ĐỒNG THÁP MƯỜI
Trần Ngươn Phiêu
Đồng Tháp Mười là một
địa danh quen thuộc đối với những
người sanh trưởng ở miền Nam. Tuy nhiên,
số người thật sự có cơ hội
đặt chân lên vùng xa xôi này hay được sinh
sống trên phần đất này có thể nói là rất ít.
V́ vị trí đặc biệt, thiếu phương
tiện đường sá lưu thông nên Đồng Tháp
Mười vẫn được coi là một vùng
đất hẻo lánh, nhiều bí ẩn.
Đồng
Tháp Mười là một cánh đồng rộng lớn,
hằng năm bị ngập lụt lối bốn, năm
tháng khi nước sông Cửu Long dâng cao. Biển Hồ
Tonlé Sap ở Campuchia và Đồng Tháp Mười ở
Việt Nam là hai nơi lưu trữ nước thiên nhiên,
nên đến mùa nước nổi, sông Cửu Long từ
từ dâng cao, sau đó nước sẽ lần lần rút
ra biển. V́ thế nên ở miền Nam, không có nhu cầu
phải đắp đê để ngăn nước
như sông Hồng ở miền Bắc. Mực
nước mỗi năm tuy dâng cao nhưng từ từ
nên ở miền Nam, không có cảnh thiệt hại to
lớn của các trận lụt th́nh ĺnh và chớp nhoáng
gây chết chóc như thường thấy ở miền
Trung. Diện tích Đồng Tháp chiếm khoảng 8 ngàn cây
số vuông, độ 800.000 mẫu tây. Chiều Nam-Bắc,
từ Cao Lănh tới Svay Riêng dài khoảng 70 cây số;
chiều ngang từ Hồng Ngự đến Tân An tính ra
khoảng 120 cây số.
Trên các bản đồ thời Pháp
thuộc, vùng này có cái tên là Plaine des Joncs (Đồng Cỏ
Lác). Sau 30 tháng Tư năm 1975, tỉnh Sa Đéc
được đổi tên thành tỉnh Đồng Tháp,
diện tích bao trùm gần trọn Đồng Tháp
Mười. Tỉnh Đồng Tháp nay giáp Campuchia ở
phía Bắc, đường biên giới dài khoảng 52 cây
số. Phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Đông giáp
tỉnh Long An và Tiền Giang, phía Tây giáp Cần Thơ và An
Giang. Toàn diện tích tỉnh Đồng Tháp tính ra vào
khoảng 3 ngàn 300 cây số vuông.
Nhắc đến địa danh
Đồng Tháp, không thể nào không nhắc đến
anh hùng kháng Pháp: Thiên hộ Vơ Duy Dương. Vơ Duy
Dương đă lập nhiều đồn lủy và
đă đóng tổng hành dinh tại vùng Tháp Mười.
Truyền thuyết của người Miên cho rằng vùng
này có tên là Tháp Mười v́ nơi đây là nơi
đặt ngọn tháp Chùa Miên thứ mười kể
từ trên Campuchia xuống. Một số người am
hiểu lịch sử miền Nam lại giải thích: tên
Tháp Mười thật sự chỉ có từ thời kháng
Pháp của Thiên hộ Dương. Ông Vơ Duy Dương
đă đặt nhiều đồn và tháp để canh
chừng tàu của Pháp, kể từ sông lớn Vàm Ba Sao vào
đến Tổng hành dinh và cái tháp nơi hành dinh là tháp
thứ mười? Tổng hành dinh Tháp Mười
được bao vây che chở từ xa bởi 3
đồn: Đồn Tả, Đồn Hữu và
Đồn Tiền. Mỗi đồn có thể chứa 200
đến 300 nghĩa binh, trang bị với súng, thớt
súng bắn đá, đại bác...Ngày 14 tháng Tư năm
1866, Đô đốc De Lagrandière đă chia 500 quân làm ba
mặt tiến vào Đồng Tháp, xuất phát từ G̣
Bắc Chiên đi xuống để đánh Đồn
Tả, từ Cần Lố đi lên tấn công Đồn
Hữu và cánh thứ Ba từ Cái Nứa để đánh
Đồn Tiền. Nghĩa quân đă chống trả
từ ngày 15 cho đến ngày 18 th́ các đồn Tả,
Hữu thất thủ và Thiên hộ Dương phải
bỏ Tháp Mười. Quân Pháp đă đốt phá, b́nh
địa đồn, sau khi đă phải chịu thiệt
hại trên 100 lính. Thiên hộ Dương tiếp tục
chống Pháp nhưng sau chết v́ bịnh. Về sau, trên
một g̣ cao của di tích đồn Tháp Mười này,
một ngôi chùa Phật đă được dựng lên,
trang hoàng theo lối chùa Miên.
Một
người Pháp tên Sylvestre, chức vụ Thanh tra, làm việc
ở Cai Lậy và Sa Đéc từ 1869 đến 1878 đă
nhiều lần đến viếng Chùa Tháp Mười.
Chùa được xây cất trên một g̣ đất cao
độ bốn thước, rộng khoảng ba
mươi thước đường bán kính. Nền chùa
cất trên đá ong, tháp h́nh ngủ giác, có năm mặt,
được người Miên gọi là Prasah Préam Loveng
(Tháp Năm Căn). Người Việt th́ lại gọi
là Tháp Mười, có thể v́ xưa tháp có 10 tầng
nhưng đă đổ nát? Ông Sylvestre có lấy từ Tháp
Mười (Ruines de la tour à cinq faces), một phiến đá
có chạm h́nh bánh xe Pháp Luân c̣n nguyên vẹn với 12 căm
bánh xe, gởi về tặng một viện bảo tàng
nhỏ “ Musée municipal de Rochefort sur Mer” ở Pháp. Các nhà
khảo cổ danh tiếng như Etienne Aymonier và Henri
Parmentier thuộc trường Viễn Đông Bác Cổ
đều đă viếng thăm Tháp Mười nhiều
lần. Từ chợ Sa Đéc, dùng ghe máy theo kinh Cái Bèo, Tháp
Mười và kinh 4 bis (Cát Bích), đi khoảng 4 giờ
sẽ đến Tháp. Một giáo sư Pháp văn
trường Petrus Kư, sau làm quản thủ viện Bảo
tàng Sài G̣n và được thăng Viện trưởng
trường Viễn Đông Bác Cổ, tên L. Malleret là
người có công nghiên cứu nhiều nhất về Tháp
Mười. Louis Malleret là tác giả bộ Le Delta du Mékong
(Lưu vực sông Cữu Long), trong đó quyển thứ
IV (Le Cisbassac) là quyển chuyên khảo về Đồng
Tháp. Các viên gạch di tích Tháp Mười c̣n được
lưu giữ ở Bảo tàng viện Sài G̣n là do công
của L. Malleret.
Trước thời Kháng chiến Nam
Bộ, dân cư sống trong vùng Đồng Tháp, gồm
người Việt, người Miên và Trung Hoa chỉ vào
độ 150.000. Hiện nay, theo các thống kê mới
nhất của riêng tỉnh Đồng Tháp, số dân
được trên 1, 6 triệu người. Cách xa thành phố
Sài G̣n độ 162 cây số, ngoài một số
đường nhỏ, Đồng Tháp chỉ có 136 cây
số Quốc lộ IA.
Thời Việt Nam Cộng Ḥa, người
có công phát triển Tràm Chim, từ một vùng cỏ lác hoang
vu bên bờ kinh Đồng Tiến, biến thành một
trung tâm sung túc hiện nay, phải kể đến linh
mục Bạch. Linh mục Bạch đă xin Tổng
thống Ngô Đ́nh Diệm để hướng dẫn
một số giáo dân vào khai khẩn lập nghiệp ở
nơi đây. Trước thời Cha Bạch, vùng trung tâm
Đồng Tháp này vào mùa nước nổi bao la như
một miền biển rộng. Cha Bạch đă xây
dựng được nhiều công tŕnh như : nhà
thờ, trường học, chợ, phố xá bằng
vật liệu nặng, xi măng, bê tông cốt sắt, vôi
gạch... nên đến mùa nước nổi, giữa
biển nước mênh mông, nhờ có các công tŕnh kiến
trúc mới, Tràm Chim đă trở thành một ốc
đảo vững chắc cho ghe thuyền dân chúng neo,
tụ họp sinh hoạt trong mùa nước lụt.
Người viết bài đă có một thời phục
vụ ở bộ Xă Hội nên đă có được
cơ hội giúp linh mục Bạch trong các chương
tŕnh xây cất định cư các gia đ́nh cơ cực
trong vùng. Phụ giúp linh mục Bạch trong các công tác này
phải kể thêm đến linh mục De Villiers và linh
mục Aram Berard, c̣n được gọi với tên
Việt là Cha An B́nh. Linh mục Bạch xuất thân từ
Tiểu, Đại Chủng Viện đường
Cường Để, rất thông thạo tiếng Pháp
nhưng không biết tiếng Anh. Khi linh mục De Villiers
t́nh nguyện đến sống ở Tràm Chim với linh
mục Bạch th́ cả hai phải dùng tiếng La Tinh
để giao thiệp với nhau! Về sau, nhờ có linh
mục An B́nh đến phụ giúp, biết tiếng
Việt nên linh mục Bạch đă nhờ đó học
thêm được tiếng Anh. Cha Bạch là người
có nhiều sáng kiến độc đáo. Có lần Cha
đến Bộ Xă Hội, xin can thiệp để nhà
thầu Mỹ tặng cho Cha một cột điện cao
bằng cây, loại được ngâm hóa chất giữ
khỏi mục. Cột này được nhà thầu
chở đến đầu kinh Đồng Tiến và
bờ Tiền giang. Chờ đến mùa nước
nổi, Cha Bạch đă cho cập nhiều ghe hai bên
cột cây trên 20 thước này để di chuyển
về Tràm Chim dựng lên làm cột cờ! Cây cột
cờ cao ngạo nghễ này giữa Đồng Tháp là cái
gai xốn xang trong mắt các người phía bên kia cho
đến ngày 30/4/1975! Tràm Chim Tam Nông nay là một
địa điểm du lịch đặc biệt v́ là
nơi để du khách có thể quan sát loại sếu
đầu đỏ, một giống chim hiếm có, ḿnh
cao trên một thước. Tháng Giêâng đến tháng Năm
là mùa mà các hồng hạc này bay trở lại vùng
để du khách có được dịp quan sát, chụp
ảnh.
Ngoài tên Tràm Chim, nhắc đến Đồng
Tháp, không thể không kể thêm một vài địa danh
khác đă đi vào lịch sử như Cù lao Ông
Chưởng, nơi danh thần Nguyễn Hữu Cảnh
đă chết v́ bịnh khi kéo binh trở về, sau
chiến thắng vua Chân Lạp vào năm 1699. Gần
nhất, phải kể đến rạch Đốc Vàng
Thượng, nơi Việt Minh đă bày mưu đặt
kế để ám hại Đức Thầy Huỳnh Phú
Sổ cũng như những vùng xa xôi, sát biên giới Miên
là Tân Thành, Cái Cái, nơi Việt minh đă thủ tiêu, chôn
sống tập thể hàng ngàn tín đồ Phật giáo Ḥa
Hảo.
Phật giáo, một tôn giáo lớn, dạy
người đời nên làm lành, lánh dữ, giữ tâm
trong sạch, đă được phổ biến ở
Việt Nam trên hai ngàn năm. Khi được truyền bá
vào Nam nhân cuộc Nam Tiến, Phật giáo đă uyển
chuyển ḥa hợp vào điều kiện sinh sống
mới của dân chúng, vào vùng đất trù phú “làm chơi,
ăn thiệt”. Phật giáo Ḥa Hảo được
Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ phát triển ở
đồng bằng sông Cửu theo phương pháp hành
đạo của Phật Thầy Tây An, đă
được nông dân Nam Bộ hưởng ứng
chấp hành. Một nền Phật giáo Thời đại,
không chủ trương dựng chùa to, đúc tượng
lớn, không hệ thống Tăng ni, Sư săi, không chuông
mơ, đă được hằng triệu tính đồ
miền Nam chấp nhận. Thay v́ xây các chùa lớn, giáo dân
theo chủ trương của Phật Thầy Tây An đă
h́nh thành những trại ruộng là nơi để
vừa cấy cày sinh sống, vừa tu học, hành
đạo; tự túc không nhờ đến sự cúng
dường của dân chúng. Các Trại ruộng lớn
như Láng Linh, Cần Lố...cũng là các nơi nuôi
dưỡng tinh thần chống thực dân Pháp.
Thời Gia Long phải bôn tẩu ở
miền Nam, Sa Đéc ven biên Đồng Tháp là nơi Gia Long
đă có một thời ẩn trú lâu dài. V́ thế nên ở
làng Long Hưng tức Nước Xoáy, có sự tích Cây da
bến Ngự là nơi chúa Nguyễn thường ngồi
câu cá và suy tính t́m mưu chống Tây Sơn. Năm 1787, Gia
Long cho xây một đồn nơi đây, nay c̣n di tích. Chúa
Nguyễn và binh lính cũng đă được một gia
chủ tên Nguyễn Văn Hậu ở Long Hưng nuôi
cơm. Chúa Nguyễn nhận Ông là cha đỡ đầu,
v́ thế ở Long Hưng năm 1807 có xây Lăng Ông Bơ (cha
đỡ đầu của vua). Bảo Đại lên ngôi
vua năm 1932 nhưng măi đến năm 1942, lần
đầu tiên, chánh quyền thực dân mới đồng
ư cho Bảo Đại vào thăm Nam Kỳ, nhân dịp
Bảo Đại được vua Shihanouk mời
viếng Campuchia. Trong thời gian cư ngụ ở Sài G̣n,
Bảo Đại đă ngỏù ư muốn đến viếng
Lăng Ông Bơ ở Long Hưng. Chánh quyền Sa Đéc
viện cớ là từ Sa Đéc đến làng Tân
Dương có đường bộ nhưng từ đây
vô Nước Xoáy, tức Tân Hưng phải đi tàu máy,
rất bất tiện để đưa vua Bảo
Đại đi thăm Lăng. Thật sự th́ Pháp không
muốn cho Bảo Đại được có cơ
hội gây cảm t́nh và uy tín đối với dân chúng
miền Nam. Bằng cớ là trong việc vua Bảo
Đại muốn đến thăm Bến Tre là sinh quán
của Đức bà Từ Dũ, mẫu thân của vua
Tự Đức, Thống Đốc Đông Dương
là Đô đốc Decoux chấp nhận, nhưng chánh
quyền Pháp ở Nam Kỳ lại ra chỉ thị
cấm dân chúng dọc đường không được
tụ tập hoan hô!
Cao Lănh cũng là một
địa danh thường được nhắc
đến. Dân mê thích đá gà ngày trước đă kháo
nhau:
Gà nào hay bằng gà Cao Lănh,
Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân?
Nha Mân, vùng Cái Tàu Hạ, có con rạch Nha Mân
êm đẹp, hiền ḥa. Theo sử sách Miên, nơi đây
vốn là nơi có các thiếu nữ đẹp khiến
các vua Miên thường chọn hoàng hậu từ Nha Mân.
Cao Lănh nằm vào ven biên Đồng Tháp,
một vùng ruộng vườn xanh tốt nhưng v́ ngày
xưa không có đường lộ giao thông như con
đường nối liền An Hữu đến
Hồng Ngự hiện nay, nên là nơi đất lành chim
đậu, nơi nương náu của nhiều nhà cách
mạng chống Pháp. Nơi đây đă từng là nơi
có những cuộc biểu t́nh của dân chúng chống
thực dân. Người viết bài c̣n nhớ chỉ hôm sau
ngày 9 tháng Ba năm 1945, ngày quân Nhật đảo chánh
thực dân Pháp ở Sài G̣n, th́ ngay sáng hôm đó đă có
truyền đơn rải ở vùng Cao Lănh để thông
báo cho dân chúng t́nh h́nh chánh trị mới!
Cao Lănh
hiện nay c̣n được khắp nước biết
đến v́ sau ngày 30/4/1975, chánh quyền đă xây cất
Lăng Phó bảng Huy, thân phụ ông Hồ Chí Minh, nguy nga,
tráng lệ. Năm 1926, ông Nguyễn Sinh Sắc, trên
bước đường lưu lạc vào Nam, sau khi
mất chức tri huyện B́nh Khê v́ say rượu làm
chết tội phạm, đă qua đời ở Cao Lănh.
Dân chúng địa phương đă chôn ông sau Miễu
Trời Sanh, cạnh nhiều nấm mồ hoang của
miễu. Mộ của Ông là một nấm mộ
đất nhỏ, không bia, không móng nhưng được
các nhà cách mạng trong vùng thường chăm sóc. Sau 1975,
các nấm mộ hoang đă bị bốc đi nơi khác.
Đất dân chúng đă bị trưng thu để thành
lập lăng Ông Phó Bảng. Từ một nấm mộ
đất nhỏ, đơn sơ, nay Lăng là một
công tŕnh kiến trúc quy mô chiếm đến 3,6 mẫu tây
với công viên, hồ sen, bảo tàng viện Nguyễn Sinh
Sắc, bảo tàng viện Hồ Chí Minh...!
Đồng Tháp là vùng đất thấp nên
từ trước đến nay chưa có các công tŕnh xây
cất đường xá hẳn hoi. Tuy nhiên, nhờ
được có nhiều kinh lạch được
đào nên giao thông bằng đường thủy đă
được sử dụng cho việc chuyên chở.
Việc đào kinh đă được thực hiện
từ xa xưa do người Chân Lạp như hố Cái
Bác từ ngọn Cái Cái đến ngọn Vàm Cỏ Tây,
hoặc những con kinh đứt khúc vùng Đông-Bắc.
Đặc biệt dưới thời các chúa Nguyễn
trong cuộc Nam tiến, nhiều kinh chiến lược
quan trọng đă được thực hiện như
Thoại Ngọc Hầu đă đào kinh Vĩnh
Tế...Thời Pháp chiếm đóng, nhiều kinh lớn
khác đă được thiết lập trong ư đồ
thâm nhập và phát triển vùng đất hoang vu, nơi trú
ẩn của các người ái quốc chống Pháp. Con
kinh Lagrange, được người Việt một
thời kêu là kinh Lạc Giăng (tên của viên Chánh Tham
biện tỉnh Tân An đă chủ trương) là một
kinh quan trọng trong trung tâm Đồng Tháp, rộng trên 20
thước, tàu bè có thể chạy thông thương lên
phía Gẫy để đến rạch Cái Cái. Đặc
biệt có con kinh Cát Bích, nghe tưởng là tên chữ
Hán-Việt nhưng thật ra là lối phát âm b́nh dân
để đọc tên Pháp là kinh số “4 bis”!
Thời Việt Nam Cộng Ḥa, việc hoàn tất con kinh
Đồng Tiến, bề ngang rộng đến 100
thước, là một thành tích đáng ghi nhớ. Bác sĩ
Phan Quang Đán và tác giả bài này, trong chương tŕnh
Khẩn hoang Lập ấp, đă vô cùng kinh ngạc khi có
được dịp trở lại thăm vùng kinh
được đào sau một năm. Trên hai bờ kinh,
suốt dăy đất được xáng múc đổ lên,
các nông dân đă năng động biến thành các
vườn dưa hấu bát ngàn!
Nếu
sát nhập vào khu Đồng Tháp vùng kế tiếp là khu
phía Đông sông Vàm Cỏ Tây tới tận sông Vàm Cỏ
Đông th́ mới hiểu v́ sao Đồng Tháp là một
chiến khu quan trọng trong suốt cuộc chiến.
Chiến khu Đồng Tháp như vậy là một vùng
rộng lớn giữa sông Tiền và sông Vàm Cỏ Đông.
Đây là một trũng nước lơm, thâu nhận
nước sông Tiền từ mặt Ba Nam chảy
xuống. Mé Đông là các g̣ chạy dài từ Mỹ Tho qua
Bến Lức, Tân An. Mé Nam cũng có nhiều giồng để
chận nước lại. Vùng bùn lầy bất tận
này có lơm ở giữa là G̣ Bắc Chiên và Tháp Mười.
Đây là một vùng dân cư thưa thớt. Đồng
Tháp năm nào cũng lụt lội, thảo mộc
thường là cỏ năng, lác, bàng. Khu giữa hai con sông
Vàm Cỏ mỗi năm cũng lụt vào mùa mưa và là một
vùng đầy loại thảo mộc khác hẳn
Đồng Tháp là lau sậy. Thời Pháp, quân đội
chưa có phương tiện trực thăng chuyển
quân nên hành quân vào vùng rất khó khăn, chỉ có thể
dùng các toán nhảy dù. Để ngăn chặn các
chuyển quân hoặc tuần tiễu bằng
đường thủy, kháng chiến quân đă đóng
nhiều cản chặn trên các ngơ vào các kinh lạch.
Quân
đội Pháp đă không có khả năng hành quân quan
trọng vào Đồng Tháp v́ bốn trở ngại chánh:
bùn, muỗi, đĩa và nắng. Mỗi năm
Đồng Tháp bị lụt lội gần 5 tháng. Vào mùa
khô đất vẫn c̣n rất nhiều nơi bùn lầy.
Lội bùn với giày nhà binh là một việc vô cùng vất
vả. Cây cối ở Đồng Tháp rất thưa
thớt, ít t́m được nơi có bóng mát, nắng nóng
cháy da mà nguồn nước ngọt lại rất
hiếm. Đối với muỗi, dân địa
phương quen dùng nóp ngủ nên không thấy trở ngại.
Nóp là một bao đệm bàng, loại túi ngủ rất
ấm áp lại tránh khỏi bị muỗi cắn, một
vật bất ly thân của nông dân và bạn chèo ghe Nam
Bộ.
Đĩa Đồng Tháp thường là loại
đĩa trâu, rất lớn con, bám vào da rất khó gỡ
ra. Thời Kháng chiến, tác giả bài này có biết
một nữ sinh đă có can đảm thoát ly gia đ́nh,
bỏ học tham gia tranh đấu. Nhưng chị
lại có một cái sợ khủng khiếp đến
ngất xỉu khi bị đĩa đeo! Những khi liên
lạc viên dẫn đường, phải qua các trũng
nước sâu, rộng, mọi người đều
phải cố sức vượt qua rất mau v́ là vùng
trống trải. Nếu bị phi cơ tuần thám phát
hiện th́ kể như tàn đời. Một anh bạn
đă ra tay nghĩa hiệp t́nh nguyện cơng chị khi
phải vượt qua các vũng nước. Cuối cùng
là về sau, anh chị đă là bạn đời với
nhau!
Trong giai đoạn khởi đầu Kháng
Chiến Nam Bộ, các cơ quan của Ủy Ban Nhân Dân Nam
Bộ đều được đặt dài trên con kinh
Lagrange, được đỗi tên thành kinh Dương
Văn Dương. Kháng chiến quân đă xây ở
đầu kinh đổ ra sông Vàm Cỏ Tây một cản
thật kiên cố, để tàu Pháp không thể vào
được trong kinh. Kinh Lagrange v́ vậy
được coi là một an toàn khu. Nơi đây, có
một thời Lê Duẫn đă được cấp cho
một cḥi nhỏ khi được cử làm
Trưởng Pḥng Dân Quân Nam Bộ. Lê Duẫn
được đưa từ Côn Nôn về, sau khi
Trần Văn Giàu đă thành lập Ủy Ban Hành Chánh Nam
Bộ nên Duẫn chắc đă phải cay đắng
nhận một chức vụ khiêm tốn. Hẳn Lê
Duẫn đă không quên việc bị Giàu bỉ mặt này
nên từ sau năm 1945, Trần Văn Giàu đă bị
cầm chân ở Bắc, không được về Nam thi
thố tài năng và chỉ được cho trở
lại miền Nam sau 1975 mà thôi?
Toàn khu Đồng Tháp, đến mùa
nước lụt lớn, nh́n mênh mông như mặt
biển. Nhấp nhô trên mặt, thỉnh thoảng có
những nơi cao, có cây cối, bụi rậm,
được gọi là các giồng. Mùa nước
lớn nơi các giồng là chỗ tụ tập tránh
lụt của hằng trăm rắn rít, chuột. Các
rắn đủ loại thường quấn nhau thành
nuồi trên các cành cây, trông rất dễ sợ. Gặp mùa
nước lên, nếu có ghe thuyền th́ chống chèo đi
đâu cũng dễ dàng nếu biết rơ phương
hướng. Năm 1944, thời Đệ Nhị Thế
chiến, thành phố Sài G̣n bắt đầu bị phi
cơ Đồng Minh oanh kích dữ dội. Trường
Trung học Petrus Kư phải tạm thời đóng cửa,
để học sinh tản cư. Tác giả bài này có
biết trường hợp một nữ sinh tên Diễm
Lệ, quê ở Mộc Hóa, học năm thứ Nhất
ban Cổ điễn Á Đông của Giáo sư Phạm
Thiều. Vào thời đó, có một nữ sinh từ
Mộc Hóa xa xôi của Đồng Tháp theo học Trung
học là việc hi hữu! Trường đóng cửa vào
mùa nước nổi, đường xá đều
ngập lụt, cha của Diễm Lệ đă phải chèo
ghe từ Mộc Hóa đến Tân An để rước
con về quê.
Đến mùa khô, di chuyển trong
Đồng Tháp cũng không phải là chuyện dễ
nếu không phải là người địa phương
biết tránh các vũng bùn lầy, biết len lỏi
định hướng theo các giồng quen thuộc.
Nhiều nơi trong Đồng Tháp là những đầm
sen to lớn giữa thiên nhiên. Có nhiều dịp
được di chuyển bằng trực thăng bay trên
các đầm sen bát ngàn này, nhất là vào các buổi sáng
sớm hay chiều hôm, mùi hương sen do cánh quạt
trực thăng khuấy động đă bay lên ngào
ngạt khắp không gian! Lúc c̣n trẻ, mỗi năm
người viết bài thường tháp tùng theo các
người lớn trong gia đ́nh, bơi xuồng vào các
đầm sen để cắt bông sen về làm trà, dùng cho
cả năm. Cánh bông sen và gương non được
phơi sấy khô để làm trà dùng thường ngày.
Riêng nhụy sen vàng được chọn để
sấy trên ơ bằng đất nung, dành để cúng
trong các buổi lễ lớn. Trà nhụy sen này khi
được pha nấu với nước mưa, ngoài
hương vị đặc biệt lại c̣n có một
màu ửng hồng trông rất đẹp mắt.
Một độc đáo khác thường
được thấy ở Đồng Tháp là những
nơi có loại “lúa trời”. Đây là những vùng
đất thấp, thường ngập nước, có
loại lúa mọc từ ḷng đất vươn cao lên
khỏi mặt nước, giống như loại lúa nổi.
Dân nghèo dùng xuồng nhỏ, thấp, len lỏi vô các
bưng có lúa trời, dùng thanh tre dài lùa đập các
cộng lúa để hột lúa rụng rớt vô xuồng.
Đi đập mót lúa trời cũng là một nguồn
sinh sống cho dân cư cùng khổ, không đất canh tác.
Đồng Tháp Mười, như trên đă nói là
một vùng đất trũng rộng lớn. Có giả
thuyết đă cho rằng có thể nơi đây, khi
xưa, là dấu vết cũ của sông Cữu Long. V́
một lư do thiên nhiên nào đó, sông Cửu Long đă bỏ
ḷng sông cũ để chảy qua vị trí hiện nay. Hai
vùng trũng thiên nhiên rộng lớn là Đồng Tháp
Mười và Đồng Cà Mau là hai hồ nước
để chứa nước sông Cửu vào mùa nước
nổi. Đến mùa nước đổ, cá con sanh
từ Biển Hồ Tonlé Sap tràn vào hai hồ nước
thiên tạo này, lớn lên nhờ rong, rễ non và sanh
trưởng nhanh chóng. Đây là một vựa cá trời
cho dân miền Nam. Phải có dịp sống ở miền
này vào mùa cá linh mới hiểu được cái diễm
phúc trời dành cho miền này: Cá linh nổi lền trên
mặt nước. Dân chúng chài vớt hay đóng đáy
bắt cả hàng tấn cá, lớp ăn tươi,
lớp làm mắm, lớp dùng làm phân để bón cây,
thuốc lá...v́ ngày trước không có kỹ nghệ
ướp lạnh cá hay làm đồ hộp! Đến
mùa gió chướng, cá h́nh như có linh tính biết mùa
hạn sắp đến nên lại lội ngược
ḍng về Tonlé Sap để gây giống mùa năm sau.
Kinh rạch là một phương
tiện giao thông rất quan trọng ở miền Nam
để chuyển vận hàng hóa. Các kinh đào đă
tiếp nối để ghe thuyền có thể giao lưu
từ các sông Tiền Giang, Hậu Giang vận chuyển
tiếp tế đến thủ đôâ Sài G̣n. Đối
với giới thương hồ, tên các kinh Tháp
Mười hay kinh Phong Mỹ, kinh Tổng đốc
Lộc từ Rạch Ruộng (Sa Đéc) đến
Rạch Bà Bèo (Cai Lậy), kinh 12, kinh Cái Bèo, kinh Bo Bo, kinh
Ngang, kinh Chợ Gạo..., các chỗ giáp nước như
Thủ Thừa, Ba Cụm, Chợ Đệm...là những
tên quen thuộc được nhắc đến hằng
ngày trong các câu chuyện làm ăn. Sau Hiệp định
Genève năm 1954, các địa danh như Mỹ An,
Mỹ Trà, kinh Phong Mỹ...thường được báo
chí nhắc đến hằng ngày v́ là nơi tập trung
để bộ đội Việt Minh vùng Đồng Tháp
được lên tàu tập kết ra Bắc.
Đường
bộ giao thông trong Đồng Tháp không có là bao. Thông
thường, phần lớn toàn là những
đường ṃn chỉ người địa
phương mới biết xử dụng. Việc vận
tải hàng hóa chỉ nhờ ở các thủy tŕnh, kinh
rạch. Trong suốt cuộc chiến, lực lượng
quan trọng để bảo vệ an ninh đường
thủy là Lực lượng Giang đoàn của Hải
Quân. Một giang đỉnh án ngữ trên sông, kinh, rạch,
là một pháo đài với hỏa lực tương
đương với các thiết giáp trên đường
bộ. Bao nhiêu chiến sĩ các Giang Đoàn đă phải
hy sinh trong nhiều trận chiến ác liệt nhưng ít
người được biết để bảo
vệ đường tiếp tế cho dân chúng thủ
đô Sài G̣n. Điển h́nh như trận Rạch Ba Rài
ngày 29/9/1965, khi hai Giang đoàn 21 và 27 Xung Phong đă
được điều động để tiếp
viện một đơn vị bộ binh của Sư
đoàn 7 và Thủy Quân Lục Chiến đang bị
một đơn vị Bắc Việt cầm chân mấy
ngày ở Ba Rài. Sau này, khi đọc quân sử Bắc
Việt mới biết đơn vị này là Tiểu
đoàn chủ lực 261, được trang bị vũ
khí nặng với nhiều B40. Nơi đây là con rạch
Ba Rài, từ Cái Bè trổ ra sông Cửa Tiểu. Hai
sĩ quan Hải Quân đă tử thương trong trận
này và địch quân đă bỏ lại trên chiến
trường hơn 57 vũ khí đủ hạng. Xác
địch mang quân phục vải kaki Nam Định đă
trôi đầy rạch Ba Rài. Hai năm sau, ngày 15/9/1967,
một trận đụng độ lớn cũng
xảy ra tại khúc rạch này nhưng lần này, quân
Bắc Việt đă đụng độ với giang
đoàn Hải Quân Mỹ.
Một căn cứ Hải Quân quan
trọng khác trong Đồng Tháp đă án ngữ để
các đoàn quân Bắc Việt không thể từ an toàn khu
bên đất Miên xâm nhập để cắt quốc
lộ 4 là Căn cứ Chiến Lược Tuyên Nhơn
ở Mộc Hóa. Cộng Sản đă từng huy
động các đơn vị chủ lực để
san bằng căn cứ nằm bên bờ Nam của con kinh Đồng
Tiến nhưng không đạt được kết
quả. Trong hai đêm 6 và 7/12/1974 cũng như lần chót
vào 26/3/1975, các bộ đội cấp Trung đoàn Bắc
Việt, từ bên kia đất Miên đă ồ ạt
tấn công vào căn cứ. Chúng đă tràn ngập khu
chợ Tuyên Nhơn, san bằng các đồn bót trong vùng.
Các căn nhà trong trung tâm đều bị pháo phá sập
nhưng quân nhân và gia đ́nh trú ẩn dưới các
hầm, dưới sự điều động của
Hải Quân Thiếu tá Lê Anh Tuấn, đă chống trả
và Cộng quân đă không thể chiếm căn cứ.
Cộng quân, ngoài các đợt tấn công, thường
ngày c̣n liên tục pháo kích vào căn cứ chiến
lược này khiến nhiều nhà quân sự đă nói:
Bộ Binh có An Lộc, B́nh Long
Hải Quân có Tuyên Nhơn, Mộc Hóa.
Các đơn vị của căn cứ này
chỉ rời khỏi doanh trại ngày 30/4/1975 sau khi
Tổng thống Dương Văn Minh ra lịnh buông súng.
Thiếu tá Lê Anh Tuấn đă tự sát trên
đường rút ra Bến Lức. Năm 1995, một
chiến hữu Hải Quân đă trở về vùng kinh ngang
Thủ Thừa để đi t́m lại được
mộ của Thiếu tá Tuấn. Hài cốt của
liệt sĩ Lê Anh Tuấn, Chỉ huy trưởng Giang
Đoàn 43 Ngăn Chặn, nay được kư tự ở
một ngôi chùa ở Palo Alto, California.
Thời Pháp và thời Việt Nam
Cộng Ḥa, trên các kinh, rạch Đồng Tháp
thường có đặt các trạm Thủy lợi, c̣n
được gọi là nơi thiết trí “cây đo
nước”. Mực nước được ghi mỗi
giờ để các chuyên viên điều nghiên, trù liệu
việc đào kinh tháo nước phèn. Ḍng nước
phải được tính toán trước để trù
liệu cho chảy từ chỗ cao đến nơi
thấp để tháo nước. Sau ngày 30/4/1975 các
“Đĩnh cao Trí tuệ” nhưng dốt nát của chánh
quyền Xă Hội Chủ Nghĩa đă bắt dân chúng, trí
thức, sinh viên đi làm công tác thủy lợi. Họ
bắt đào thế nào mà thay ǵ tháo phèn lại làm việc
trái ngược ở vài nơi, khiến nước
mặn tràn vào vườn tược, làm hư hại cây
cối mùa màng đang tươi tốt của dân!
Đồng Tháp Mười, giữa Sông
Tiền và sông Vàm Cỏ Đông rộng trên 930.000 mẫu,
nếu cộng thêm Đồng Cà Mau sẽ là một cánh
đồng bất tận ở miền Nam, có tiềm
năng kinh tế vĩ đại khi có được
chương tŕnh phát triển quy mô. Ở lưu vực sông
Hồng ngoài Bắc, mỗi gia đ́nh nông dân chỉ
sống nhờ vào khoảng năm sào ruộng. Các
“địa chủ” đă phải bỏ ḿnh trong chiến
dịch Cải cách Ruộng Đất của Cộng
Sản thông thường nhiều lắm chỉ sở
hữu được năm hoặc sáu mẫu ta!
Một mẫu tây lớn bằng 3 mẫu ta. Chỉ tính
riêng Đồng Tháp Mười, với gần một
triệu mẫu tây đất, nếu được
điều nghiên phát triển, th́ nơi đây sẽ nuôi
sống được biết là bao dân chúng? Sau ba
mươi năm chinh chiến, một chánh quyền
thời b́nh, nếu có thực tâm v́ dân v́ nước, th́
đă xây dựng xứ sở để đem lại
hạnh phúc thiết thực cho mỗi gia đ́nh. Nhưng
trái lại, v́ kiêu căng, điên rồ, chánh quyền này
lại thí mạng thêm một thế hệ thanh niên
miền Nam để “tiền phong tranh đấu cho cách
mạng Đông Nam Á”. Sau ngày Quốc hận 30 tháng Tư
1975, tương lai đất nước thay v́
được cơ hội vương lên trong hoàn vũ,
lại bị để sa lầy trong một thời gian
dài ở Campuchia, uổng phí mấy mươi năm quư báu
để có dịp phát triển cơ sở nông nghiệp
thiết thực và vững chắc ! Nhưng vùng “Phật
địa”bao la trời dành cho miền Nam vẫn c̣n đó,
trông chờ muôn vạn bàn tay xây dựng của các thế
hệ thanh niên mới, trong một chánh quyền mới.
Trần Nguơn Phiêu
Đầu hè 2006