Phú đánh Nặc Ông Thâm và chiếm được thành La Bích. Chúa Nguyễn đã ban cho
ông danh hiệu "Nguyễn vi vương, Trần vi tướng, đại đại công thần bất tuyệt".
Năm 1720, Trần Thượng Xuyên qua đời, được phong Thượng đẳng thần, được tôn thờ ở
đình Tân Lân, xây bên bờ sông Đồng Nai, cạnh chợ Biên Hòa. Hằng năm dân chúng
vùng này vẫn lấy ngày ông mất tức 23 tháng 10 âm lịch để làm ngày giổ Đức Ông.
Trong các công thần nhà Nguyễn có công khai khẩn mở mang bờ cỏi miền Nam, phải
nhắc đến Nguyễn Hữu Cảnh. Năm 1698, Chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược
phương Nam. Viên Thống suất này đã chọn Cù Lao Phố làm nơi đặt tổng hành dinh.
Tại bản doanh này, ông đã thiết lập cơ sở hành chánh, ổn định đời sống dân chúng
bằng cách tổ chức phủ, huyện, tổng, xã, thôn của các vùng Phước Long, Biên Trấn.
Việc quy định khai khẩn ruộng đất, lập sổ bộ đinh, điền, thuế má đã giúp cho
Chúa Nguyễn có thêm nguồn lợi thu thập. Ông đã có sáng kiến khuyến khích dân
chúng các miền Quảng Nam, Quảng Ngãi vào khai khẩn ruộng đất, lập vườn tược,
thành lập nhiều làng mạc trù phú. Những nghề thủ công đã phát triển mạnh như đúc
đồng, làm đồ gốm, đồ mộc, nấu đường.v.v..., những loại hàng hóa được các thương
thuyền ngoại quốc ưa chuộng, thu mua xuất cảng.
Tháng 7 năm 1699, Nặc Thu, vua Chân Lạp chống chúa Nguyễn. Nguyễn Hữu Cảnh đã
được cử đi đánh dẹp, khiến Nặc Thu phải xin hàng phục vào tháng 4 năm 1700. Sau
khi chiến thắng, trên đường rút về, khi đóng quân ở cồn Cây Sao (về sau được gọi
là Cù lao Ông Chưởng, An Giang), ông lâm trọng bịnh và đã mất khi về đến Rạch
Gầm. Linh cữu được đưa về bản doanh Cù Lao Phố và an táng ở thôn Bình Hoành, nay
được đổi tên thành thôn Bình Kính. Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, được dân địa phương
gọi là Đình Bình Kính, nằm gần Quốc lộ 1, giữa Cầu Gành và Cầu Rạch Cát, mặt
tiền day xuống dòng Đồng Nai. Hằng năm, ngày 16 tháng 5 âm lịch là ngày giổ được
long trọng tổ chức để ghi ơn của một công thần khai quốc. Danh ông đã được dân
gian miền Nam đời đời ghi nhớ qua câu hát ru em:
Bao phen quạ nói với diều:
Cù
lao Ông Chưởng có nhiều cá, tôm
Việc Trần Thượng Xuyên cầm binh giúp Chúa Nguyễn lại trở thành một tai họa khi
xãy ra cuộc chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Trong khoảng những năm 1776- 1779,
Cù Lao Phố đã bị tàn phá trong các cuộc giao tranh. Nhà cửa, tiệm buôn, phố xá,
kho chứa hàng đều bị thiêu đốt. Đường xá bị đào bới, các cơ sở thủ công tan
tành. Dân chúng bị tàn sát, thây lấp hết giòng sông quanh cù lao, nước đỏ ngào
vì máu. Đến cả tháng sau, những người sống sót không ai dám dùng nước ở sông vì
ô nhiểm! Cả một vùng thương cảng sầm uất đã thành chiến địa tan hoang. Những
người Hoa còn sống sót đã bồng bế nhau lánh nạn về Bến Nghé và là những người đã
gầy dựng lại sự nghiệp, thành lập vùng Chợ Lớn về sau này!
Trong quá trình di dân vào Đàng Trong, về mặt tín ngưởng, phải nhắc đến sự kiện
về ba nhà sư, đệ tử của Tổ sư Nguyên Thiều ( người gốc Quảng Đông): Thành
Nhạc, Thành Đẳng và Thành Chí. Ba nhà sư này đã khởi công sáng lập ba ngôi
chùa nay vẫn còn nổi danh ở Đồng Nai. Sư Thành Nhạc cùng các đệ tử đã lập
chùa Long Thiền ở xã Bửu Hòa, ven sông Đồng Nai. Sư Thành Đẳng đã chọn Cù
Lao Phố để dựng chùa Đại Giác và sư Thành Chí đã lên vùng núi đá Bửu Long
xây dựng chùa Bửu Phong.
Chùa Đại Giác khi được dựng lên, chỉ là một ngôi chùa nhỏ, cột cây, vách ván,
lợp ngói âm dương. Trong cuộc chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, vào năm 1779,
công chúa thứ ba của Nguyễn Ánh là Nguyễn Thị Ngọc Ánh trong cơn binh lửa, đã có
lần đến ẩn náo tại chùa Đại Giác. Khi Gia Long lên ngôi, nhớ đến ơn ngày trước,
vua đã ban chiếu cho trùng tu năm 1802. Đến năm 1820, vua Minh Mạng cũng tiếp
tục cho sửa rộng lớn hơn. Công chúa Ngọc Ánh đã cúng dường một bức hoành phi sơn
son thếp vàng có khắc ba chữ "Đại Giác Tự". Bên trái khắc "Minh Mạng nguyên
niên, mạnh đông cốc nhật", bên phải khắc "Tiên triều Hoàng nữ đệ tam công
chúa Nguyễn Thị Ngọc Ánh phụng cúng". Tấm hoành phi này đến ngày nay vẫn
được treo trước chánh điện. Qua nhiều đợt trùng tu về sau này, chùa mới có thêm
lầu chuông và lầu trống. Vì thế, tuy chùa có tiếng là "cổ tự" nhưng nay lại có
kiến trúc hoàn toàn mới.
Chùa Đại Giác, chùa Bữu Phong và chùa Long Thiền là ba ngôi chùa chứng tích cho
bước Nam Tiến của nửa đầu thế kỷ thứ XVII.
Ba nhà sư : Thành Đẳng, Thành Chí, Thành Nhạc thuộc dòng Lâm Tế của tổ Nguyên
Thiều đã có công đức thành lập ba trung tâm Phật giáo đầu tiên ở đất Đồng Nai.
Việc hoằng dương giáo pháp đã được truyền đi các tỉnh miền Nam từ ba trung tâm
sơ khời này.
Nhắc đến các đền, chùa ở Cù Lao Phố, không thể không kể đến một ngôi chùa đặc
biệt, nằm cách bên phía tay phải chùa Đại Giác khoảng một trăm thước. Chùa có
tên là chùa Chúc Đảo, nay được mang tên là chùa Chúc Thọ; nôm na lại có
tên gọi chùa Sau nhưng dân gian vẫn thường gọi là chùa Thủ Huồng. Người sáng lập
chùa là một nhân vật có thật, tên Võ Thủ Hoàng. Có lẽ vì dân chúng Đàng Trong
không dám phạm húy đến tên chúa Nguyễn Hoàng nên tên Thủ Hoàng được gọi trại
thành Thủ Huồng? Võ Thủ Hoàng là một thư lại ở đất Đồng Nai vào đầu thời Chúa
Nguyễn. Nhờ xử dụng các thủ đoạn xảo trá, Thủ Huồng đã lươn lẹo chiếm đoạt được
nhiều tài sản của dân chúng, cho vay nặng lãi v.v...nên đã trở thành bá hộ. Có
nhiều huyền thoại được truyền tụng trong dân gian nhưng đại để câu chuyện là Thủ
Huồng đã có dịp gặp được một người đi thiếp xuống địa ngục (có chuyện lại kể là
chính ông đã được dịp đó) và thấy ở dưới đang có sẳn một gông lớn dành cho Thủ
Huồng! Thủ Huồng đã ăn năn hối cải, đem của bố thí cho người nghèo, bán ruộng
vườn để cúng dường chùa chiền, giúp đở thôn xóm. Ông đã dùng gia sản dựng lên
chùa Chúc Đảo ở Cù Lao Phố, thiết lập một chiếc bè lớn có đầy đủ nồi niêu, gạo,
mắm cho ghe thuyền lỡ độ đường ngược nước có chỗ nghỉ ngơi ở ngã ba sông Đồng
Nai và sông Sài Gòn. Ngã ba có chiếc bè của Thủ Huồng đến nay vẫn còn được gọi
là Ngã ba Nhà Bè, một địa danh đã đi vào lịch sử với câu hò:
Nhà Bè nước chảy chia hai:
Ai
về Gia Định, Đồng Nai thì về...
Bên dòng sông Đồng Nai, gần cầu Gành, còn một di tích lịch sử được dựng lên từ
thuở Trần Thượng Xuyên. Đó là đền thờ Quan Thánh, một vị thần mà các cộng
đồng Trung Hoa rất tôn sùng. Dân chúng Cù Lao Phố gọi nơi đây là Chùa Ông và
thường đến lễ bái. Đền có tiếng rất linh thiêng với những tượng rất cổ. Tuy xa
xôi nhưng hằng năm, rất nhiều người Hoa từ Chợ Lớn- Sài Gòn vẫn thành kính đem
lễ vật lên dâng cúng và đồng thời cũng tìm được dịp để sống những phút thư thả
trong cảnh trí rất đẹp của đền xây cạnh bờ sông Đồng Nai. Ngày Mùng Ba Tết năm
1975, tác giả bài này đã đến viếng đền và theo thông lệ cổ truyền, đã cầu xin
một quẻ đầu năm. Trong xâm, Quan Thánh cho biết "Trong năm có nạn lớn, đi về
hướng Đông sẽ thoát". Cũng vì lẽ đó nên khi miền Nam bị lấn chiếm, tác giả
đã theo lời Ông chỉ bảo, chọn đường biển Đông qua Mỹ thay vì trở qua đất Pháp là
nơi đã có một thời du học!
Di
tích lịch sử văn hóa Đồng Nai- Gia Định đến nay còn biết được chính xác, phần
lớn phải nhờ đến công trình biên soạn của một danh nhân khác của thời lập quốc,
một nhân vật đã được người dân Biên Hòa tôn kính: Trịnh Hoài Đức. Ông gốc
người Minh hương, sanh năm 1765 ở Bình Trước, Biên Hòa, đã từng thọ giáo với Võ
Trường Toản. Ông đã được vua Gia Long trọng dụng sau khi thi đổ ở Huế, đảm nhận
việc dạy Đông cung Cảnh, được cử làm thượng thư hai bộ Lại và Binh, nhiều lần
làm Chánh sứ sang Trung Quốc. Ngoài các tập thơ Cẩn Trai thi tập và Bắc Sứ thi
tập, ông đã viết bộ địa chí gồm sáu quyển, biên khảo rất công phu về lịch sử,
địa dư, phong tục, nền hành chánh...miền Nam: bộ Gia Định Thành Thông Chí.
Tài liệu này đã được phiên dịch ra Pháp ngử và xuất bản năm 1863 ở Paris. Đây là
một công trình biên khảo vô giá cho những sử gia muốn nghiên cứu về miền Nam.
Trịnh Hoài Đức mất năm Ất Dậu thời Minh Mạng, thọ 60 tuổi. Mộ đến nay vẫn còn ở
xã Bình Trước (Biên Hòa) và được tôn thờ ở chùa Gia Thạnh (Chợ Lớn), chùa của
người Minh hương, thờ vua Gia Long và các công thần người Minh.
Cù
Lao Phố, một địa danh đã một thời nổi tiếng với tên Nông Nại Đại Phố, tóm lại
phải được coi như một nơi xuất phát quan trọng trong việc hoàn thành cuộc Nam
Tiến. Mặc dầu vùng này vẫn được biết như một vùng đất mới, dân cư thưa thớt khi
Chúa Nguyễn cho người vào khai thác, nhưng theo các nghiên cứu khảo cổ, người
tiền sử đã hiện diện trên vùng đất Đồng Nai cả ngàn năm về trước. Để tự bảo vệ
với thú dử, người tiền sử thường tìm nơi trú ẩn ở các hang động, các cù lao trên
sông. Trên các cù lao như cù lao Rùa, cù lao Gáo ...dọc sông Đồng Nai, các dụng
cụ bằng đá mài như búa, dao vẫn thường được tìm thấy.
Năm 1927, một kỷ sư Pháp tên Jean Bouchot đã phát hiện một ngôi mộ đá khi mở con
đường số 2 từ Long Khánh đến Bà Rịa, cách ngã ba Tân Phong độ 3 km. Trường Viễn
Đông Bác Cổ đã được thông báo. Việc khai quật đã được giao cho Jean Bouchot và
chủ đồn điền cao su tên W. Bazé. Lực lượng lao động được xử dụng phần lớn là các
tội phạm nên việc làm đã không đúng với các nguyên tắc khai quật. Tuy nhiên, J.
Bouchot là một kỷ sư nên đã ghi chú cẩn thận các chi tiết đào bới. Đây là một
ngôi mộ, được gọi là Mộ cổ Hàng Gòn, bằng đá hoa cương được mài dũa, dài
4,20 m, ngang 2,70 m, cao 1,60 m. Sáu tấm đá được mài dũa ở mặt ngoài đã được
ghép thành một hộp vuông dài, được giữ chặt nhờ hệ thống rãnh 10 cm đục trong
đá, sâu 4 đến 5 cm. Hai bên mộ còn có hai hàng trụ đá hoa cương và sa thạch cao
7,50 m. Trên đầu các trụ đều được khoét lõm, hình yên ngựa. Các nhà khảo cổ danh
tiếng trên thế giới như H. Parmentier đã quan tâm đến quan sát. Các nhà khoa học
đã khẳng định, đây là mộ cổ loại hình dolmen, nhưng so với kiến trúc
Mégalithique ở Đông Nam Á, thường có hình thức thô sơ, thì mộ Cự Thạch Hàng Gòn
của những người Việt cổ lại là một thành tựu độc đáo về kỷ thuật và nghệ thuật.
Một phát hiện khảo cổ quan trọng khác đã chứng minh sự hiện diện của người cổ
Việt ở miền Nam từ nhiều ngàn năm trước. Đó là việc tìm được một nhạc khí độc
đáo: đàn đá. Năm 1949, một bộ đàn đá đầu tiên được tìm thấy ở buôn Ndút Lieng
Krak ở cao nguyên Daklat. Giáo sư G. Condominas, chuyên khảo về nhân chủng học
và Giáo sư âm nhạc André Schaseffner đã công bố về phát hiện khảo cổ này ở Paris
ngày 6 - 6- 1950. Bộ đàn đá này hiện đã được bảo tồn ở Bảo tàng viện Louvres.
Nhà nghiên cứu nhạc Trần Văn Khê đã có lần xin được quan sát bộ đàn đá này ở
Louvres nhưng chỉ được xem hình chụp và nghe tiếng nhạc qua băng ghi âm mà thôi!
Đến năm 1970, một bộ đàn đá thứ hai được phát hiện ở làng Bù Dơ, tỉnh Lâm Đồng.
Có lẽ vì chánh quyền Việt trong thời chiến, không chú trọng nhiều về các di tích
lịch sử nên một người Mỹ đã đem bộ đàn đá này về tặng cho viện Bảo tàng Los
Angeles lưu giữ!
Đến ngày 13 tháng 12 năm 1979, nhân một cuộc khai quật khảo cổ ở Bình Da, thành
phố Biên Hòa, tình cờ, một bộ đàn đá đủ 47 thanh đã được phát hiện khi đào sâu
đến độ 65 cm! Có thể coi đây là một ngày trọng đại về lịch sử khảo cổ, chứng
minh vùng Đồng Nai cũng như vùng Nam Tây Nguyên đều thuộc một vùng văn hóa đặc
thù, văn hóa đàn đá, khác với vùng văn hóa trống đồng ở lưu vực sông Hồng và
sông Mã ở miền Bắc. Những mẩu tro, xương cạnh bộ đàn đá Bình Da đã được gởi sang
thử nghiệm ở Đức và phản ứng phóng xạ carbone C 14 đã xác định niên đại đàn đá
Việt Nam ở độ 3180 năm. Vài năm sau 1979, di tích đàn đá cũng đã được phát hiện
nhưng không trọn vẹn ở Gò Me, cách xa Bình Da độ 3 km về hướng Tây.
Sông Đồng Nai là một con sông nước rất trong, so với nước đục phù sa của sông
Cữu Long. Ngày thường mặt sông trông rất hiền hòa nhưng mỗi năm đến mùa nước đổ,
sông trôi cuồn cuộn, cuốn cành khô củi mục từ trên rừng xuống, thường gây lụt
lội bất ngờ. Vì vậy nên mỗi năm, mặt đất thường được phủ lên bằng lớp đất mới.
Tác giả bài này đã lớn lên ở ấp Phước Lư, một ấp nhỏ bên bờ Rạch Cát là con rạch
bao quanh Cù Lao Phố về mặt Bắc. Nhà vườn ở cạnh di tích chân cầu Rạch Cát ngày
xưa, nay chỉ còn lại hai vệ cầu rất dày, xây bằng đá xanh. Bên kia bờ sông, ở Cù
Lao Phố cũng còn di tích hai vệ cầu đối diện. Năm 1945, nhân dịp cần phải đào
mương rộng chung quanh vườn để đem nước tưới đất, các người giúp việc đào đã
cuốc gặp vô số móng sắt đóng chân ngựa, bàn đạp và phụ tùng yên, cương thắng
ngựa, các lưởi giáo, mác bằng kim khí đã hư hao, rỉ sét.... Đây là bải chiến
trường ngày xưa nên các di vật trên đã được gom thành nhiều đống, đem bán lại
cho những người thâu mua sắt vụn!
Cù
Lao Phố là một vị trí có thể được người tiền sử chọn làm nơi di trú. Hi vọng
trong tương lai sẽ có những cuộc khảo cổ, khai quật trong lòng đất nhiều phát
hiện mới. Trần Thượng Xuyên. khi đến đất Nông Nại đã chọn ngay nơi đây làm chổ
dừng chân vì ông là một danh tướng dũng lược có tầm nhìn ước đoán xa. Nông Nại
Đại Phố do ông thành lập đã có một thời vang tiếng ở phương Nam. Sau khi bị đổ
nát trong cuộc chiến Nguyễn Ánh - Nguyễn Huệ, những người có óc kinh doanh lớn
đã di chuyển để lập thành vùng Chợ Lớn trù phú, nhưng một số người bình dân vẫn
bám trụ gầy dựng lại đời sống ở miền đất cù lao dễ sinh sống này. Một cộng đồng
mới lại được củng cố thành lập, một cộng đồng có sắc thái riêng biệt, được người
vùng Đồng Nai chú trọng. Cù lao Phố được tiếng là một nơi rất an cư, dân chúng
sống kỷ luật, một lòng một dạ. Trộm cướp đã tránh không dám dòm ngó đến nơi nầy
vì họ đã biết: theo tiền lệ, khi được tin có gian phi xâm nhập, cả làng đều thức
dậy đốt đuốc giữ khắp mặt sông. kiểm soát hai đầu cầu Gành và cầu Rạch Cát. Nếu
kẻ trộm cướp bị bắt được với đầy đủ tang chứng, dân làng sẽ họp lại để quyết
định kết tội: cột đá vào kẻ gian phi và đem ra giữa Cầu Gành, xô xuống sông Đồng
Nai! Theo một vài bô lảo thuật lại, thời Pháp chiếm đóng, nghe được tin có kẻ
cướp đã bị dân làng Hiệp Hòa xử như thế, viên tỉnh trưởng đã phái một cảnh sát
Pháp đến làng điều tra. Gặp tình trạng cả làng đồng lòng cùng nhau kéo đến trụ
sở làng phản đối, bảo rằng "không nghe gì. không thấy gì, không biết gì cả",
viên cảnh sát đã ớn, trở về tường thuật lại với tỉnh trưởng và ông này cũng chấp
nhận "không nghe gì, không thấy gì, không biết gì" cho xong chuyện.
Khoảng hơn sáu mươi năm về trước, người dân vùng Cù Lao Phố, cũng như phần lớn
các nơi khác ở miền Nam, rất ít gia đình có sắm được đồng hồ để theo dỏi giờ
giấc. Buổi sáng tin sương, khi bắt đầu nghe tiếng gà gáy, những người buôn bán
phải thức sớm để chuẩn bị gánh hàng ra các chợ, những thợ rừng chèo ghe đi đốn
củi ở rừng Vĩnh Cữu, những công nhân làm ở nhà máy cưa Tân Mai, các công, tư
chức phải ra ga đón chuyến xe sớm đi làm việc ở Sài Gòn...người người thường cố
nằm thêm để chờ nghe được hồi chuông công phu khuya của chùa Đại Giác. Đến khi
đó họ mới thật sự thức dậy chuẩn bị cho một ngày lao động mới. Trong không khí
êm ả buổi sáng, tiếng chuông chùa cổ chầm chậm ngân dài trên sóng nước dòng Sông
Phố, như để thức tỉnh lòng người. Đến buổi tối, tiếng động vang rền của đoàn xe
lửa cuối cùng trong ngày, chuyến tốc hành xuyên Việt, khởi hành từ Sài Gòn khi
vượt qua hai cầu sắt Cù Lao Phố vào lúc 9 giờ đêm là một báo hiệu để nhà nhà tắt
đèn đi nghỉ.
Từ
ngày mở xa lộ Sài Gòn- Biên Hòa, khúc Quốc lộ 1 xuyên qua Cù Lao Phố không còn
được xe cộ chiếu cố như trước. Sự di chuyển qua hai cầu Gành và Rạch Cát đã thưa
vắng trở lại. Dân chúng đã tìm lại được nhịp sống bình thản ngày trước, chỉ trừ
việc hai chiếc cầu vẫn được canh gác nghiêm nhặt, ghe thuyền không được phép di
chuyển trên sông ban đêm. Không biết hiện nay, cảnh nghiêm cấm còn duy trì
không, vì nay đất nước đã thanh bình ?
Ước mong sao thế hệ trẻ ngày nay của Cù Lao Phố cũng được hưởng lại cái thú thả
thuyền trên Sông Phố vào các dịp sáng trăng hoặc đêm đêm hẹn hò ra hóng mát
chuyện trò, thề non hẹn biển trên Cầu Gành bốn nhịp!
Trần Nguơn Phiêu
(Viết tặng Giáo sư Trần Thượng Thủ,
hậu duệ đời thứ XII của Trần Thượng Xuyên,
nhân ngày giổ Đức Ông: 23 tháng 10 âm lịch, năm Giáp Thân, 2004)