Chưởng
cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh,
nhân
vật lịch sử có nhiều ngộ nhận đáng
tiếc
Nguyễn
Hữu Hiệp
Nguyễn Hữu Cảnh
nguyên danh Nguyễn Hữu Lễ, lại có tên là Nguyễn
Hữu Kính. Người miền Nam hiểu KÍNH và KỈNH
cùng nghĩa, nên đă gọi kiêng (lần 1) tên KÍNH là
KỈNH, rồi gọi trại (lần 2) KỈNH thành KIỂNG,
sau lại do hiểu rằng KIỂNG và CẢNH cũng cùng
một nghĩa nên gọi trại (lần 3) là CẢNH -
Nguyễn Hữu Cảnh.
Theo chính sử triều
Nguyễn cho biết năm Mậu Dần (1698) từ Phú
Xuân (Huế), chúa Hiến Tông Hiếu Minh Hoàng đế
Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725) sai Trấn thủ B́nh Khương
(Nha Trang) là Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng
đất mà chúa đă chỉ định cho bọn
Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến, Trần
Thượng Xuyên và Trần An B́nh là di thần nhà Minh không
chịu thần phục tân triều nhà Thanh, đem 3.000 hàng
quân cùng gia quyến và 50 chiến thuyền đến cư
trú, xin làm dân Đại Việt. Lúc bấy giờ nơi
này đă được khoảng 40.000 hộ, bao gồm
cả người bản địa và lưu dân (Việt,
Hoa, Khmer).
Ông Nguyễn Hữu Cảnh
ra sức ổn định dân t́nh, hoạch định
cương giới xóm làng, lấy đất Nông Nại
đặt làm Gia Định phủ, lập xứ
Đồng Nai là huyện Phước Long, dựng dinh
Trấn Biên, lấy đất Sài G̣n làm huyện Tân B́nh,
dựng dinh Phiên Trấn. Mỗi dinh đặt chức
Lưu thủ, Cai bạ và Kư lục để quản
trị. Nha thuộc có 2 ty là Xá sai ty (coi việc văn án,
từ tụng, dưới quyền quan Kư lục) và
Lại ty (coi việc tài chính, do quan Cai bộ đứng
đầu). Quân binh th́ cơ, đội, thuyền, thủy
bộ tinh binh và thuộc binh để hộ vệ.
Đất đai mở rộng ngàn dặm, cho chiêu mộ
lưu dân từ Bố Chánh châu trở vô, đến ở
khắp nơi, đặt ra phường, ấp, xă, thôn,
chia cắt địa phận, mọi người phân
chiếm ruộng đất, chuẩn định thuế
đinh, điền và lập bộ tịch đinh điền.
Từ đó con cháu người Hoa ở nơi Trấn Biên
th́ lập thành xă Thanh Hà, ở nơi Phiên Trấn th́
lập thành xă Minh Hương, rồi ghép vào sổ hộ
tịch “Gia Định thành thông chí”.
Thời điểm ấy
rộ lên nhiều vụ đánh cướp người
Việt tại nhiều nơi hẻo lánh dọc theo sông
Cửu Long. Nguyễn Hữu Cảnh đem quân dẹp
loạn. Gần cuối tháng 4, t́nh h́nh tạm yên, Nguyễn
Hữu Cảnh kéo quân về đóng ở cồn Cây Sao
(sách gọi Cù lao Sao Mộc hay Tiêu Mộc hoặc châu Sao
Mộc -sau này dân địa phương gọi Cù lao Ông
Chưởng, ở Chợ Mới, An Giang), báo tin thắng
trận về kinh.
Cũng theo “Gia Định
thành thông chí”, ở đây một thời gian ông bị
“nhiễm bịnh, hai chân tê bại, ăn uống không
được. Gặp ngày Tết Đoan ngọ (mùng 5
tháng 5 Âm lịch) ông miễn cưỡng ra dự tiệc
để khuyến lạo tướng sĩ, rồi
bị trúng phong và thổ huyết, bịnh t́nh lần
lần trầm trọng. Ngày 14 ông kéo binh về, ngày 16
đến Sầm Giang (Rạch Gầm, Mỹ Tho), rồi
mất. Khi ấy chở quan tài về tạm trí ở dinh
Trấn Biên, rồi đem việc tâu lên, vua rất
thương tiếc, sắc tặng là Hiệp tán Công
thần, thụy là Trung Cần, hưởng 51 tuổi.
Người Cao Miên lập miếu thờ ông ở
đầu châu Nam Vang. Nơi cù lao ông nghỉ bịnh, nhân
dân cũng lập đền thờ, được
mạng danh là Cù lao ông Lễ. C̣n chỗ đ́nh quan tài
ở dinh Trấn Biên cũng lập miếu thờ”.
Nguyễn Hữu Cảnh là
người có công đầu trong việc hoạch
định cương giới xóm làng, thiết lập
hệ thống chính quyền..., ở vùng đất Nam
bộ, ông có một nhăn quan hết sức sắc sảo là
chọn Sài Côn (Sài G̣n) làm trung tâm cho cả vùng đất
mới, giao điểm giữa sông to, biển cả,
triền Trường Sơn nhấp nhô và cả một
b́nh nguyên bát ngát ở phía Tây, chẳng những tiện
lợi cho cả việc định cư sinh hoạt
của nhân dân mà c̣n là đầu mối giao lưu giữa
sông và biển, một trọng điểm vô cùng thuận
lợi chẳng những chỉ về kinh tế mà c̣n
cả đến việc điều binh, trấn áp
hoặc chi viện kịp thời mọi cuộc binh
biến vùng biên cảnh phía Tây.
Với những công
đức kỳ vĩ đó, để tưởng
nhớ Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn
Hữu Cảnh, nhân dân lập nhiều đền thờ
ông. Tại huyện Chợ Mới có ít nhất ba
đền thờ tọa lạc tại các xă dọc theo
con sông mang tên (chức) ông. Đó là các đền thờ
tại xă Kiến An, tại thị trấn Chợ Mới
(gần “Vàm Trước”), và tại đ́nh Long Kiến
(Dinh thờ và đ́nh cũ lúc trước đều
dựng ở hai bên đầu “Vàm Dưới” sông ông
Chưởng, do bị đất lở sụp nhân dân
dời đ́nh và dinh vào trong và nhập lại làm một) -
đây là di tích do nhân dân dựng lên thờ ông sớm
nhất ở An Giang. Tại thị xă Châu Đốc
cũng có “Đền Lễ công”. Về hai nơi thờ
này (ở Long Kiến và ở thị xă Châu Đốc),
“Đại Nam nhất thống chí” có ghi rơ: “Đền
Lễ công: ở thôn Chu Phú, huyện Tây Xuyên, thờ
Nguyễn Hữu Kỉnh. Đền do Nguyễn Văn
Thụy (tức Thoại Ngọc Hầu) dựng khi làm
Trấn thủ, nay hương lửa vẫn như cũ,
thường tỏ anh linh. Lại ở băi Cây Sao giữa
sông Hậu Giang, là chỗ trước kia Lễ Thành
Hầu thắng trận, trở về đóng ở
đây. Sau khi chết, dân băi lập đền thờ”. Và,
để tưởng nhớ ông - người có
đại công mở cơi về phương Nam mở
đầu kỷ nguyên khai phá và phát triển vùng đất
Nam bộ, năm 1998 TP Hồ Chí Minh đă tưng bừng
tổ chức lễ hội “Kỷ niệm 300 năm Sài
G̣n – TP/HCM”. Dịp này ngành Bưu
điện Việt Nam cũng đă cho phát hành con tem Bưu
chính in ảnh tượng ông Nguyễn Hữu Cảnh
thể hiện tấm ḷng ngưỡng mộ, tôn kính và
trân trọng đối với công lao trời biển
của người mở cơi, giữ đất.
* * *
Có rất nhiều ngộ
nhận đáng tiếc về Nguyễn Hữu Cảnh
đă xuất hiện trên các sách báo trong và ngoài nước:
Cụ thể là:
1) Năm mất: Ông Nguyễn Hữu Cảnh mất
năm 1700, “Gia Định thành thông chí” và tất cả các
quyển sử khác, chứ không phải mất năm 1837
như các tác giả dưới đây đă lầm
lẫn: V. Duverynoy, trong cuốn “Monographie de la
province de Long Xuyên, 1930” (ghi lại theo lời dẫn tham
khảo của một số tác giả); Nguyễn Hiến
Lê, trong “Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười”, Nxb.
Nguyễn Hiến Lê. SG, bản in lần đầu năm
1954; Thái Văn Kiểm, trong “Đất Việt trời
Nam”, in năm 1960; “Người Long Xuyên” tài liệu
thuyết tŕnh tại Long Xuyên ngày 15-3-1959, đề tài “An
Giang xưa và nay”. Có in thành sách, 69 trang, phần “An Giang trên
đường chiến đấu chống xâm lăng”; Lê
Văn Đức cùng một nhóm văn hữu, trong
“Việt Nam tự điển”, mục từ Cù Hu trang 32,
phần III, quyển Thượng; và chữ Đốc
Vàng, trang 59, cũng sđd, Nhà sách Khai trí. SG, xuất bản
in năm 1960; Lê Ngọc Trụ (cung cấp tài liệu cho
ông Nguyễn Hiến Lê trong sách đă dẫn và hiệu
đính bộ “Việt Nam tự điển” của Lê
Văn Đức)...
2) Chức vụ: Tất cả các chức vụ chính
thức mà ông Nguyễn Hữu Cảnh đă đảm
nhận, không hề có chức Chưởng binh. Trong khi
đó xưa nay mọi người vẫn gọi ông là
Chưởng binh Lễ. V́ vậy, có tác giả đă
đặt vấn đề, với ư đồ bác bỏ
chức danh Chưởng binh, cho rằng gọi như
vậy là không đúng. Nhưng cách lập luận chưa
thuyết phục (xem tạp chí Thất Sơn, số
2/1992). Bởi đây là một thuật gọi ghép quen dùng
của người miền Nam, đă trở thành quy
ước. Xuất phát từ t́nh cảm sâu sắc của
nhân dân đối với một vị anh hùng mà trong
suốt cuộc đời đă nhận lănh khá nhiều
chức, chức nào cũng quan trọng, nên muốn
chọn một chức cao nhất để nhắc
gọi ông th́ đối với dân gian ở đây không
phải là điều đơn giản. Do đó, họ
đă nghĩ ra cách ổn thỏa nhất bằng cách
chọn gọi một chức, mà theo họ, Tổng binh
(hoặc Thống binh) là chức to nhất lúc sanh tiền
và, chức được chúa Hiển Tông truy tặng sau
khi chết là Chưởng dinh, để rồi gọi
gộp (và đơn giản hóa) 2 chức ấy lại là
Chưởng binh (Chưởng của Chưởng dinh, và
binh của Tổng binh - hay Thống binh, Lănh binh).
Do vậy, nhân dân và chính
quyền đặt tên Chưởng Binh Lễ cho cơ
quan, đơn vị trường học... là hoàn toàn có
cơ sở (và nếu nói là Chưởng dinh cũng không
sai).
3) Tên đường: Ở thị xă Châu Đốc có
một con đường (cặp theo kinh ăn ra sông, ngang
Cồn Tiên) mang tên Thượng Đăng lễ, đúng
ra là Thượng Đẳng Lễ. V́ ông Lễ -
Nguyễn Hữu Cảnh - được phong là Thượng
đẳng công thần, sắc phong và định ngôi
thứ các công thần (tháng 8 năm Ất Sửu 1806
của Gia Long và, ngày 29 tháng 11 năm Tự Đức
thứ 5, 1852). Đây là một sự lầm lẫn dễ
hiểu, do không đính chánh nên lâu ngày thành quen (như
đường Sương Nguyệt Anh ở TP/HCM, người ta vẫn phải
gọi sai theo bảng tên đường là Sương
Nguyệt Ánh). Vả lại, không có một nhân vật
lịch sử nào mang tên Thượng Đăng Lễ.
4) Quan hệ thân tộc: Tất cả sử cũ đều
ghi ông Nguyễn Hữu Hào và ông Nguyễn Hữu Cảnh là
con của ông Nguyễn Hữu Dật. Nhưng tác giả
sách “Tiến tŕnh văn nghệ miền nam” (Nxb. An Giang,
1990) ở trang 16 ghi Nguyễn Hữu Dật là anh Nguyễn
Hữu Cảnh - không đúng.
5) Miếu thờ: Các sách “Hoàn vũ kư”, “Nhất
thống dư địa chí”, “Đại Nam nhất
thống chí”, “Đại Nam dư địa chí ước
biên”, “Nam Kỳ địa chí”... đều có ghi rơ
những nơi lập đền thờ ông Nguyễn
Hữu Cảnh (có nơi gọi “từ đường”,
có nơi gọi “đền”, có nơi gọi “dinh”).
Quyển “Sử Cao Miên” của Lê Hương (Khai Trí xb,
1970) có lời chua dưới một bức ảnh:
Đền thờ ông Nguyễn Văn Thụy (Thoại)
vị đại thần Việt Nam bên cạnh vua Cao Miên
trong thời kỳ Việt Nam bảo hộ nước
này. Đền thờ cất gần Chợ Mới (Phnom
Penh) bị bắt buộc phải triệt hạ vào
năm 1956". Sự thật, không phải đó là
đền thờ ông Nguyễn Văn Thoại mà là
đền thờ ông Nguyễn Hữu Cảnh, v́ bức
ảnh cho thấy rơ tấm biển ở cổng ghi là
Thượng đẳng thần. Bởi lẽ sử không
hề ghi ông Nguyễn Văn Thoại có đền thờ
ở Cao Miên, mà chỉ ghi ở nước ấy có
đền thờ ông Nguyễn Hữu Cảnh. Hơn
nữa, ông Nguyễn Văn Thoại chỉ là Trung
đẳng thần (sắc truy phong của vua Khải
Định năm thứ 9, tháng (?) ngày 25, và sắc của
Bảo Đại năm thứ 18, tháng 8 ngày 15 các sắc
này đều ở dạng “bổn nh́” v́ sắc thời
Minh Mạng đă bị thu hồi). Theo “Đại Nam
nhất thống chí” khi làm Trấn thủ Châu Đốc
đồn, ông Nguyễn Văn Thoại đă từng cho lập
“đền Lễ Công”, thờ ông Nguyễn Hữu Cảnh
tại “thôn Chu Phú” (Châu Phú).
6) Tên khác: Giáo sư Trần Kỉnh Ḥa, trong
“Phần Khảo cứu” in chung sách “Hải ngoại kư
sự” của soạn giả Thích Đại Sán, (bản
dịch của Ủy ban Phiên dịch, sử liệu
Việt Nam. Viện Đại học Huế, in năm
1963) đă viết sai rằng Tả Xu Mật là tên khác
của Nguyễn Hữu Cảnh. Theo Thích Đại Sán,
Tả Xu Mật mất năm Ất Hợi (1695), tại
Thuận Hóa, c̣n Nguyễn Hữu Cảnh mất năm Canh
Th́n (1700) tại Sầm Giang, Mỹ Tho.
6/2006
Nguồn: baocantho.com.vn