Phan
Thanh Giản,
vị tiến sĩ đầu tiên đất Nam
Kỳ
Huỳnh Công Tín
1.
Vùng đất Nam Kỳ Lục tỉnh được chính thức khai khẩn kể từ khi chúa Nguyễn sai
Chưởng cơ Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược năm Mậu Dần (1698) tính
đến nay được trên 300 trăm. Mảnh đất này với 300 năm đã để lại những tên tuổi
lớn: Nguyễn Đình Chiểu, Võ Trường Toản, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký...
Là người Nam Bộ, ai cũng có niềm tự hào về những danh nhân Nam Bộ này. Là kẻ
sĩ, hay là học trò, tôi nghĩ, ai cũng có niềm vinh hạnh khi nhắc về vị Tiến sĩ
đầu tiên đất Nam Kỳ Phan Thanh Giản (1796 - 1867) mà cuộc đời ông đến nay
vẫn còn là một bi kịch.
2.
Về làng Bảo Thạnh, Ba Tri (Bến Tre) trong những năm này, những năm đầu của thế
kỉ XXI (2005), tuy đã có nhiều đổi mới, vươn lên, nhưng vẫn còn nhiều dấu vết để
du khách còn nhận ra một vùng quê hết sức nghèo khó. Nhắc đến quê hương của Phan
Thanh Giản, để hồi tưởng về gần 200 năm trước, ở nơi đây, làng Tân Thạnh, huyện
Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh, sau đổi ra làng Bảo Thạnh, tổng Bảo
Trị, huyện Bảo An, phủ Hoằng Trị, tỉnh Vĩnh Long, nay là làng Bảo Thạnh, huyện
Ba Tri, tỉnh Bến Tre, lại có một vị tiến sĩ mà người nay chỉ biết tự hào, không
sao lý giải nổi về sự thành đạt ấy. Sự thành đạt của một ai đó ở vùng đất giàu
truyền thống thì có thể hiểu được, nhưng ở vùng quê này thì quả là điều kỳ diệu,
có sức lay động mọi tâm hồn người Nam Bộ mà qua đó cũng nói lên được nghị lực
phi thường và ý chí vươn xa của người thanh niên Phan Thanh Giản ở vào tuổi
thiếu thời.
Bài thơ “Ký nội” ông viết, khi ra kinh đô Huế ứng thí, không chỉ nói lên
được ý nguyện của ông về chí làm trai, mà còn chứa đựng trong đó một tình cảm
hết sức nhân ái đối với gia đình và cả đối với làng xóm, quê hương:
“Từ
thuở vương xe mối chỉ hồng,
Lòng này ghi tạc có non sông.
Đường mây cười tớ ham giong ruổi,
Trướng liễu thương ai chịu lạnh lùng.
Ân
nước nợ trai đành nỗi bận
Cha già nhà khó cậy nhau cùng.
Mấy lời dặn bảo cơn lâm biệt,
Rằng nhớ rằng quên lòng hỡi lòng!".
Hai câu “Đường mây cười tớ ham giong ruổi, Trướng liễu thương ai chịu lạnh
lùng.” đủ để nói lên chí nguyện và tình cảm của ông đối với người thân.
Trong bài “Gia biệt”, ông lại nói về cái chí của một người học trò nghèo
ở một vùng quê khó nhọc, quả đáng cho chúng ta khâm phục:
“Ngã
sanh bổn hàn tố,
Ngã tâm tư cổ đạo,
Thập tải sự mao chùy,
Sở
chí phi ôn bão.”.
(tạm dịch: “Tôi sinh trong một gia đình nghèo, lòng vốn chăm theo học đạo xưa,
sự mở mang tâm trí những mất mười năm, cốt lập chí không vì sự no ấm.”)
Và
sự khiêm tốn như một bản chất vốn có của ông từ thuở thiếu thời:
“Độc
học tối cô lậu,
Sở
đắc diệc lỗ mãng.
Khởi cảm vọng thanh tử,
Văn kiến thứ hữu bổ.”.
(tạm dịch: “Việc tự học nên rất quê mùa, kém cỏi, điều học được hãy còn chưa đầy
đủ, dám mơ gì xiêm áo, mong có được hiểu biết cũng bổ ích rồi.”)
Tình cảm mà ông giành cho gia đình là một tình cảm vô bờ bến. Nhưng chí làm trai
như lời “nghiêm huấn” luôn được ông đặt trên. Vì thế, cuộc chia tay để đi vào
chốn quan trường đối với chàng thanh niên Phan Thanh Giản không phải là điều dễ
dàng. Kết thúc bài thơ, ông viết:
“Du
du xuất môn khứ,
Lâm thâm dạ sắc vi.
Gia cận bất khả kiến,
Thế lệ triêm thường y.”.
(tạm dịch: “lòng buồn rười rượi khi bước ra khỏi nhà, rừng sâu đêm tối mờ mờ,
nhà gần mà không thể nhìn thấy, nước mắt dầm dề khăn áo.”)
Hai bài thơ trước khi ông đi làm quan đủ để nói lên nhân cách, đạo đức căn bản
mà ông đã tiếp thu được từ nền tảng giáo dục trọng đạo lí của gia đình.
Trên bước đường công danh, nói tới Phan Thanh Giản, người đời thường đề cập tới
hai khía cạnh: một vị quan đạo đức, chính trực - liêm khiết, thương dân, nhưng
cuối đời phải một bi kịch; một nho sĩ có tầm hiểu biết rộng và nhân cách lớn rất
đỗi tự hào của đất Nam Kỳ.
Là
một vị quan của triều đình phong kiến cuối thời, tuy ông đi làm quan xa gia đình
và mặc dù triều đình phong kiến cho phép, nhưng ông không như những vị quan
thông thường khác năm thê, bảy thiếp. Điều này nói lên một phẩm chất đạo đức
đáng được ghi nhận ở ông.
Hoàng Lại Giang viết về cảm nhận của vua Minh Mạng với Phan Thanh Giản như sau:
“Minh Mạng im lặng. Tuy giận, nhưng xét cho cùng Phan Thanh Giản là người
trong sáng và tâm đức. Chẳng thế mà y vừa lấy vợ được bảy ngày đã nhờ vợ về chăm
sóc ông Phan Thanh Ngạn ở Vĩnh Long đang già yếu. Y thị thương chồng cưới cho y
một con vợ, ra Huế lo sớm tối cho y, y lại từ chối cho về. Đấy đúng là quân tử
sỉ kì ngôn nhi quá kì hành.”
(Phan Thanh Giản nỗi đau trăm năm).
Phan Thanh Giản đi làm quan, nhưng ông luôn ở một tâm trạng đầy mâu thuẫn. Đó là
hoài bão công danh sự nghiệp của kẻ làm trai đối lập với chốn quan trường xu
nịnh, tham lam, giả dối cộng với ước muốn dân dã, bình dị của một thanh niên
quen sống ở chốn quê mùa. Tâm trạng này của Phan Thanh Giản được ghi lại qua
nhiều bài thơ của ông. Trong bài “Mạch liễu”, ông viết:
“Khâu
viên quy bạn Đào Bành Trạch,
Khẳng trục trần ai lão mạch đầu.”.
(tạm dịch: “Muốn quay về vườn gò làm bạn với Đào Uyên Minh, để có thể tẩy sạch
bụi trần trên khăn đầu già.”)
Hay trong bài “Vãn độ ngâm”, ông viết:
“Cử
mục thanh sơn minh.
Hồi đầu tứ lý đao.
Hốt phùng Nam khứ hạc,
Mang thủ bất thăng chiêu.”.
(tạm dịch: “Ngẩng lên thấy núi xanh, quay đầu lại nhìn thì quê hương xa khuất,
bỗng gặp chim hạc bay về phương Nam, vội vàng đưa tay vẫy mãi không thôi.”)
Ở
bài “Sơ hạ”, Phan Thanh Giản viết:
“Gia
mộng thiên đồng viễn
Ky
hoài nhật cộng trường.
Tương tu kinh để khách,
Phong tiện mạn hoàn lương.”.
(tạm dịch: “Mơ quê nhà xa diệu vợi, buồn nơi đất khách dằng dặc ngày dài, khách
kinh thành hẹn đợi nhau, gặp dịp tiện sẽ về quê .”)
Có
lẽ vì tâm sự này được gửi gắm qua nhiều bài thơ của Phan Thanh Giản, mà Hoàng
Lại Giang tái tạo lại tâm trạng của Phan Thanh Giản khi ông trò chuyện với ông
trùm Đức như sau: “Ta muốn về trở lại đồng quê, sống với cây cỏ chim muông,
cạnh cha già để sớm hôm hầu hạ, cạnh bạn ta Lê Bích Ngô, Phan Dĩ Thử hàn huyên
tâm sự, xướng họa văn thơ còn hơn là tham gia triều chính, thấy điều phải không
dám theo, thấy điều trái không dám can thì chỉ có nặng thêm tội.”.
Phan Thanh Giản là vị quan thanh liêm chính trực, vị quan biết chăm lo cho dân.
Điều này chắc không ai nghi ngờ gì ở tấm lòng son của ông. Vì dân, trong đời làm
quan, ông đã nhiều lần đứng ra can gián vua và ông cũng đã từng bị mất chức vì
việc này. Chỉ cần nêu ra đây vài sự kiện cũng đủ để minh định cho tấm lòng liêm
chính của ông.
Năm 1834, Minh Mạng thứ 15, ông được cử đi sứ Trung Quốc, vua quan nhà Thanh ban
cho ông nhiều tặng vật, ông cũng liệt kê đầy đủ trong sổ trình vua. Khi vua cho
ông vật gì, ông mới dám nhận lãnh làm của riêng.
Năm 1835, trước khi trấn nhậm Trấn Tây, ông viết thư cho cha mình như sau: “Con
mắc lo việc nước, lâu ngày nhớ cha. Con kính xin cha lên Vĩnh Long chơi, đợi lúc
con đi Trấn Tây về con sẽ ghé Vĩnh Long lạy mừng cha. Hiện giờ con phụng mạng
vua lo việc nước, không dám quanh đường ghé tắt để viếng thăm nhà được.”.
Năm 1836, trong bức sớ can vua Minh Mạng ngự giá Quảng Nam, ông viết: “Hạ
thần là kẻ giữ đất, chăn dân, gội đức vua, không làm cho dân được hạnh phúc,
thật là có tội. Kẻ hạ thần thấy rằng: từ khi bệ hạ lên ngôi đến nay, mỗi việc
đều lấy đức dạy dân nên kẻ hạ thần xin bệ hạ đình chỉ ngự giá đợi đến trời đất
khí hòa, mùa được dân no. Xin bệ hạ thẩm xét.”.
Năm 1843, năm Thiệu Trị thứ 3, Phan Thanh Giản lại dâng bài sớ khéo léo chỉ
trích vua, đồng thời đề nghị biện pháp sửa đổi nền hành chánh địa phương. Ông
viết về tệ nạn của quan lại địa phương: “Lại còn một số quan lại không tốt,
nhân lúc quốc gia hữu sự cho là dịp may. Những vụ giấy tờ bẩm báo, cùng là bắt
lính đòi xâu, chẳng một việc gì chúng không tạ sự sách nhiễu hoặc làm khó dễ.
Cái thói xấu này ở xứ Nam Kỳ là thậm tệ nhứt. Về dân xứ này sợ quan như cọp, nha
lại mặc sức thay trắng đổi đen...”. Ông đề nghị vua xin xuống một đạo dụ nói
rõ: “... Bên trong thì các đại thần ngôn quan. Địa phương bên ngoài thì các
viên chức lớn phải nên đem hết trí nghĩ ra và mối chân tình trung quân ái quốc,
đối với các điều lợi hại về đời sống của dân, không kể lớn nhỏ, không cần kiêng
nể, đều phải bày tỏ không nên giấu giếm.”.
Rõ
ràng ông làm quan không vì chức tước, bỗng lộc mà vì một nỗi “ái quốc, thương
dân”, ông luôn canh cánh bên lòng: “Lo nỗi nước kia cơn phiến biến.
Thương bề dân nọ cuộc giao chinh.”. Những hành xử của ông trên còn đường làm
quan đủ để nói lên những phẩm chất đáng kính trọng ở ông. Bởi đó, suy xét như
Nguyễn Văn Châu, quả là thấu lí, đạt tình: “Làm quan như Phan Thanh Giản mà
cuộc sống nhà cây, vách lá, phên tre, không hầu thiếp, không của cải riêng tư,
xưa nay có mấy người được như thế.”.
Đời làm quan của Phan Thanh Giản, từ năm 1826 đến năm 1867, trải qua nhiều thăng
trầm: ông đã bị vua thăng chức và giáng chức nhiều lần. Từ vị trí khởi đầu
“chánh thất phẩm” (1826), một năm sau ông được thăng 3 cấp quan lên hàng “chánh
tứ phẩm” (1827), hai năm sau lên “chánh tam phẩm” (1829), rồi được thăng “tòng
nhị phẩm” (1831).
Nhưng cũng năm 1831, ông lại bị giáng xuống cấp quan gần nhỏ nhất “chánh cửu
phẩm” (1831), vì vốn là một quan văn mà phải lãnh lệnh cầm quân đánh giặc nên
ông đã thua trận. Ông đã phải phấn đấu làm lại từ đầu và năm sau ông được thăng
chức “tòng thất phẩm” (1832), rồi từ “tòng thất phẩm”, một năm sau, ông lại được
thăng “chánh tứ phẩm” (1833), “chánh tam phẩm” (1834) và một năm sau, ông đạt
được chức vị cũ là “tòng nhị phẩm” (1835).
Nhưng ông bị giáng chức lần hai, một năm sau đó xuống hàng “chánh lục phẩm”
(1836), vì vụ dâng sớ ngăn vua ngự giá Quảng Nam để tránh sự khốn khổ cho dân
nghèo. Cũng trong năm đó, vua xét lại tính cương trực ở ông nên cho thăng chức
“chánh tam phẩm” (1836).
Nhưng hai năm sau, ông lại bị giáng chức lần ba xuống hàng “chánh tứ phẩm”
(1838), vì quên đóng ấn một chương sớ. Một năm sau, ông lại được phục chức
“chánh tam phẩm” (1839).
Và
rồi cũng năm đó, ông lại bị giáng lần bốn, xuống một cấp “tòng tam phẩm” (1839),
vì vụ án Vương Hữu Quang, vua ngờ rằng ông biện minh giảm nhẹ tội cho người đồng
hương.
Tiếp năm sau, ông lại bị giáng cấp lần năm, xuống “chánh tứ phẩm” (1840), vì vụ
bài thơ điệp vận “Mai trúc tùng”. Hai năm sau, ông được thăng lại chức quan cao
mà ông đã từng nắm giữ “tòng nhị phẩm” (1842).
Năm năm sau, ông được thăng chức “chánh nhị phẩm” (1847), rồi lên chức “tòng
nhất phẩm” (1853). Chỉ còn một chức quan “chánh nhất phẩm” nữa là tới tột đỉnh
của các phẩm quan, nhưng không ngờ, năm 1862 ông bị cách lưu, vị vụ thương lượng
chuộc ba tỉnh miền Đông bị thất bại, một công việc thất bại tất yếu mà cả triều
đình phong kiến lúc bấy giờ, kể cả Tự Đức, cũng không ai làm được, huống gì một
Phan Thanh Giản.
Cũng cần nhớ rằng sau năm đó, 1865, Phan Thanh Giản biết mình tuổi già, sức yếu
đã xin vua cho về hưu, nhưng bị vua từ chối, để rồi năm sau 1866, ông lại xin từ
chức một lần nữa vì bệnh tật, nhưng cũng bị từ chối và còn bị vua khiển trách,
yêu cầu ông hoàn thành sứ mệnh lấy lại mấy tỉnh Nam Kì. Đến năm 1867, quân đội
Pháp chiếm đóng nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kì, biết không thể làm gì hơn và để
tránh một cuộc đổ máu vô ích của dân, Phan Thanh Giản ra lệnh cho các quân đội
dưới quyền ông đầu hàng. Đây cũng là điểm mốc bi kịch của cuộc đời ông và là cái
cớ hết sức phi lí mà Tự Đức và những người chủ chiến kết tội ông.
Nếu nói công bằng, chính Tự Đức chẳng những không thấy trách nhiệm “chăn dân”
của mình là đã đẩy ông đến chỗ chết, (ông đã tuẫn tiết ngày 1/ 8/ 1867, sau 17
ngày nhịn ăn, để tự xử việc làm của mình), mà còn đổ vấy mọi trách nhiệm lịch sử
lên đầu Phan Thanh Giản, bằng cách “truy tước” mọi phẩm hàm của ông và còn lạm
quyền “đục bia Tiến sĩ” của ông, để rồi ông phải mang thêm tội “bán nước” mà cho
đến tận ngày nay, không phải ai cũng hiểu cho ông. Đúng là một đánh giá lịch sử
bất công giành cho Phan Thanh Giản.
Nhưng lịch sử vốn công bằng nên triều đình Đồng Khánh năm thứ I, tức 19 năm sau
khi ông mất, 18 năm sau khi ông bị tước phẩm hàm, xóa tên trên bia Tiến sĩ, đã
trả lại công bằng lịch sử cho ông. Nhân dân các tỉnh Nam Bộ đã tôn thờ ông, dựng
tượng ông. Những năm 60 của thế kỷ XX, ông lại bị một số người đánh giá không
tốt về ông, để đến bây giờ, ở đầu thế kỷ XXI, ông được giới có suy nghĩ hơn đánh
giá lại một lần nữa và xóa cho ông oan tội “bán nước”.
Có
lẽ, cái “số trời” đã đặt để nơi ông nhiều bi kịch, nói như Cao Tự Thanh “cái số
phận nhiều cay đắng mà ít vinh quang” là rất đúng và cũng đúng như nhận định của
anh dưới đây về ông: “Là một nhân vật lịch sử có số phận khác thường, Phan
Thanh Giản đã chết bốn lần. Lần thứ nhất là Phan uống thuốc độc tự tử. Lần thứ
hai, Phan bị thực dân ám sát khi khen ông sáng suốt không chống lại Pháp. Lần
thứ ba, Phan bị triều đình Tự Đức bức tử với bản án “truy đoạt tất cả chức hàm,
đục tên trong bia Tiến sĩ, giữ mãi cái án trảm giam hậu”. Lần thứ tư là vào thời
gian 1960 - 1963, khi chúng ta hạ quyết tâm dùng bạo lực cách mạng để giải phóng
miền Nam, và nền sử học rời khỏi con đường dài phục vụ cách mạng mà đi vào con
đường tắt phục vụ chính trị đương thời đã xử tử ông (cũng như phê phán những
người yêu nước không dùng bạo lực như Phan Chu Trinh), gây ra một công án đau
lòng khiến những trí thức đương thời như Ca Văn Thỉnh day dứt và các chính khách
như Võ Văn Kiệt hiện nay trăn trở...”.
Nhưng phải thấy rằng, cái lẽ công bằng là ở tầng lớp nhân dân chưa bao giờ đánh
giá ông tệ hại như vậy. Tôi rất đồng tình với nhận định của Nguyễn Văn Châu,
nguyên thường vụ tỉnh ủy tỉnh Bến Tre, về Phan Thanh Giản như sau: “...
Người Bến Tre - quê hương của Phan Thanh Giản từ trước đến nay vẫn kính trọng
nhân cách, đức độ và tiết tháo của người “học trò già” sinh ra và chôn xác dưới
Gãnh Mù U, không ai xúc phạm đến ông, không coi ông là một kẻ phản bội, đầu hàng
hay bán nước...”
Cũng có ý kiến cho rằng, người nay đã dựa vào ý kiến của người xưa mà đánh giá,
nhưng ý kiến của người xưa là ý kiến nào, trong khi Nguyễn Đình Chiểu được xem
là ngọn cờ đầu của công cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ thời bấy giờ, vẫn
khóc thương khi hay tin Phan Thanh Giản mất. Nhà thơ mù đất Bến Tre bằng ngòi
bút “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” luôn có con mắt sáng khi nhìn sự việc: ông
đánh giá sự hi sinh của nghĩa binh Cần Giuộc đánh đồn, cũng như khi ông làm 2
bài thơ điếu Phan Thanh Giản với lời lẽ thắm thiết nghĩa tình: ”Minh tinh
chín chữ lòng son tạc, Trời đất từ đây mặc gió thu.”. Hay: “Lịch sự tam
triều độc khiết thân. Vi quân thùy tán nhứt phương dân.” (Trải việc ba triều
trọn sạch thân, Không ông ai đỡ một phương dân). Và trong bài “Lục tỉnh sĩ dân
trận vong”, Nguyễn Đình Chiểu còn một câu đánh giá Phan Thanh Giản, bên cạnh câu
đánh giá Trương Định như sau: “Phải trời cho mượn cán thương phá lỗ, Trương
tướng quân còn cuộc nghĩa binh; Ít người đặng xem tấm bảng phong thần, Phan học
sĩ hết lòng mưu quốc.”. Một con người như thế, làm sao có thể bán nước được.
Rõ ràng ngòi bút của nhà thơ yêu nước nổi tiếng Bến Tre không hề có một lời lẽ
nào xúc phạm đến nhân cách Phan Thanh Giản. Đành rằng, sau khi Phan Thanh Giản
mất có câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”; nhưng câu ấy căn cứ từ đâu,
ai nói thì không rõ và tại sao ta cứ phải dựa vào câu khẩu hiệu thiếu căn cứ của
những kẻ chủ chiến nào đó mà buộc ông tội bán nước.
Về
vấn đề này, chúng tôi tin ý kiến của cố học giả Ca Văn Thỉnh trong bài “Các
nhân vật cận đại tiêu biểu của Bến Tre” được dẫn qua tham luận của Nguyễn
Văn Châu. Ca Văn Thỉnh viết: “Phê phán hành động của Phan Thanh Giản, nhóm
Đông kinh nghĩa thục năm 1907 đã nhắc đến chi tiết Trương Định đề cờ “Phan Lâm
mãi quốc, triều đình khí dân”. Theo chỗ tôi biết thì người kháng chiến đồng thời
với Trương Định là Nguyễn Thông khi viết về truyện Trương Định không hề nói đến
việc đề cờ này. Chúng ta tin tiểu sử của Trương Định do Nguyễn Thông viết thời
Trương Định kháng Pháp cứu nước hay tin theo lời của nhóm Đông kinh nghĩa thục
phát biểu nửa thế kỷ sau này?”. (Kỷ yếu hội thảo khoa học về địa chí văn hóa
Bến Tre năm 1985, trang 71, bản đánh máy).
Và
nếu có đi nữa thì người dân thường vẫn đặt ra câu hỏi như Nguyễn Văn Châu đã đặt
ra: “Ông Phan mãi quốc để cầu vinh hay cầu lấy cái nhục và một chén thuốc độc
để tự hủy cuộc đời mình? Người trí thức có ai làm thế không?”. Chúng tôi
nghĩ rằng, người bình thường cũng không ai làm thế.
Nói như Minh Chi, khi đánh giá về ông: “... nhìn qua suốt cuộc đời của ông
Phan, cho đến khi ông tuẫn tiết ngày 1/ 8/ 1867, chúng ta khó có thể buộc tội họ
Phan bán nước.
Bán nước là để vinh thân phì gia, hay là bán nước rồi sẽ tự tử chết?
Trong tất cả lòng tham của con người thì lòng tham sống sợ chết là mảnh liệt hơn
cả. Phan Thanh Giản với sự tuẫn tiết, đã tỏ ra không ham sống, sợ chết; đã tỏ ra
chiến thắng được mình, là một chiến thắng khó nhất:
“Dù tại bãi chiến trường
Thắng ngàn ngàn quân địch
Tự
thắng mình tốt hơn,
Thật chiến thắng tối thượng.”.
(Kinh pháp cú - Bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu).”
Anh bạn Nguyễn Phú Lộc, giảng viên Toán học Trường đại học Cần Thơ có kể tôi
nghe một cuộc “trao đổi” giữa anh với một trí thức Hà Nội nhân chuyến đi công
tác trên chuyến tàu thống nhất Bắc Nam, về cái chết của Phan Thanh Giản theo
quan điểm của anh. Anh so sánh về hai cái chết của một võ quan Hoàng Diệu và một
văn quan Phan Thanh Giản. Anh cho rằng, cái chết nào cũng khó khăn, đáng kính.
Với Hoàng Diệu, ông đã làm tròn vai của một vị tướng bằng cái chết của người giữ
thành, hi sinh, rồi cũng phải mất thành. Nhưng xét cho cùng sự thất bại và cái
chết này có phần dễ dàng hơn vì biết mình sắp đi vào chỗ bất tử; Còn đối với
Phan Thanh Giản, sự tránh đổ máu cho binh sĩ ở thời điểm lúc bấy giờ, bằng cách
giao nộp thành trước, rồi tự chọn cho mình cái chết sau, không phải ở vào một
thời điểm quyết liệt nữa; hơn nữa, cái chết của người quân tử không chắc thành
danh thì quả khó khăn hơn và có phần nào vượt ra ngoài quy luật ứng xử thông
thường của cuộc đời, nên tôi đánh giá cái chết của Phan Thanh Giản rất đáng kính
nể. Tôi cho rằng, là vị quan đại thần từng trải 3 triều vua, học rộng, đi nhiều,
có lẽ Phan Thanh Giản thừa hiểu cách giải quyết để đi trọn con đường trung nghĩa
của một vị tướng như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu; nhưng ông không chọn cách
giải quyết cuộc đời ông theo một công thức an toàn như thế mà lại chọn cách giải
quyết có nhiều rủi ro hơn là dâng thành để một mình chịu chết. Sự tuẫn tiết của
Phan Thanh Giản, phải nói là sự quyết định của một người rất yêu cuộc sống, có
“đức hiếu sinh”. Chấp nhận cái chết chỉ riêng mình để nhiều người khác được
sống. Đó chính là cái “dũng” của bậc hiền nhân mà không phải ai cũng làm
được. Người đồng hành với anh Lộc đồng tình với anh mà tôi cũng tâm đắc nhận
định ấy.
Phan Thanh Giản được các tầng lớp trí thức và nhân dân ở các tỉnh Nam Bộ tỏ lòng
kính trọng không phải vì ông là một vị quan to, mà vì ông là một nho sĩ mẫu mực
hiếm có ở một thời kỳ
phong kiến suy tàn.
Sự
hiểu biết rộng của ông được thể hiện qua sự nghiệp sáng tác văn chương mà ông để
lại cho hậu thế. Tác phẩm của ông gồm hai bộ phận: “Lương khê thi thảo”
và “Lương khê văn thảo”. Tập “Lương khê thi thảo” có tất cả 18 quyển,
khoảng 455 bài thơ. Tập “Lương kê văn thảo” có 3 quyển, khoảng 60 bài văn, với
nhiều thể loại: biểu, sớ, ký, thư...
Qua tập “Lương khê thi thảo”, ta đã thấy ngay sự chân thành, trung thực của một
con người công minh, chính trực, nhân nghĩa và giàu lòng yêu nước, thương dân.
Một số bài thơ được giới nghiên cứu nhắc đến nhiều, như: “Giao hành”, “Quá xuân
thủy kiều”, “Thất phách tác”, “Thu nhật thư hoài”, “Mạch liễu”, “Vãn độ ngâm”,
“Dã độ”, “Sơn hiểu”, “Thái”, “Thiên cư”, “Thanh minh”, “Quy đồ”, “Giã biệt”, “Mỹ
An dạ phát”, “Ngưu Tân vãn phát”, “Đồng sào điểu ca”, “Khách cảm”, “Mỹ An thư
cảm”, “Ký gia thư”, “Trừ tịch”, “Giang hứng”, “Nam Phố xuân mộ”, “Thu hiểu”,
“Toái cầm thi khốc Lê Bích Ngô’, “Thu hoài”, “Thuật chinh”, “Độ quan”, “Sơ hạ”,
“Hải thượng ngâm”, “Chu vọng Nam trung chư sơn”, “Trường cảnh dạ bạc”, “Ngẫu
thành”, “Phát lục khẩu đường”, “Đăng Hoàng hạc lâu”, “Thụy khởi tức sự”, “Vọng
đô đồ trung vãn diểu”, “Hạnh trang bảo vãn hứng”, “Độ hoài”, “Đằng Giang dạ
bạc”, “Quảng Ngãi thư cảm”, “Lương”, “Ngẫu thành”, “Ai Quân nhi”, “Tuế Đán”, “Ký
nội”, “Đi sứ sang Pháp”, “Việc nước không thành”...
Nội dung của các bài thơ thường xoay quanh chủ đề tình cảm của ông đối với thiên
nhiên, làng xóm, con người. Qua đó nói lên tâm trạng của ông với quê hương, đất
nước và tình yêu thương dân nghèo.
Tình yêu quê hương, đất nước trong “Lương khê thi thảo” là ơn vua, lộc nước. Lúc
nào ông cũng canh cánh bên lòng và cảm thấy ái ngại vì mình chưa làm được gì
nhiều cho đất nước, quê hương. Tự thẹn mình chưa làm được gì cho quê nhà để
quyết tâm tu dưỡng đạo đức, ấy cũng là lẽ sống của ông. Ông viết trong bài “Thu
hoài” như sau:
“Lạm
dữ thiên quan đồng ác trạch,
Dã
vô thốn hiệu đáp hồng từ.
Hoàng Châu tuế vãn trường ngâm vọng,
Đa
phụ môn lư thiện dưỡng kỳ.”.
(tạm dịch: “Trót dự ơn triều đình với bá quan, nghĩ chưa làm được gì để báo đáp,
trên đất Hoàng Châu năm hết, ngâm nga đợi ngày về, thấy mình phụ tình của quê
hương mà gắng sức trau dồi.”)
Trong bài “Trú trực”, ông lại băn khoăn lo về gánh nặng nợ nước, ơn vua
mà nghĩ đến sự báo đáp. Ông viết:
“Quốc
ân hà tự sùng thâm báo,
Độc ỷ nguy lan tọa tịch dương.”.
(tạm dịch: “Ơn nước không biết làm thế nào đền đáp cho xứng, một mình ngồi dưới
ánh chiều tà ngẫm nghĩ.”)
Hay trong bài “Đăng Bảo Định đồn”, ông lại viết:
“Ngọc
Quan mạn đạo lao đầu bút,
Bạch thủ trường kham báo quốc ân.”.
(tạm dịch: “Dùng ngòi bút luận bàn đến việc ra biên ải, đầu bạc vẫn còn có thể
báo đáp ơn nước.”)
Lòng yêu nước của ông lúc nào cũng gắn với tình thương yêu dân ngèo. Trong bài
“Tòng quân”, ông nói về nổi khổ của dân hai huyện:
“Ai
thử nhị huyện dân,
Hướng chuyển diệc lao lục.
Thu quý thuộc vũ lạo,
Sơn khê thậm du mạc.”.
(tạm dịch: “Thương cho dân hai huyện, khổ cực vì vận lương, mùa thu thì mưa lũ,
làng mạc cách trở vì khe suối, núi đồi.”)
Trong bài “Thanh Nghệ đạo trung”, ông nói về nỗi khổ của người dân xứ này
và tấm lòng của ông khi nghĩ về họ:
“Mễ
giá bình Thanh Nghệ,
Lưu dân thử quả quan.
Giai triều đình xích tử
Thùy nhẫn bất tương quan.”.
(tạm dịch: “Giá lúa gạo ở Thanh Nghệ đã bằng nhau, dân lưu xứ là dân góa bụa, là
con dân của triều đình, ai nỡ xem không liên quan đến mình.”)
Phan Thanh Giản rất quan tâm tới đời sống người dân trước nạn thiên tai khắc
nghiệt. Có những đêm ông không ngủ được vì những điều trăn trở ấy. Trong bài “Thu
dạ độc khởi”, ông viết:
“Bát
nguyệt thượng viêm nhiệt,
Nam mẫu khát dư ba.
Tiết hậu tùy niên dị,
Tinh thần vận khí hòa.
Trung dạ chính độc khởi,
Kiều thủ vọng minh hà.
Vi
vân động thiên tuế,
Hoàn khủng phong vũ đa.”.
(tạm dịch: “Tháng tám trời còn nóng, ruộng đồng khô thiếu nước, thời tiết mỗi
năm khác, lẽ tuần hoàn chuyển vận, giữa đêm một mình thức giấc, ngẩng đầu trông
trời đất, thấy mây chuyển động khắp trời, lại sợ mưa to, gió lớn.”)
Đi
làm quan xa gia đình, nên trong thơ Phan Thanh Giản có rất nhiều bài thơ nói về
nỗi nhớ làng xóm, gia đình. Ông nhớ nhiều về làng quê nghèo của ông, với tên gọi
“Gãnh Mù U” nghe quê mùa, nhưng hết sức thân thương đối với ông. Ông nhớ thương
mái tranh nghèo còn đó một cha già mà ông không có điều kiện chăm sóc. Chẳng
hạn, trong bài “Nam phố xuân mộ”, ông nói lên nỗi nhớ rất thắm thiết:
“Đông
phong phiến thục khí
Bạch nhật dương triêu hy
Du
nhiên khởi dao tứ.
Lộ
viễn mạc trí chi.
Ngã gia tại hà xứ.
Mai dã thiên chi nhai,
Mao thứ lưỡng tam gian.
Tang thác ủng sài phi.
Cao đường hữu lão thân.
Ban ban mấn dục ti.
Bình sinh sự diễn du.
Hoàn gia năng kỷ thì.”.
(tạm dịch: “Gió đông mang lại hơi quen, mặt trời gieo ánh sắc, lòng chợt buồn
nhớ quê nhà, mà đường xa biết làm sao được. Nhà ta hiện ở chỗ nào, chốn quê xa
tận chân trời, có vài gian nhà lá, được chống đỡ bằng những thanh củi gỗ, trong
nhà, còn lại một cha già, mái tóc bạc trắng như tơ, lúc trẻ bận việc đi xa,
không thường có dịp về thăm.”)
Quê hương gắn với giếng làng, con chim bay về núi, cảnh trâu bò sớm tối đi về,
việc cấy cày cũng có lúc bận rộn, có lúc nhàn nhã ..., ông nghĩ về những sinh
hoạt ấy mà lắm lúc cũng muốn quay về cố hương. Trong bài “Chu vọng Nam trung
chư sơn”, ông ghi lại tình cảnh này như sau:
“Hành
khách tự hương tỉnh,
Phi điểu hoàn cố san.
Ngưu dương diệc hạ lai,
Xuất vân hữu quy hoàn.
Du
tử diệc hà tâm,
Cửu nại vi đình hoan.
Nam trung ngũ lục nguyệt,
Canh giá do vị nhàn.”.
(tạm dịch: “Người đi nhớ giếng làng, chim bay về tổ ấm, trâu bò trở về chuồng,
mây bay về chỗn cũ, còn ta nỡ lòng nào, lỗi đạo hầu mẹ cha, nhớ miền Nam vào
tháng 5, tháng 6, vẫn còn cảnh nông nhàn.”)
Quê hương còn là mảnh đất thân yêu của ông, ông nhớ tới thành nam, nhớ những nơi
đã từng gắn với ông bao kỉ niệm thời niên thiếu, những nơi ông đã từng làm việc
nhiều năm, trong những lần ông đi trấn nhậm chức quan... Trong bài “Đăng
Quảng Bình thành lâu”, ông viết:
“Cố
trai hương tứ cưỡng đăng lâu.
Vạn lý quan hà nhất vọng thâu.
Tá
vấn nam thành hựu hà xứ.
Ngũ vân nồng lý thị Thần châu...”.
(tạm dịch: “Nặng tình làng xóm cũ mà cố bước lên lầu, nhìn cho hết cảnh núi
sông, đó chẳng thành nam thì còn xứ nào nữa, mây ngũ sắc nồng thắm ấy là chốn
kinh kỳ.”)
Có
những lúc trên đường rong ruổi, ông cũng muốn trở về quê cũ, nhà xưa để tìm được
sự hồn hậu thuở ban đầu. Trong bài “Hải Thượng ngâm”, ông viết:
“Khủng
thử diệc ngẫu nhiên,
Hà
tất cùng kỳ quỷ
Bất như quy tệ lư,
Ngã tâm hữu thái thủy.”.
(tạm dịch: “Sợ điều ấy mất đi vẻ tự nhiên, cần gì phải nghĩ điều giả dối, không
bằng ta trở về lều nát, lòng ta có được lại sự bình an buổi đầu.”)
Cuộc đời Phan Thanh Giản là cả một chuỗi ngày dài phấn đấu kiên trì, bền bỉ cho
công việc vì nước, vì dân. Nhưng, có đôi khi ông cũng cảm thấy gánh nặng của
công việc đè nặng lên tuổi tác ông, rồi tính chất phức tạp của thời cuộc không
dễ gì giải quyết, khiến lòng ông không tránh khỏi một nỗi buồn tê tái, xót xa.
Đọc bài “Việc nước không thành” với những ý mở đầu các câu thơ: “lăm...”,
“đành cam...”, “cũng tưởng...”, “nào hay...” đủ để ta thấy sự chua xót dâng
trào, tận trong cõi lòng ông:
“Lăm
trả ơn vua đền nợ nước
Đành cam gánh nặng ruổi đường xa.
Lên ghềnh xuống thác thương con trẻ,
Vượt biển trèo non cám phận già.
Cũng tưởng một lời an bốn cõi
Nào hay ba tỉnh lại chầu ba!”.
Nói chung, theo Hoàng Như Mai, “Thơ của Phan Thanh Giản là tiếng đoạn
trường của một người công minh, chính trực, nhân nghĩa, yêu nước thương dân,
nhưng ra làm quan trong thời kì đất nước rối ren, triều đình ngu hèn nên bị đẩy
vào thế lưỡng nan, rút cuộc thành tội nhân của lịch sử.”.
Còn tập “Lương khê văn thảo”, nói lên tấm lòng , suy nghĩ của một vị
quan lúc nào cũng nghĩ đến việc tận trung với vua, với nước; không ngừng nung
nấu rèn giũa tài đức; luôn đứng về phía dân lành, quý trọng công cha, ơn thầy,
nghĩa tình bè bạn; sẵn sàng bênh vực lẽ phải, công lý.
Một số bài văn được giới nghiên cứu nhắc đến nhiều, như: “Biểu tạ ơn ban chức
Tham hiệp Quảng bình”, “Biểu tạ ơn nhậm chức Hồng lô tự khanh, sung Giáp phó sứ
sang Thanh”, “Biểu tạ ơn ban chức Đại lý tự khanh, sung Cơ mật viện”,
“Biểu tạ ơn chức Hữu thị lang bộ Hộ”, “Biểu tạ ơn bổ chức Binh bộ Hữu tham tri”,
“Biểu tạ ơn trao chức Thượng thư bộ Hình”, “Sớ thỉnh an của tỉnh Quảng Nam”, “Sớ
bày tỏ việc bàn giáng tội nhẹ cho Vương Hữu Quang”, “Tuân dụ dâng sớ điều trần”,
“Bài tựa tập thơ của Đặng Thuận Xuyên”, “Bài tựa cho sách Học văn dư tập của
Trương Diên Phương”, “Bài văn điếu Ngô Sư Mạnh”, “Thư gửi người bạn”, “Bàn về
vấn đề trong bản tính không có lòng hiếu đễ”, “Luận về hiếu đễ là gốc của đức
nhân”, “Phụng ngữ đề luận về hiếu danh”, “Phụng ngữ đề luận về văn thần không
ham tiền”, “Phụng ngữ đề luận về Thái Bá ba lần nhường thiên hạ”, “Bài tụng về
thị học”, “Bài minh trên bia mộ của Thái bảo cần chánh điện Đại học sĩ Đức quốc
công Phạm Trung Nhã”, “Văn bia của Gia Định xử sĩ dựng ở mộ Võ Trường Toản tiên
sinh”, “Di sớ tâu lên vua Tự Đức”, “Cùng Nguyễn tri Phương dân sớ điều trần tám
việc chánh trị”, “Sớ tâu vua xin về hưu”, “Vĩnh Long thánh miếu bi”, “Công thư
của Phan Thanh Giản gởi quan Tổng đốc An Giang, Hà Tiên để trao thành”, “Lời
trối trăng”, “Lời đáp những người đến thăm”, “Hai mươi bốn chữ đề trên “Minh
tinh””...
Trong các bài biểu tạ ơn, ông đều viết với tất cả tấm lòng chân thành và sự
khiêm cung vốn có. Tự nhận thấy mình không tài năng nên ông luôn gắng sức tu
dưỡng phẩm chất đạo đức. Chẳng hạn, trong “Biểu tạ ơn ban chức Tham hiệp
Quảng Bình”, ông viết: “Thần chỉ biết nung nấu giũa rèn tài kém cõi, thề
dốc hết tâm tư. Tấc gang không dám trái, kính thái dương soi trên coi; nhỏ nhoi
gắng nên công, mong báo đáp ơn sông biển.”.
Trong tờ biểu tạ ơn khác, Phan Thanh Giản viết: “Xét thần ngu độn tự bản
tính, hiểu biết có hạn mà sự lý vô cùng, tâm muốn tiến mà lực không kịp theo,
đành chỉ tự học, mọi việc theo người. Cho nên tuy rong ruổi bắc nam mà rốt cuộc
chưa có công lao gì đáng; vả lại ngày đêm gắng sức, cũng không có thực trạng gì
đáng nêu.”.
Trong “Biểu tạ ơn trao chức Thượng thư bộ Hình”, ông lại viết: “Thần
chỉ biết gắng dốc tấm ngu trung, cúi dâng tâm mộc mạc. Thận trọng xót thương
dân, kính theo đức thánh, nghĩ nhậm chức phải thành tâm; yên thái hòa bình, gợi
ơn nhân hậu, hưởng lành may mãi dạt dào.”.
Phan Thanh Giản là vị quan nổi tiếng thẳng thắn. Ông phê bình, góp ý không kiêng
nể ai, kể cả vua. Ông đã nhiều lần đứng ra khuyên vua điều hay, lẽ phải mà không
hề sợ bị bắt tội.
Vì nếu sợ thì chắc là ông đã im lặng rồi. Trong các bài sớ, ông không vì bổng
lộc, chức quan mà tránh né điều phải nói thẳng, điều cần can gián vua, điều
khuyên vua nên làm. Chẳng hạn, Trong “Sớ thỉnh an của tỉnh Quảng Nam”,
Phan Thanh Giản viết: “Thần tự biết, việc dỗ an dân lành có nhiều sai phạm,
không chốn thoát tội; nhưng dân lành địa phương đang trong tình trạng này, không
dám không điều trần sự thực. Muôn vàn ngửa trông thánh thượng từ bi, xót cứu nạn
dân, tạm dừng xe ngự; để giúp cho tiểu dân dồn sức cùng ruộng đồng.”
Còn trong sớ tâu vua Minh Mạng năm 1828, Phan Thanh Giản lại viết: “Mưa to và
nạn lụt lội là những triệu chứng không tốt, hạ thần cúi xin thánh thượng tự sửa
mình làm điều nhân đức mà giảm bớt số cung nữ, phi tần. Như thế là thánh hoàng
làm theo ý thiên địa, bách tính sẽ được sung sướng.”.
Trong “Tuân dụ dâng sớ điều trần”, nếu không là người thương dân làm sao
ông có thể đứng về phía dân mà tố cáo bọn quan lại địa phương, đề nghị nhà vua
mạnh tay trừng trị bọn sâu dân, mọt nước cho được: “Vậy cho nên thuộc lại
ngày càng quỷ quyệt, dân lành ngày một bần cùng, người lưu lạc bị khai khống số
ma; ngày trước các đại thần có trần tấu các khoản nhưng so với những điều thần
nghe thời còn chưa được 3, 4 phần 10 vậy. Rất sợ rằng, nếu thuốc trị không gấp
thời bệnh hại càng lan, rồi việc phòng vệ biên cương, không làm sao mà vững được.”
Cuối sớ, ông nhắc cho vua một chân lý trị nước, đó là phải “an dân”. Muốn cho an
dân, ông “hối thúc” vua phải trị bọn hại dân: “...ý niệm an dân, sau trước
chuyên cần. Để cho luân thường rộng khắp, hành hóa lớn lao, sáng láng trị bình,
chỉ mong Hoàng thượng một lòng thi hành, nghĩ cũng không phải khó.”
Đặc biệt là lá sớ năm 1852, ông cùng Nguyễn Tri Phương điều trần 8 việc chính
trị. Có thể nói thêm rằng, trong số các điều trần do 2 vị quan này đề nghị, có
những điều không khéo dễ bị vua buộc tội, gây ra hậu quả thiệt thân mà người
bình thường ai cũng có thể cân nhắc bằng cách im lặng. Nhưng họ không làm như
vậy. Điều này đủ để nói lên đức tính trung thực và dũng cảm ở họ. Xin lược ý 8
điều này như sau: “Xin vua cẩn thân các việc chơi bời; Xin đừng ham coi hát
xướng, cần lo chánh nước là hơn; Xa tránh những kẻ thấp hèn lanh lợi; Xin vua
chuộng điều tiết kiệm, bớt việc lãng phí xa hóa mà thương xót cho dân, giữ gìn
đất nước; Xin bớt kẻ cận thần và giữ theo phép tiền triều thuở trước; Xin lựa
người trung lương mà dụng; Xin bớt công việc cho lính rảnh rang để thường thường
rèn tập trận đồ...; Xin vua thêm lương bổng cho hậu để các quan trau dạ thanh
liêm, giữ lẽ công bằng, không ham hối lộ cho khỏi hại dân lành.”
Sau tờ sớ này, Phan Thanh Giản được Tự Đức thưởng cho một tấm kim khánh có khắc
bốn chữ “Liêm, Bình, Cần, Cán” chính là ở tờ sớ này. Rõ ràng, 8 điều
Phan Thanh Giản và Nguyễn Tri Phương nêu ra, đó không chỉ là điều khuyên cho vua
mà còn là bài học cho chúng ta ngày nay. Trong một xã hội mà tệ tham ô, hối lộ,
lãng phí đã đến mức có thể gọi được là “quốc nạn” thì rất cần những người lãnh
đạo cấp trên biết nghe và những lãnh đạo cấp dưới có tấm lòng và nhân cách thẳng
thắn như hai ông. Tâm sáng này ở Phan Thanh Giản đáng để hậu thế lưu danh.
Trong “Luận về hiếu để là gốc của đức nhân”, Phan thanh Giản quan niệm về
đạo đức cần phải có ở một người rất rõ ràng, ông viết: “Đứng đầu tứ đức là
nhân. Nhân chủ về lòng yêu thương, lòng yêu thương thì không gì lớn hơn là
thương yêu cha mẹ. Gần gũi với người thân mà nhân đức với dân, nhân đức với dân
mà yêu muôn vật, đều là những biểu hiện của đức nhân không bao giờ hết vậy.”
Còn trong “Phụng ngự đề: luận về văn thần không ham tiền”, ông nói về sự
liêm chính là cái gốc của “hưng thịnh”. Vì vậy, theo ông là cần phải dẹp trừ tệ
tham ô, nạn ăn của đút lót, mà ông gọi là “tục hủ lậu” như sau: “Dẹp trừ tục
hủ lậu này, cứu vãn làn sóng suy đồi, ở nơi giàu có mà chẳng tham vơ vét, sống
cảnh thanh bần mà đức sáng càng ngời, đặt nền dựng nếp, tiết tháo luyện rèn, sao
cho lúc thoái triều có phẩm đức cao khiết, khi ở phủ không đục khoét dân lành.
Được thế thì giáo hóa có thể thi hành, lễ nhạc có thể hưng lên được vậy.”
Một khía cạnh nữa thuộc về đạo đức, nhân cách của Phan Thanh Giản, nghĩ cũng nên
nhắc lại là lá sớ tâu vua xin về hưu năm 1865. Ông viết: “Khi đến tuổi 70 thì
con người mảnh khảnh như cây sậy, như một cây liễu sầu đã chịu nhiều phong ba,
như con tuấn mã đuối sức không thể tiếp tục đường trường dù nó có thương chủ nó
đến mấy đi nữa. Thần thấy đã bất lực nếu còn tiếp tục sứ mạng e sự lầm lẫn của
thần làm rắc rối việc quốc gia.”
Không mấy người tự nguyện rời bỏ cương vị mình nắm giữ với ý nguyện như Phan
Thanh Giản, nên chúng tôi xem đây là một khía cạnh đạo đức, nhân cách đáng học ở
ông. Mặt khác, ông đã lường trước được điều họa cho mình mà có lẽ cái số của ông
cũng không tránh khỏi, khi Tự Đức không chuẩn y cho ông, lại bắt ông phải hoàn
thành sứ mạng đã giao phó. Thử đặt trong trường hợp ấy, ai là người có thể hoàn
thành được sứ mệnh bất khả thi nầy. Chúng tôi rất tâm đắc với nhận định sau đây
của Hoàng Lại Giang: “Sau khi Gia Định thành thất thủ, triều đình nhà Nguyễn
đã thấy không còn sức chống đỡ được nữa, cho nên, đáng lẽ phải phái vào Nam Kỳ
một vị quan võ giỏi nhất, năng lực nhất của triều đình thì đình thần lại nghị cụ
Phan, một quan văn vào chống đỡ!”.
Hoàng Lại Giang còn đưa ra một nhận xét đáng để suy nghĩ: “Nhưng cụ Phan đã
không làm được việc ấy. Và giả sử vua Tự Đức có cử bất kỳ ai vào thay cụ Phan
chắc chắn cũng không ai giữ được 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ.” thì tại sao cả vua
quan nhà Nguyễn không dũng cảm đứng ra nhận trách nhiệm này, mà bắt tội một mình
Phan Thanh Giản. Còn chúng ta, có một số người lại cho ông là “bán nước”.
Một vấn đề nữa cũng được người đời sau quan tâm khi nói về Phan Thanh Giản là vì
sao ông lại “đầu hàng giặc” quá sớm như vậy? Có sai lầm gì đây trong chủ trương
của ông, hay ông sớm khiếp sợ trước sức mạnh súng đạn tối tân của giặc Pháp mà
không đủ dũng khí đứng lên đánh giặc.
Có
lẽ nói là chủ trương thì không thể là chủ trương của ông. Vì ông chỉ là vị quan
thay mặt cho triều đình nhà Nguyễn nên ông phải lĩnh thị mệnh vua mà thực thi.
Nhưng khi ông đến Nam Kỳ thì thế giặc không để cho ông được toàn ý thực thi điều
ấy. Nói như Hoàng Lại Giang “Trên chiến trường đã như thế, thì tôi nghĩ,
không thể có một nhà ngoại giao nào lại có thể thay đổi được tình thế.”.
Nhưng tại sao ông nộp thành, kêu gọi bãi binh?
Ông viết trong công thư gửi Quan tổng đốc An Giang, Hà Tiên như sau: “Mỗi lần
chiến đấu là mỗi lần thêm đau khổ cho ta. Người Phú Lang Sa có chiến thuyền to,
chở đầy quân và võ trang bằng đại bác. Không người nào có thể chống lại. Người
Phú Lang Sa muốn đến đâu cũng đặng, những đồn lũy chắc chắn cũng phải bể.
Bản chức van vái Trời, bản chức nghe theo lẽ phải và tự nhủ: “Mình còn ngốc khi
mình đánh người Phú Lang Sa hằng võ khí, cũng như con nai muốn bắt con cọp.
Mình lại kéo về phe mình một cách vô ích những tai hại lớn, để tai hại ấy đè lên
đầu dân mà Trời đã giao cho mình chăn.
Vậy bản chức viết công thơ cho các quan văn cũng như cho các tướng võ hãy bẻ gãy
giáo và gươm, giao thành trì khỏi chống lại.
Nhưng nếu bản chức tùy theo thiên ý mà tránh đỡ giùm dân đem tai hại rớt trên
đầu họ, bản chức trở thành phản thần đôiứ với hoàng đế của ta vì bản chức trao
ba tỉnh của Hoàng đế cho Phú lang Sa mà không chống cự. Bản chức đáng tội
chết.
Hỡi các quan và lê dân, các người có thể sống dưới sự điều khiển của người Phú
Lang Sa, những người này chỉ đáng sợ trong lúc chiến tranh mà thôi, nhưng lá
cờ ba sắc không thể bay phất phới trên một thành lũy mà nơi ấy Phan Thanh Giản
còn sống...”.
(chỗ in đậm là chỗ chúng tôi muốn nhấn mạnh)
Có
lẽ như vậy là quá rõ để chúng ta hiểu về những gì ông suy nghĩ. Nhưng do đâu mà
Phan Thanh Giản có suy nghĩ như vậy? Phải chăng, nói như Trương Minh Hiển,
cái biết quá sớm của ông về “thế” và “lực” của nước Pháp ở châu Âu lúc ấy qua
những lần ông đi sứ, đã cho ông có một cái nhìn so sánh tương quan lực lượng
giữa địch và ta, mà đi đến quyết định nộp thành. Mặt khác, như chúng ta biết
trước khi Phan Thanh Giản lãnh sứ mệnh vô Nam lần cuối, Phan Thanh Giản dư hiểu
về thất bại của vị tướng oai dũng nhất triều đình nhà Nguyễn lúc đó là Tổng
thống quân vụ đại thần Nguyễn Tri Phương. Với sự cố thủ đại đồn Chí Hòa (1861),
Nguyễn Tri Phương đã bị quân Tây Dương đánh bại tan tác chỉ vỏn vẹn 2 ngày rưỡi!
(trong trận này, Nguyễn Duy, em ruột Nguyễn Tri Phương bị tử trận. Phạm Thế Hiển
bị thương. Rồi chính Nguyễn Tri Phương cũng bị trúng đạn!), mà trước đó một năm
trời ông được toàn quyền điều động mấy vạn dân binh tu bổ thành theo ý muốn,
tiền muôn bạc trượng đã dồn vào thành lũy này. Vậy thì sự chiến đấu như thế được
gì ngoài mấy chữ “dũng cảm, kiên cường” mà con dân phải gánh chịu mọi tai họa
của chiến tranh.
Yêu nước cũng có năm bảy đường, nhưng cái chính là ở thương dân. Tôi cho rằng,
Phan Thanh Giản xử sự như thế không ngoài hai chữ “thương dân”, chứ không đầu
hàng Tây. Ông đã thề không cùng sống với bọn giặc Tây bằng lời lẽ hết sức
quang minh và rắn rỏi ngay trong bức thư mà ông gửi cho 2 vị quan Tổng đốc miền
Tây: “Hỡi các quan và lê dân, các người có thể sống dưới sự điều khiển của
người Phú Lang Sa, những người này chỉ đáng sợ trong lúc chiến tranh mà thôi,
nhưng lá cờ ba sắc không thể bay phất phới trên một thành lũy mà nơi ấy Phan
Thanh Giản còn sống...”.
Nhân cách lớn của nhà nho Phan Thanh Giản được thể hiện rõ trong suốt quá trình
làm quan của ông, từ cách hành xử đến những suy nghĩ đều dựa trên nền tảng của
“nước và dân”, đều dựa trên nền tảng “luân lý Nho giáo”. Ông đã học tập và không
ngững tu dưỡng, thể hiện nó từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội, từ thuở
thiếu thời cho đến lúc lão lai, cả ở những giây cuối đời, ông cũng bộc lộ rõ
phẩm hạnh ấy.
Trong lời trối trăng ngày 19/ 7/ 1867, ông dặn lại con cháu một chân lý sống là:
“không được dục lợi cầu vinh mà làm những điều nhẫn tâm hại lí”; đồng
thời, ông cũng đã nghĩ tới con đường chấn hưng đất nước. Theo ông, không có con
đường nào khác ngoài sự canh tân, học hỏi cho bằng Âu Tây, thì mới mong có ngày
rạng rỡ quê hương, Tổ quốc. Ông viết: “Ta đã biết rõ cơ trời. Dầu làm thế nào
cũng không qua thiên ý định. Vậy khi ta thác rồi, ai nấy cứ an cư lạc nghiệp lo
việc học hành. Không nên dục lợi cầu vinh mà làm những việc nhẫn tâm hại lý. Nay
ta đã tuổi cao sức yếu, thành ra kẻ vô dụng cho nước nhà, dầu có thác cũng không
đủ tổn hại cho quê hương, còn ta sống cũng không đủ ích lợi cho xứ sở.
Hãy cố học hỏi cho bằng người Âu Tây. Hãy rán phò vua giúp nước, toan lo hết sức
người, họa may sau này đặng vẻ vang cho Tổ quốc.”.
Từ
ngày ông mất đi, người dân, ít nhất là dân các tỉnh vùng Tây Nam Bộ vẫn luôn một
lòng kính trọng ông. Họ tôn kính ông vì ông là người có nhân cách lớn. Nhân cách
lớn hiếm có này đã được Hoàng Lại Giang liệt kê đầy đủ qua nhận định:
“Không
phải ngẫu nhiên mà vua Tự Đức tặng cho cụ Phan bốn chữ: “Liêm - Bình - Cẩn -
Cán”.
Tôi không nhắc lại vị đại thần liêm khiết vào hàng số 1 triều Nguyễn, Phan Thanh
Giản.
Tôi cũng không nhắc lại lòng thương dân vào loại hiếm của một vị đại thần như cụ
Phan Thanh Giản.
Tôi cũng không nhắc lại tính cương trực của cụ Phan ngay cả đối với vua như Minh
Mạng.
Tôi cũng không nhắc lại sự chịu thương chịu khó đúng là “ăn mắm mút dòi” để học
và đạt tới học vị tiến sĩ.
Tôi cũng không nhắc lại lòng hiếu đễ đối với bậc sinh thành, thầy giáo, những ân
nhân đã từng giúp đỡ cụ trong những năm tháng gian nan của cuộc đời.
Bởi tất cả báo chí trong và ngoài nước đã viết khá đầy đủ. Và ở đây tôi tin rằng
nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả chắc cũng đồng cảm với tôi về nhân cách cụ
Phan Thanh Giản.”.
Có
một thực tế mà ai trong chúng ta cũng thừa nhận là “sự công bằng của lịch sử”.
Nói như Minh Chi, cần trả lại công bằng lịch sử cho ông. Còn nói là “phục hồi
danh dự” thì không cần, vì cũng theo tác giả này: “... suốt cuộc đời ông
(Phan Thanh Giản) chưa từng bao giờ đánh mất danh dự, dù là sau Hòa ước Nhâm
Tuất 1862, và sau cả sự kiện để mất ba thành Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên...”.
Có
thể cách hành xử của Phan Thanh Giản chưa được sự nhất trí trong nhận định đánh
giá của giới nghiên cứu chúng ta, nhưng trong dân thì Phan Thanh Giản vẫn luôn
được tôn kính và “sắc phong” như một vị thần. Chí ít là người dân Vĩnh Long, Bến
Tre, quê hương ông, họ vẫn luôn tôn thờ ông trong hiện tại và cũng như trước
đây.
Hiện nay thì khu mộ phần và nhà thờ ông ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, cũng như
khu Văn thánh miếu ở thị xã Vĩnh Long đã được nhân dân tự nguyện đóng góp trùng
tu lại khá khang trang hơn sinh thời ông mong mỏi. Thành phố Mỹ Tho đã có đường
mang tên Phan Thanh Giản chạy dọc theo bờ Đông sông Bảo Định chia đôi thành phố,
cũng là ước nguyện lâu đời của dân. Còn trước đây: “Khu mộ Phan Thanh Giản
được Ủy ban Quốc gia bảo tồn cổ tích của chính quyền Sài Gòn xếp vào loại cổ
tích liệt hạng. Trường tiểu học Cộng đồng Bến Tre từ sau năm 1946 mang tên là
Trường tiểu học Cộng đồng Phan Thanh Giản. Tên ông cũng được đặt cho một con
đường lớn trong thị xã Bến Tre, thị xã Vĩnh Long, Kiên Giang... Tượng ông đúc
bằng đồng tại trung tâm công trường An Hội, thị xã Bến Tre. Phan Thanh Giản và
Nguyễn Đình Chiểu là hai nhân vật được đặt tên cho nhiều công trình văn hóa từ
trước cho đến ngày giải phóng năm 1975.” (dẫn
theo Nguyễn Văn Châu).
Trong số những người theo khuynh hướng đánh giá không xem Phan Thanh Giản là
“người bán nước cầu vinh” và là người có nhân cách lớn, chúng tôi đặc biệt quan
tâm tới ý kiến và lập luận của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt, khi ông đánh giá về
Phan Thanh Giản: “... Tôi cũng muốn nhắc lại câu nói như một tuyên ngôn của
Phan Thanh Giản khi biết chắc ba tỉnh miền Tây đã rơi vào tay giặc: “lá cờ ba
sắc không thể phấp phới bay trên một thành lũy mà nơi ấy Phan Thanh Giản còn
sống.”
Với “tuyên ngôn” này và những gì tôi đã trình bày, tôi khẳng định rằng: Phan
Thanh Giản là một người yêu nước, thương dân mà lo không tròn bổn phận, cụ đã tự
làm bản án cho chính mình: đó là cái chết. Một cuộc đời thanh sạch, thật đáng để
lại gương soi cho hậu thế...”.
3.
Để
kết thúc, người viết xin trích dẫn lời trối sau cùng của Phan Thanh Giản để ta
hiểu được thêm về một nhân cách lớn ở ông: “Khi ta chết rồi, phải đem linh
cửu về chôn tại làng Bảo Thạnh, bên cạnh phần mộ tổ tiên. Còn tấm minh tinh hãy
đề: “Đại Nam hải nhai lão thơ sinh tính Phan chi cữu” (*), diệc dĩ thử
chí mộ.”. (sở dĩ ông dặn thêm 5 chữ “diệc dĩ thử chí mộ” là vì sợ con cháu
lại khắc cả phẩm hàm của ông lên bia mộ). (* tạm dịch: “quan tài của thơ sanh
già họ Phan góc biển (nước) Đại Nam”)
Và lời đáp sau cùng của ông với người thân quyến khi họ thắc mắc hỏi ông, sao
không đề chức tước trên bia mộ: “Những hạng thường nhơn hay cầu chức khoe
danh. Ta xem sự ấy là một việc hổ thẹn.”.
Và lời dặn thêm ba người con:
“Mấy
bộ sách của ta để lại, đó là sự nghiệp quý báu. Chúng bây giờ phải gìn giữ, rán
học hành và đừng làm một chức quan gì hết. Anh em nên ăn ở thuận hòa, nhứt là
phải thương mến quê hương, thân tộc.”.
Viết
bài này, người viết vẫn mong đợi một ngày nào đó thế hệ trẻ đi trên đất “Nam Kỳ”
sẽ được đi trên những con đường mang tên ông, đến những nơi tưởng nhớ ông, học
trong những ngôi trường mang tên ông và ngày đó chắc chắn sẽ là niềm vui lớn của
mỗi người dân Nam Bộ luôn tự hào có ông là một người con ưu tú của mảnh đất vừa
mới được khai phá hôm qua.
8/
2006
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoàng Lại Giang, 1996, Phan Thanh Giản nỗi đau trăm năm, Nxb. Văn
học, Hà Nội.
2.
Phan Thị Minh Lễ, Chương Thâu, 2005, Thơ văn Phan Thanh Giản, Nxb. Hội
nhà văn, Hà Nội.
3.
Nguyễn Duy Oanh, 2003, Phan Thanh Giản Cuộc đời và tác phẩm, Hội Khoa học
lịch sử xuất bản.
4.
Hội Khoa học Lịch sử, 2006, Thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh
Giản, Nxb. Đồng Nai.