Sự thành h́nh của Nam
Kỳ Lục Tỉnh
tức vùng Đồng Nai
Cửu Long
TS Nguyễn Thanh Liêm
TS Nguyễn
Thanh Liêm, chủ tịch hội Lăng Ông - Lê Văn
Duyệt Foundation, đọc
bài thuyết tŕnh này nhân ngày khai mạc Tuần Lễ
Văn Hóa Miền Nam (3-10 tháng giêng, 2009) tại trụ
sở Hội Tả Quân Lê Văn Duyệt Foundation ở
Westminster, Nam Cali.
Đồng Nai Cửu Long là tên hai hệ thống sông
lớn ở Miền Nam nước Việt. Khi nói vùng
Đồng Nai Cửu Long là người ta muốn nói
đến tất cả các tỉnh nằm trong vùng
đất bao quanh hai hệ thống sông lớn này. Đó
là các tỉnh Miền Đông và Miền Tây Nam phần,
từ B́nh Thuận vào đến Cà Mau. Dưới thời
vua Gia Long và phần đầu của thời vua Minh Mạng
(1802-1832), cả vùng này được gọi là Trấn Gia
Định mà Tả Quân Lê Văn Duyệt là người
hai lần được bổ nhiệm làm Tổng
Trấn ở đây. Năm 1932, sau khi Lê Văn Duyệt
mất, Gia Định Trấn mới bị băi bỏ,
Miền Nam được chia thành 6 tỉnh (Gia
Định, Biên Ḥa, Định Tường, Vĩnh Long, An
Giang, Hà Tiên). Địa danh Nam Kỳ Lục Tỉnh có
từ đó.
Dưới thời Pháp thuộc, người Pháp
gọi vùng này là Cochinchine hay Nam Kỳ. Đây là vùng
thuộc địa của Pháp, và lục tỉnh
được chia làm 21 tỉnh (với các chữ
đầu là Gia Châu Hà Rạch Trà, Sa Bến Long Tân Sóc,
Thủ Tây Biên Mỹ Bà, Chợ Vĩnh G̣ Cần Bạc
Cắp). Thời Việt Nam Cộng Ḥa, vùng này là Miền
Nam Việt Nam và bao gồm các tỉnh Miền Đông (Tây
Ninh, B́nh Long, Phước Long, B́nh Dương, Biên Ḥa, Long
Khánh, B́nh Tuy, Phước Tuy, Gia Định), và các tỉnh
Miền Tây Nam Phần (Châu Đốc, Kiến Phong,
Kiến Tường, Hậu Nghĩa, Kiên Giang, An Giang,
Vĩnh Long, Định Tường, Long An, Chương
Thiện, Phong Dinh, Vĩnh B́nh, Kiến Ḥa, G̣ Công, An Xuyên,
Bạc Liêu, Ba Xuyên). Chính phủ hiện thời dùng chữ
Nam Bộ thay v́ Nam Phần và cũng phân biệt Miền
Đông (hay vùng Đồng Nai với các tỉnh Sông Bé,
Đồng Nai, Tây Ninh, Long An) và Miền Tây (hay đồng
bằng sông Cửu Long với các tỉnh Đồng Tháp,
Tiền Giang, Cửu Long, An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang, Minh
Hải).
Khi Nguyễn Hoàng được cử vào cai quản
Thuận Hóa (1558) th́ đất đai của nước
Việt về phía Nam chỉ có đến Phú Yên. Từ
đó đến B́nh Thuận c̣n là lănh thổ của Chiêm
Thành hay Champa. Nhưng từ lúc xứ Đàng Trong (từ
sông Gianh trở vào Nam) của Chúa Nguyễn bắt
đầu thành h́nh th́ cũng là lúc Chiêm Thành khởi sự
suy yếu dần. Xứ Đàng Trong càng lớn mạnh lên
bao nhiêu th́ xứ Chiêm Thành càng yếu đi và càng nhỏ
lại bấy nhiêu. Cho đến cuối thế kỷ
thứ XVII th́ nước Chiêm Thành kể như không c̣n
nữa và dân tộc Chăm trở thành người dân
thiểu số trong cộng đồng người
Việt. Biên giới phía Nam của nước Việt
bấy giờ là vùng B́nh Thuận, và nước láng
giềng về phía này của Việt Nam là nước Chân
Lạp (tức Kampuchea hay Cao Miên) của người
Khờ Me (tức người Miên như người trong
Nam thường gọi). Vùng Đồng Nai Cửu Long lúc
này thuộc về Chân Lạp.
Thật ra đất Đồng Nai Cửu Long
chỉ có thuộc về Chân Lạp trên danh nghĩa thôi,
trong thực tế người dân Khờ Me không có mặt
nhiều trên phần đất này. Người dân Khờ
Me chỉ sinh sống ở một vài nơi thưa
thớt, rải rác trên vùng đất cao, hoang vu mênh mông
ở vùng Hậu Giang của đồng bằng sông
Cửu Long. Ở vùng Đồng Nai th́ có các bộ lạc người
Mạ và người Xtiêng sinh sống, cũng rải rác,
cũng thưa thớt trong vùng đất mênh mông hoang vu
vậy. Triều đ́nh Chân Lạp chưa có thiết
lập các cơ quan hành chánh cai trị hay những
đồn binh quân sự trấn đống để
bảo vệ đất đai và dân chúng của họ trên
vùng đất này. Đối với người dân
Việt, những đất đai mênh mông hoang vu ở
đây là đất vô chủ, không ai để ư tới,
không ai ḍm ngó, kiểm soát. Vả lại, ranh giới
giữa hai nước (Việt - Chân Lạp) không có ǵ rơ
ràng, ranh giới giữa các sắc tộc sinh sống
rải rác trên vùng đất này (xem như vùng trái
độn) lại càng mơ hồ, co giăn, biến thiên
hơn. Trong t́nh huống đó, và với bản năng sinh
tồn mạnh mẽ, người Việt không ngần
ngại ǵ mà không vào vùng đất hoang vu mới mẻ này
để phá rừng, dọn đất, trồng trọt,
mưu sinh, lập nghiệp. Mô Xoài là nơi mà người
Việt đă đến khai phá, định cư sớm
nhất. Mô Xoài tức là Bà Rịa bây giờ. Các sách Gia
Định Thông Chí của Trịnh Hoài Đức và
Đại Nam Nhất Thống Chí triều Nguyễn cho
rằng xứ Mô Xoài là vùng địa đầu của
Biên Trấn, tức là vùng người lưu dân Việt
đầu tiên đặt chân vào để khai phá mở
mang Miền Nam nước Việt.
Đây chỉ là những bước đầu
lẻ tẻ, chập chững của những
người đi tiên phong trong công cuộc mạo hiểm
vào vùng đất mới lạ. Phải đợi một
cơ hội thuận tiện nào đó để việc
mở rộng về phương Nam trở thành phong trào
mạnh mẽ, có tính cách quy mô hơn. Cơ hội đó là
sự cầu thân của vua Chân Lạp Chey Chetta II với
Chúa Nguyễn Phúc Nguyên vào năm 1620. Sử Khờ Me ghi là
sau khi lên ngôi vua Chey Chetta II cho xây cung điện nguy nga
tại Oudong rồi cử hành lễ cưới long
trọng với một nàng công chúa xinh đẹp của
Việt Nam. Hoàng hậu Sam Đát (tức công chúa Ngọc
Vạn) có đem nhiều đồng hương sang Chân
Lạp. Có người làm quan trong triều, có người
làm thủ công, có người buôn bán, vận chuyển hàng
hóa. Theo hồi kư của giáo sĩ Chistofo Borri, một
người Ư đă sống gần Qui Nhơn từ 1618
đến 1622, th́ chúa Nguyễn đă viện trợ cho vua
Chân Lạp cả tàu thuyền lẫn binh lính để
chống lại quân Xiêm. Borri cũng tả rơ phái đoàn
quan quân Việt Nam đưa công chúa Ngọc Vạn về
Oudong như sau: ”Sứ bộ gồm khá đông
người, cả quan lẫn lính, vừa nam vừa
nữ, chuyên chở trên những chiếc thuyền lớn
có trang bị vũ khí và bày trí lộng lẫy. Khi sứ
bộ tới kinh Oudong, th́ dân chúng Khờ Me, thương
nhân Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Trung Hoa đă tụ
hội đông đảo để đón tiếp và hoan
nghênh.”
Về phương diện xă hội, việc công chúa
Ngọc Vạn theo chồng về Miên có thể
được xem như là một sự mở đầu
cho những bành trướng lănh thổ quy mô về
phương Nam của dân tộc Việt. Theo chân Ngọc
Vạn công chúa lưu dân người Việt càng ngày càng vào
Nam lập nghiệp nhiều hơn. Với chính sách
khuyến khích khéo léo của chính quyền, làn sóng vào Nam càng
lúc càng bành trướng mạnh mẽ. Về phương
diện chính trị ngoại giao, cuộc hôn nhân của công
chúa Ngọc Vạn với vua Chey Chetta II là bước
mở đầu cho mối liên hệ ngoại giao giữa
hai dân tộc Việt-Khờ Me, một mở đầu
hết sức quan trọng đối với triều Nguyễn
và người dân Đàng Trong. Từ đây triều
Nguyễn luôn luôn sẵn sàng để hoặc giúp
đỡ/viện trợ, hoặc can thiệp vào nội
t́nh Chân Lạp. Cứ mỗi lần quân chúa Nguyễn
tiến lên xứ Miên làm một công ơn ǵ đó
đối với Chân Lạp là mỗi lần triều
đ́nh Chúa Nguyễn được đền đáp
bằng một số đất đai để hợp
thức hóa những nơi lưu dân người Việt
đă từng vào khai phá. Những sự kiện lịch
sử sau đây đánh dấu những bước
tiến trong quá tŕnh hoàn thành vùng đất Nam Kỳ
Lục Tỉnh theo lối “dân đi trước chính
quyền đến sau”.
Những giai đoạn Nam
tiến kể từ năm 939
- Hai năm sau khi Ngọc Vạn trở thành hoàng
hậu Chân Lạp, năm 1623, chúa Nguyễn sai phái bộ
tới Oudong yêu cầu vua Chey Chetta II cho chúa Nguyễn
lập hai đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài G̣n) và
Kas Krobei (Bến Nghé). Đây là vùng qua lại và nghỉ
ngơi của thương nhân Việt Nam đi Chân
Lạp. Từ khi có các đồn thu thuế của chúa
Nguyễn, vùng này đă trở nên vùng thị tứ trên bến
dưới thuyền rất là sầm uất.
- Năm 1658 triều đ́nh Chân Lạp có nội
biến, thái hậu Ngọc Vạn đă khẩn cầu
Chúa Nguyễn là Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần
giúp quân đánh dẹp Nặc Ông Chân dành lại ngôi báu cho
ḍng họ Prea Outey. Chúa Hiền, cháu kêu thái hậu Ngọc Vạn
bằng cô ruột, cho quan Khâm Mạng Trấn Biên dinh Phú Yên
là Tôn Thất Yến đem 3,000 quân qua giúp bắt
được Nặc Ông Chân giải về Quảng B́nh.
“Người Cao Miên khâm phục oai đức của
triều đ́nh đem nhượng hết cả
đất ấy rồi đi lánh chỗ khác, không dám tranh
trở chuyện ǵ.” (Gia Định Thông Chí, trung, tr.7).
Đất ấy đây là vùng Mô Xoài, chính thức thuộc
lănh thổ Việt Nam từ đó.
- Sang năm 1674 Nặc Ông Đài lại liên kết
với Xiêm La chống Đại Việt. Chúa Nguyễn là
Hiền Vương cử cai cơ Nguyễn Dương
Lâm đem quân đánh chiếm Sài G̣n và tiến lên Nam Vang.
Chúa Nguyễn làm chủ t́nh thế cả vùng Đồng
Nai.
- Năm 1679 trấn thủ Quảng Đông là
Dương Ngạn Địch cùng với phó tổng binh
Hoàng Tiến, và tổng binh các châu Cao, Lôi, Liêm là Trần
Thượng Xuyên cùng phó tổng binh Trần An B́nh đem
3000 quân Trung Hoa (nhà Minh) với 50 chiến thuyền trốn
quân Thanh chạy sang Việt Nam xin làm thần dân của Chúa
Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Tần dung nạp họ và cho
người hướng dẫn họ đến vùng
đất mới trong Nam để định cư sinh
sống. Nơi đây đă có một số người
lưu dân Việt khai phá. Dương Ngạn Địch
vào Mỹ Tho, Trần Thượng Xuyên vào Biên Ḥa khai
khẩn đất đai, thiết lập phố xá bán
buôn., phát triển nông nghiệp và thương nghiệp cùng
với người lưu dân Việt ở hai nơi này.
Cùng lúc đó ở Cà Mau, một cựu thần khác của
nhà Minh là Mạc Cửu cũng trốn quân Thanh sang đây
khai khẩn lập nghiệp.
- Năm 1698 Minh Vương Nguyễn Phúc Chu cử
thống suất Nguyễn Hữu Cảnh làm kinh
lược đất Chân Lạp. Năm 1699, Nguyễn
Hữu Cảnh đem binh lên tận Nam Vang để can
thiệp và trở về vào khoảng tháng Tư năm sau.
Trên đường về ông cho quân sĩ theo ḍng Tiền
Giang, trú đóng tại Cái Sao (vùng chợ Thủ của Long
Xuyên). Một số quân sĩ bị phát bịnh dịch và
chính ông cũng bị nhiễm bịnh và mất hai ngày sau
khi quân ông rút khỏi vùng này. Một số binh sĩ hoặc
bị bịnh hoặc t́nh nguyện ở lại vùng Cái Sao
khai khẩn đất đai sinh sống trước khi
vùng này được vua Cao Miên nhường cho Chúa
Nguyễn. Họ được gọi là người dân
Hai Huyện, trực thuộc phủ Gia Định từ
xưa. (Xem Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam của
Sơn Nam, tr. 23).
- Năm 1705, Nguyễn Cửu Vân hành quân sang Cao Miên
đánh quân Xiêm, trên đường về trú quân ở
Vũng Gù (nay là Tân An), khai khẩn đất hoang, cho
lập đồn binh và cho đào kinh cho rạch Vũng Gù
ăn thông sang rạch Mỹ Tho, nối liền sông Vàm
Cỏ Tây qua Tiền Giang.
- Năm 1708 Mạc Cửu dâng cả vùng mới khai
khẩn ở Cà Mau xin hàng phục Chúa Nguyễn. Vùng này
gồm các ấp vừa lập từ Vũng Thơm,
Trủng Kè, Cần Vọt, Rạch Giá đến Cà Mau. Hà
Tiên trở thành một thương cảng quan trọng
trong vùng. Chúa Nguyễn Phúc Chu phong cho Mạc Cửu làm
tổng binh, giữ đất Hà Tiên.
- Năm 1732 lưu dân người Việt bị quân
Miên tấn công. Chúa Nguyễn là Ninh Vương cử
Trương Phúc Vĩnh đem quân vào dẹp yên. Vua Chân
Lạp là Nặc Tha nhường Me Sa (Mỹ Tho) và Long
Hồ cho Chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn lấy đất Long
Hồ lập thành châu Định Viễn (Vĩnh Long) và
đặt dinh Long Hồ.
- Năm 1753 Nguyễn Cư Trinh đem quân sang đánh
Chân Lạp. Vua Chân Lạp là Nặc Nguyên thua trận bèn dâng
hai phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp (G̣ Công và Tân An) để
cầu ḥa. Bốn năm sau Nặc Nguyên mất, Chân
Lạp có nội biến. Chúa Nguyễn cử Mạc Thiên
Tứ đưa em họ của Nặc Nguyên là Nặc Tôn
lên ngôi. Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long (gồm An
Giang và một phần Vĩnh Long) để tạ ơn
Chúa Nguyễn và năm phủ ở vùng Hà Tiên cho Mạc
Thiên Tứ. Năm phủ này được sát nhập vào
trấn Hà Tiên.
Đến đây kể như vùng Đồng Nai
Cửu Long đă trọn vẹn thuộc về Việt
Nam, và thuộc về Đàng Trong của Chúa Nguyễn.
Từ đầu thế kỷ XVII đến giữa
thế kỷ XVIII người Việt Nam mất 150 năm
để tiến vào và mở mang vùng đất hoang vu
mới mẻ này.
Trước khi người Việt đến vùng
Đồng Nai khai khẩn th́ nơi đây c̣n là cả
một vùng “toàn rừng rậm mấy ngh́n dặm” theo
Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quư Đôn. Vùng rừng
rậm hoang vu này là vùng cư trú của nhiều nhóm dân
tộc thiểu số mà người Việt gọi chung
là người “Man” theo tiếng Hán Việt hay nôm na là
người “Mọi.” Đó là các dân tộc thiểu số
người Mạ, người Xtiêng, người Mnông,
Người Cơho, người Churu, v.v.. Trong các nhóm này
quan trọng hơn hết là người Mạ ở vùng
Mô Xoài Bà Rịa, người Xtiêng ở vùng Biên Ḥa, B́nh
Dương và người Khờ Me ở Tây Ninh. Dân
tộc Mạ hay Châu Mạ (Châu theo tiếng Mạ có
nghĩa là người) nói tiếng nói thuộc nhóm Môn –
Khờ Me. Địa bàn sinh sống của Châu Mạ ngày
xưa là cả vùng Đồng Nai xuống đến
Mỹ Tho (theo B́nh Nguyên Lộc). Dân tộc Mạ mà
người Việt thường gọi là Mọi Bà
Rịa, thạo nghề dệt vải có hoa văn
đẹp, ở nhà sàn dài, có tục cà răng và xâu lỗ
tai lớn. Họ rất hiền ḥa, thường bị người
Xtiêng và người Miên bắt đem bán làm nô lệ ở
các nơi. Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn ghi:
“Từ các cửa biển như Cần Giờ, Xoài Rạp
. . . đi vào toàn là những đám rừng hoang vu
đầy cỏ rậm, mỗi đám rừng có thể
rộng hơn ngh́n dặm. . . Nhà Nguyễn cho dân
được tự nhiên chiếm đất. . . Lại
cho họ thâu nhận những người Mọi từ
trên đầu nguồn xuống để mua làm
đầy tớ, đứa ở, sai khiến, hầu
hạ. . .”
Dân tộc Mạ hiện có khoảng 20,000
người cư ngụ ở vùng cực Nam Tây Nguyên, phía
Nam tỉnh Lâm Đồng, và một số ở
Đắc Lắc.
Người Xtiêng cư trú trong vùng các tỉnh Tây Ninh,
B́nh Dương, Biên Ḥa. Tiếng nói của họ có
nhiều nét gần gũi với tiếng Mnông, Cơho,
Mạ, nằm trong nhóm Môn - Khờ Me. Họ để tóc
dài, búi đằng sau gáy, đeo bông tai bằng cây hay
bằng ngà, xăm mặt, xăm ḿnh, đàn bà mặc váy,
đàn ông đóng khố. Địa chí Thủ Dầu
Một ấn hành năm 1910 gọi dân tộc Xtiêng là
Mọi hoang, Mọi Cà Răng, Mọi Việt hay Mọi
Đồng Nai. Dân tộc Xtiêng hiện nay có khoảng 40,000
người quần tụ vùng biên giới Tây Nam, ở các
tỉnh Tây Ninh, B́nh Dương, Đồng Nai.
Ở Hậu Giang, vùng Trà Vinh – Sóc Trăng có nhiều
người Miên hơn ở Miền Đông Nam Phần.
Những sóc người Miên này sống cách biệt với
triều đ́nh Kampuchea. Khi người Việt vào khai
khẩn vùng Hậu Giang th́ người Việt và
người Miên cùng cộng cư, và sau này khi toàn cơi Nam
Việt thuộc về Chúa Nguyễn th́ những
người Miên này trở thành người dân thiểu
số trong cộng đồng người Việt.
Vùng Đồng Nai, vùng cư trú của hai sắc dân
Xtiêng và Mạ là vùng đệm giữa hai nước Chiêm
Thành và Chân Lạp. Vào đầu thế kỷ XVII,
đất đai vùng này quá rộng mà người th́ quá ít
cho nên dân cư quá thưa thớt, và phần lớn
đất đai là rừng rú hoang vu đầy muôn thú. Khi
người Việt bắt đầu vào khai khẩn
đất hoang vùng này th́ người Mạ, người
Xtiêng và một ít người Khờ Me (ở phí Tây Tây Ninh)
từ từ rút lui dần về vùng đất cao ở
phí Bắc và phía Tây, nhường đất thấp ở
phía Nam cho người lưu dân mới đến khai phá.
Người Việt thành thạo hơn trong việc khai
khẩn đất đai, trồng lúa nước ở
đất thấp (gọi là thảo điền), trong khi
người sắc tộc thiểu số th́ thành thạo
trong việc săn bắn và làm rẫy trên các ruộng cao
hay giồng (sơn điền). Đất rộng mênh mông
hoang vu, và lại là đất thấp không mấy thích
hợp với thổ dân, là hai điều kiện vô cùng
thuận lợi cho người lưu dân Việt vào vùng
Đồng Nai khai hoang sinh sống mà không gặp một
sự chống đối nào.
Số ít người Việt đầu tiên vào đây
khai phá không biết là ai, không biết họ bắt
đầu vào làm công việc đó từ lúc nào, không có
một ghi chép nào để lại tên họ gốc gác
của những người đó. Theo các sách sử sau này
th́ chắc chắn họ đă vào vùng Đồng Nai khai
khẩn sinh sống rất sớm, ngay từ lúc Nguyễn
Hoàng vừa vào trấn thủ Thuận Hóa. Trịnh Hoài
Đức cho là từ đời các “tiên hoàng đế”
tức là từ thời các chúa Nguyễn Hoàng, Nguyễn
Phước Nguyên.
Những người đầu tiên vào đây là
những người tự nguyện chứ không phải
là những người được chính quyền
đưa đến hay bị lưu đày. Lúc này chính
quyền chưa chính thức áp dụng biện pháp di dân vào
Nam được. Lưu dân lúc này có thể là những
người nghèo khổ, những kẻ bị áp bức,
những người chạy trốn chiến tranh loạn
lạc, những người không sống được
trong xă hội đương thời, phải mạo
hiểm t́m đường sinh sống ở vùng
đất mới. Họ có thể đến từ
Miền Bắc hay Miền Trung. Nhưng phần đông
chắc là người Miền Trung, người Đàng
Trong nhiều hơn, nhất là những người vùng Thuận
Quảng. Sau đợt t́nh nguyện đầu tiên,
nhất là sau sự kiện Ngọc Vạn công chúa, chúa
Nguyễn bắt đầu áp dụng chính sách đưa
dân quân vào Nam mỗi ngày một triệt để hơn.
Theo Philippe Papin th́:
Cuộc tranh chấp
giữa hai phủ chúa thù nghịch đóng kín ranh giới,
cho nên cuộc “Nam tiến” trở thành một hiện
tượng của riêng lănh địa nhà Nguyễn ;
nước Việt Nam “mới” c̣n đi xa hơn nữa,
nhưng từ nay là người miền Trung sẽ
tiến vào miền Nam bao la của nước Việt,
bắt đầu được khai thác đúng vào lúc
nước Việt đứt đoạn... Mong muốn
kiểm soát một không gian ngày càng rộng lớn, các chúa
Nguyễn bèn áp dụng một chính sách cư dân triệt
để: các viên chức được lệnh tập hợp
tất cả những người vô gia cư, tất
cả những ai không có tên trong sổ bộ làng xă,
đưa vào các tỉnh miền Nam mới chiếm
được của Kampuchea. .
Giáo sư Nguyễn Đăng Thục ghi lại
lời của Jules Sion trong “L'Asie des Moussons” về cuộc
bành trướng của dân Việt về phương Nam
như sau:
Cuộc bành trướng
của dân Việt là một sự đồng hóa thật
sự. Tính chất đó giải thích v́ sao người
Việt bành trướng chậm nhưng rất chắc
chắn. Cao Miên và Lào quốc đánh nhau chỉ đem quân
cướp lấy tù binh đem về làm nô lệ, lại
có một giai cấp quí tộc thống trị cho nên có cướp
được đất cũng để mất ngay.
Mục đích của
người Việt lại khác. Họ không cần bắt
nô lệ, họ làm lấy. Đối với họ
thắng trận không phải là để có người
làm, mà là để có đất cày.
Nhiều khi chiến tranh
chỉ là để xác nhận một t́nh thế đă
rồi. Dân Việt bành trướng một cách ôn ḥa, sinh
cơ lập nghiệp rồi sau binh lính mới tới.
Trước khi Việt Nam sáp nhập đất Nam kỳ
về ḿnh, người Việt đă lập ở đây
những tổ chức, những đám di dân đă xây
dựng làng xóm hay là tới ở chung với người
Mên, rồi lần lần nắm quyền chính.
Cuộc bành trướng
thực hành bằng cách đưa đến những
đám người liên tiếp, đủ các hạng: dân
cày không có ruộng, tù tội, kẻ chống đối
chế độ hay là quân cướp muốn chuộc
tội. Cũng có khi chính phủ thu thập những
người đó rồi đưa xuống những
miền mới chiếm lănh, hay là lập đồn
điền nơi biên thùy để pḥng bị lân bang
tới đánh. Những người ấy có quan lại
cai trị và họ lập thành làng mạc. (Ḍng Việt, số 17, tr.68-69).
Ngoài những người dân Việt từ vùng
Thuận Quảng đến c̣n có người Trung Hoa vùng
Quảng Đông – Quảng Tây, trốn chạy nhà Thanh, sang
đây định cư lập nghiệp. Thành phần
cư dân này rất quan trọng v́ họ giúp phát triển
mạnh về thương mại và công nghiệp, nhất
là thương mại.
Trong số quân binh nhà Nguyễn đi chinh chiến
ở Miền Nam hay trên Cao Miên cũng có nhiều
người t́nh nguyện hay được chính quyền
cho ở lại định cư, làm ăn với dân chúng.
Nói chung th́ phần đông người lưu dân là
người Miền Trung thuộc đủ các thành
phần xă hội cùng một số đáng kể
người Trung Hoa. Họ là những người có công
lớn lao trong việc bành trướng lănh thổ, mở
mang bờ cơi Việt Nam về phương Nam, biến vùng
rừng rú hoang vu đầy muôn thú thành vùng đất
đai ph́ nhiêu màu mỡ nuôi sống và làm giàu cho cả
nước.
Môi trường sinh sống mới và sự tiếp
xúc với những nền văn hóa khác là những
điều kiện cần yếu đưa đến
những biến đổi. Trước hết là môi
trường thiên nhiên vật lư: đất đai, khí
hậu, ruộng nương, vườn tược ở
đây cùng một loại với đất đai, khí
hậu, ruộng nương vườn tược ở
Kampuchia, Thái Lan, Mả Lai, thành ra các loại cây trái giống
nhau, kỹ thuật làm ruộng, làm vườn, trồng
cây trái cũng giống nhau. Cuộc sống vật chất
ở nhà quê do đó cũng rất giống nhau.
Người lưu dân Việt vào môi trường sinh
sống này không thể không linh động thay đổi
để thích ứng với môi trường sinh sống
mới. Mặt khác ở trong hoàn cảnh sinh sống
mới này họ lại gần gũi với những dân
tộc khác với nền văn hóa khác mà lâu dần, quen
dần, họ không thể không vay mượn một
số nét đặc thù nào đó mà họ thấy cần
yếu hay thích hợp với họ trong hoàn cảnh sinh
sống mới. Thành ra từ khi Nguyễn Hoàng vào Thuận
Hóa và các chúa Nguyễn nối tiếp, xây dựng nên Đàng
Trong th́ bắt đầu có một nhánh văn hóa Việt
biến dạng dần dần trở thành một chi nhánh
văn hóa (subculture) có phần khác biệt với văn hóa
cổ truyền ở miền Bắc. Sự cắt
đứt liên hệ chính trị giữa Đàng Trong (Chúa
Nguyễn) và Đàng Ngoài (Chúa Trịnh), sự phân tranh Nam Bắc
và chia đôi lănh thổ đă là cơ hội để
tạo nên một chi nhánh văn hóa mới xa dần văn
hóa cổ truyền. Đến thế kỷ XVII khi Họ
Nguyễn chiếm hết cả miền Trung và rồi
một số người miền Trung vào khai phá miền
Nam khẩn hoang lập ấp xây dựng nên miền Nam th́
một chi nhánh văn hóa khác nữa lại thành h́nh. Chi nhánh
văn hóa mới này lại càng cách biệt với văn
hóa gốc ở miền Bắc để đến
gần văn hóa Đông Nam Á hơn (tức cũng có
nghĩa xa dần văn hóa Trung Hoa và đến gần
văn hóa Ấn Độ hơn).
Miền Nam là cả một vùng đất hoang mênh mông
chằng chịt sông rạch với không biết là bao nhiêu
cá tôm rau cỏ cây trái. Đất đai lại rất ph́
nhiêu do phù sa mang lại. Khẩn hoang lập nghiệp tuy có
cực nhọc nặng nề nhưng kết quả thu
lượm dễ dàng và khả quan, đời sống
tự nhiên ung dung thoải mái. Điều kiện vật
lư đó cũng dễ un đúc nên tính t́nh rộng răi, phóng
khoáng, hiếu khách, đối đăi tử tế với
người từ xa mới đến của
người miền Nam mà nhiều người công
nhận.
Vùng mới lập này tuy có ít nhiều liên hệ
với Chúa Nguyễn nhưng triều đ́nh ở xa,
tổ chức cai trị không chặt chẽ tùy thuộc
ở triều đ́nh Huế (chế độ tổng
trấn), thêm vào đó c̣n có những biến cố chính
trị làm thay ngôi đổi chủ nhiều lần cho nên
tương đối có nhiều tự do địa
phương và tự do cho cá nhân nữa. Chỗ này ở
không được, hoặc bị áp bức th́ nhổ sào,
chèo ghe đi chỗ khác làm ăn, không có ǵ ràng buộc
họ được. Hoàn cảnh đặc biệt
ở đây giúp người ta nuôi dưỡng tinh khí
tự do phóng khoáng, không cần phải ép ḿnh, chế
ngự cái tôi để phụng sự cho một lư
tưởng sách vở ǵ cả. Vả lại nỗ
lực chính của những thế hệ đầu tiên
vào đây là khai khẩn đất đai, thiết lập
đời sống mới nhiều hơn là trau dồi kinh
sử để lănh lấy măo áo chức tước
của triều đ́nh. Đời sống dễ dăi,
tương đối thừa thăi về vật chất và
tự do về tinh thần, đă không bắt buộc
người dân Việt ở đây phải duy tŕ hay theo
đúng những phong tục tập quán đă
được mang vào Đàng Trong từ mấy thế
kỷ trước. Sự lỏng lẻo của khuông phép
từ thế hệ này sang thế hệ khác đă tạo
nên một nếp sống mới, một tính t́nh và nhân cách
mới, rộng răi và phóng khoáng, với tâm hồn chân
thật, chất phác, mở rộng để đón
nhận những cái mới lạ hơn là khép kín
để duy tŕ những cái đă có.
Ngoài hoàn cảnh địa lư nói trên, trong quá tŕnh
mở rộng đất đai về phương Nam chi
nhánh văn hóa Đàng Trong đă phải tiếp xúc va
chạm với những nền văn hóa khác tạo nên
điều kiện rất cần cho sự biến
đổi về văn hóa. Có tiếp xúc với văn hóa
khác là có cơ hội để nh́n thấy lối
sống, cách hoạt động, sự tín ngưỡng,
lề lối suy tư của một giống người
khác. Từ đó có thể có những thích nghi với nhau
hay vay mượn lẫn nhau ít nhiều từ tập quán,
kỹ thuật, đến tín ngưỡng và nghệ
thuật.
Từ thế kỷ XVII người Đàng Trong
đă có cơ hội gần gũi với văn hóa Chiêm
Thành, đă nh́n thấy và hiểu biết lối sống
của người dân Chăm. Sau đó sang thế kỷ
XVIII người Việt khi bành trướng lănh thổ
về miền Nam lại có dịp sống bên cạnh
người Miên và người Trung Hoa (Minh Hương,
Triều Châu). Và gần đây hơn từ thế kỷ
XIX người Việt ở đây lại có nhiều
dịp để biết đến đạo Thiên Chúa
cùng văn minh Tây Phương do người Pháp mang
đến. Thí dụ như ở Cà Mau (tỉnh lỵ An
Xuyên), vào khoảng thập niên 1960, thống kê cho biết
dân số là 270,643 người trong đó có 3,048
người Việt gốc Hoa, và 2,959 người Việt
gốc Miên, với 22,000 Tịnh độ cư sĩ,
15,000 Công giáo, 3,700 Thiền Lâm, 3,200 Cao Đài, và 400 Tin Lành.
Người Việt gốc Miên ở Trà Vinh, Sóc Trăng
rất nhiều và người Triều Châu rất đông
ở Bạc Liêu đến đổi người dân Nam
phải nói “Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều
Châu”. Có thể nói miền Nam cũng na ná như xứ
Mỹ, nó là một xă hội mới thành h́nh với
nhiều chủng tộc sống lẫn lộn trong đó
và với một nền văn hóa ít nhiều pha trộn
đủ thứ. Nó như cái “melting pot” hay cái “salad bowl”
của Việt Nam. Nó mang rất ít tính chất cổ
truyền của nền văn hóa gốc.
Thật ra th́ sự gặp gỡ, tiếp xúc giữa
các nền văn hóa mới chỉ là điều kiện
cần mà thôi chớ chưa phải là điều kiện
đủ để cho sự vay mượn, học
hỏi xảy ra. Điều kiện đủ để
đưa đến vay mượn và thích nghi văn hóa là
sự có mặt của những yếu tố sau đây:
(1) tinh thần khai phóng của người vay mượn,
(2) sự tự do chấp nhận cái mới lạ của
người vay mượn, và (3) sự lợi ích của
những ǵ được vay mượn học hỏi.
Văn hóa không thay đổi nếu các thành phần trong
nền văn hóa đó không có tinh thần cởi mở,
không chấp nhận những cái mới lạ của
nền văn hóa khác. Mặt khác dù các thành phần chấp
nhận những cái mới lạ của văn hóa khác
đi nữa nhưng không có tự do để học
hỏi, thực hiện th́ văn hóa cũng không có cơ
hội thay đổi. Chẳng hạn như nếu
luật lệ của quốc gia quá cứng rắn không cho
phép người dân chấp nhận hay du nhập những
cái mới lạ, hoặc giả nếu như phong tục
tập quán trong xă hội quá khắt khe khiến
người ta không thể đi ra ngoài những thói quen
đă có th́ sự thay đổi về văn hóa tất
nhiên sẽ khó xảy ra. Phải có đủ tự do
để học hỏi và thực hiện điều ǵ
mới lạ trong cuộc sống th́ sự biến đổi
về văn hóa mới diễn tiến được. Sau
hết người ta chỉ học hỏi vay mượn
khi nào điều người ta muốn học hỏi vay mượn
đó đáp ứng được nhu cầu sinh sống
của con người.
Những điều kiện trên đây cần
phải có đủ th́ văn hóa mới có thể thay
đổi được. Người Việt Nam trong quá
tŕnh bành trướng lănh thổ và định cư vào
Phương Nam đă có đủ những điều
kiện ghi trên. Họ có tinh thần rộng răi khai phóng,
không mù quáng tôn sùng cổ nhân, không khép kín chật hẹp hay
bế quan tỏa cảng. Họ có ít nhiều tự do
chớ không bị chặt chẽ ràng buộc bởi
luật lệ cứng rắn của triều đ́nh hay
tập quán khắt khe của xă hội. Khi đă có
đủ những điều kiện cần và đủ
th́ tất nhiên văn hóa phải thay đổi theo lối
sống thay đổi của con người ở vùng
đất mới mẻ này. Những khác biệt này là
những biến đổi tự nhiên của văn hóa
Việt Nam qua bao nhiêu thế hệ và qua quá tŕnh bành
trướng lănh thổ, tiếp xúc với nhiều
nền văn hóa khác. Biến đổi để thích
ứng với môi trường và hoàn cảnh mới, đó
là điều kiện cần yếu để một
nền văn hóa sinh tồn và tiến bộ. Khi văn hóa
biến đổi nó cũng làm cho con người ít
nhiều biến đổi theo. Có sự tương quan
khá mật thiết giữa văn hóa và nhân cách của con
người. Người ta hay nói đến tính bộc
trực, ăn ngay nói thật, tính rộng răi chiều khách,
tính anh hùng ngang tàng của người dân miền Nam,
kể cả tính bất cần và không thèm kiên nhẫn
của người dân vùng này.
Người dân Miền Nam, hay người Nam Kỳ,
tuy nói gốc gác phần nhiều là dân Thuận Quảng,
nhưng nói chung đều là người từ Miền
Bắc vào Miền Trung (Đàng Trong) rồi từ Miền
Trung vào Miền Nam (nếu là dân Thuận Quảng), c̣n không
th́ có thể từ Bắc, Trung vào Nam. Có người vào Nam
trước, có người vào Nam sau. Nhưng trước
hay sau, lâu hay mau ǵ th́ cũng được “Nam Kỳ hóa”
ít hay nhiều. Bởi cái đặc tính của xứ Nam
Kỳ là rất cởi mở, rộng răi, dễ
thương, nên dễ dung nạp, dễ cảm hóa
người mới đến để họ hội
nhập vào đại gia đ́nh Đồng Nai Cửu Long
mà nhà văn hóa học có thể xem như một cái tô xà
lách (”salad bowl”) của mọi người.