ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Qua vài nét văn hóa Miệt Vườn
Nguyễn Văn
Trần
“Nhà Bè
nước chảy chia hai
Ai
về Gia Định, Đồng Nai th́ về”
I - SƠ
LƯỢC KHAI MỞ MIỀN ĐỒNG BẰNG SÔNG
CỬU LONG
1 - Người ta nói “Miền” Đồng
Bằng Sông Cửu Long để tách bạch một
địa phương, tuy rộng lớn, trên một
phạm vi rộng lớn hơn, đó là “vùng”, như “vùng”
Nam Thái B́nh Dương, “vùng” Đông Nam Á, mà Miền
Đồng Bằng Sông Cửu Long chỉ là một “đơn
vị” nằm trong vùng địa lư văn hóa Đông Nam Á .
Chúng ta ai cũng biết miền Nam Việt
Nam chạy dài tận mũi Cà Mau thành h́nh theo bước
Nam tiến của tiền nhơn .
Năm 1658, di thần nhà Minh, “Phản Thanh
phục Minh”, với 3000 quân tinh nhuệ, với chiến
thuyền và vơ trang hùng hậu, đến Thuận Hóa
để xin được Chánh quyền Việt Nam giúp đỡ.
Chúa Nguyễn, Hiền Vương, nghĩ nếu từ
chối và đuổi đi, th́ đám tàn quân nầy v́ cùn
đường có thể đánh phá ta, nên tiếp đăi
niềm nở, c̣n khoản đăi, phong chức và cho phép vào
phía nam khẩn hoang, lập nghiệp ở Biên Ḥa, Cù Lao
Phố, và Định Tường với lời chỉ dẫn
“đó là vùng đất mới của ta”.
Trần Thắng Tài và Dương Ngạn
Địch là hai tướng nhà Minh chỉ huy lực
lượng hải thuyền di tản về phương
nam với ḷng mưu cầu phục Minh sau này .
Tướng Trần Thắng Tài vâng
lệnh Chúa Nguyễn dẩn một đoàn quân với
chiến thuyền đi về vùng Biên Ḥa để khai phá
và định cư lập nghiệp. Họ mở mang
thương măi và chỉ trong ít lâu biến Cù Lao Phố
thành một trung tâm thương măi trù phú . Đến khi Tây
Sơn tiến đánh vào Nam, một phần dân cư ở
đây di tản về Bến Nghé sanh sống . Họ chuyên
thu mua và bán nông phẩm từ phía Định Tường
chở tới . Bến Nghé sau này trở thành Chợ
Lớn và hoạt động kinh tế vẫn c̣n nằm
trong tay người Tàu .
Trong lúc đó, tướng Dương Ngạn
Địch dẫn một đoàn quân kéo về Định
Tường định cư lập nghiệp. Cánh nầy
chuyên vê nông nghiệp . Họ lập ra chín nông trại,
dần dần mở mang ra thành Vùng Đồng Bằng Sông
Cửu Long ngày nay .
2 - Người Việt Nam theo chơn
người Tàu tiếp tục bước Nam tiến và
thành lập Chánh quyền ở những nơi dân cư
ổn định đời sống . Nơi nào có Chánh
quyền Việt Nam, nơi đó lập tức
được hợp thức hóa trở thành lănh thổ
của Việt Nam . Tức nước Việt Nam
định h́nh . Sự kiện lịch sử này hoàn toàn
phù hợp với tinh thần công phàp ngày nay .
Người học sử có nhận xét
đặc biệt về lịch sử lập quốc
của Việt Nam, không giống lịch sử lập
quốc của phần nhiều các quốc gia khác bởi
“chính người Việt Nam từng bước lập
thành nước Việt Nam”. Chúng ta có thể mường
tượng lịch sử lập quốc Việt Nam như
một ḍng nước từ trên vùng đất cao chảy
loang ra vùng đất thấp . Nước chảy
đến đâu th́ đất thắm nước là
đất của ḍng nước ấy. Mà Việt Nam
cũng tắm ḿnh trong ḍng nước Nam Hải với các
quốc gia khác trong Vùng Đông Nam Á .
Đất trong Nam là đất của Nhà
Nguyễn, nên khi Gia Long tẩu quốc, chạy vào
Định Tường, Ba Giồng, được dân chúng
miền Nam khắp nơi niềm nở đón tiếp và phục
vụ nhà vua tận t́nh . Cũng vào thời gian ấy,
Mạc Cữu từ Thái Lan qua, đặt chơn ở Hà
Tiên, lập ra thương cảng, một thời buôn bán
phồn thịnh . Sau nhiều lần bị Thái Lan và Cao Miên uy hiếp,
Mạc Cữu chấp nhận thuần phục Nhà
Nguyễn và được chúa Nguyễn phong chức quan,
cai quản phần đất Hà Tiên để về sau
nầy nối liền với Rạch Giá . Và lănh thổ Nhà
Nguyễn từ đó chạy dài tận mũi Cà Mau .
II - TỔ
CHỨC ĐỊNH CƯ VÀ MIỀN ĐỊA LINH NHƠN
KIỆT
1 - Chánh quyền địa phương
được thiết lập xong liền bắt tay ngay
vào việc lo tăng gia sản xuất lúa gạo, hoa màu,
chăn nuôi gia súc, gia cầm, đánh cá, … để góp
phần cải thiện đời sống dân chúng .
Cùng với hoạt động kinh tế,
Chánh quyền c̣n quan tâm đến đời sống tinh
thần của người dân, đứng ra lập
đền chùa, miếu mạo, tổ chức quan hôn, tang,
tế trong dân chúng . Đồng thời, trường
học cũng xuất hiện để khai hóa dân trí con em
trong làng xă . Những người có học chữ nho, y
học, được Chánh quyền cho phép dạy học,
chữa bịnh cho dân chúng .
Đến đây, chúng ta nhận thấy
một sự kiện xă hội rơ nét ở địa
phương mới khai khẩn này, đó là người Tàu
và người Miên, vốn là chủ nhơn ở đây,
chỉ chăm lo làm ăn, buôn bán, c̣n người Việt Nam
đến sau, lại quan tâm tổ chức xă hội theo
trật tự Nhà Nguyễn . V́ thế mà trong quá tŕnh
lập quốc, ít khi xảy ra những cuộc tranh
chấp về chủ quyền đất đai gay gắt
. Người Tàu và người Miên mặc nhiên nh́n nhận
Chánh quyền Nhà Nguyễn và người Việt là chủ
nhơn của phần đất này .
Cơ sở xă hội văn hóa
được tổ chức như thế đă vững
chắc cho đến khi thực dân Pháp đến xâm
chiếm
2 - Có hai nơi được xem như Trung
tâm văn hóa quan trọng của Miền Nam lúc bấy
giờ, đó là Vĩnh Long và Định Tường . Hai
nơi này đă đào tạo một Phan Thanh Giản thi
đậu tiến sĩ . Ông bị lên án là ông quan nhu
nhược, đầu hàng thực dân v́ đă chấp hành
ḥa ước với Pháp năm 1862, nên sau đó ông đă
chọn cái chết để tỏ tiết tháo sĩ phu . Dân
miền Nam không quên những nhà Nho ái quốc và đầy
tiết tháo khác, như Bùi Hữu Nghĩa thi đậu
thủ khoa ; thủ khoa Huân chết sống với Mỹ
Tho; Trương Công
Định rạng danh chống Pháp ở
đám lá Tối Trời, Gia Thuận, G̣ Công; Thiên Hộ
Dương, một
điền chủ ái quốc chống Tây ở Đồng
Tháp ; Nguyễn Trung Trực
chống giữ vùng Nhật Tảo nêu cao tấm
gương ái quốc và can trường mà ngày nay
người Rạch Giá tôn thờ là vị thần linh :
“Lửa
hồng Nhật Tảo oanh thiên địa
Kiếm bạc Kiên Giang
khấp quỷ thần”.
Đó là 4 vị sĩ phu Nam Hà xuất thân
từ trung tâm văn hóa Định Tường và Vĩnh
Long, sống chết cho Đồng Bằng Sông Cửu Long .
Trong quá tŕnh khai mở miền Nam, nhà
Nguyễn chiêu mộ dân lập ấp đưa về
miệt dưới như Ba Xuyên, Cà Mau, Rạch Giá . Trong
chương tŕnh lập ấp, tức tổ chức
định cư về mặt xă hội, chánh quyền nhà
Nguyễn kêu gọi những tù phạm nếu hưởng
ứng chương tŕnh này họ sẽ được
khoan hồng
Nhà Nguyễn theo đuổi mục tiêu
chiến lược là mở rộng bờ cơi về phía
Nam, thiết lập và củng cố chánh quyền miền
Nam, tổ chức pḥng thủ chống ngoại xâm .
3 - Khi thực dân Pháp đến, nhận
thấy tầm quan trọng chiến lược của
miền Đồng Bằng Sông Cửu Long, nên họ cho
bố trí lực lượng quân sự kỹ lưỡng
. Nhưng vẫn không thiếu những người dân
thường, dưới sự lănh đạo hoặc
ảnh hưởng những tấm gương sáng ái
quốc của các sĩ phu Nam Hà, đứng lên từng
nhóm chống Tây . Họ bị bắt và bị đày
biệt xứ, tức bị đày qua Rạch Giá, Bạc
Liêu, Cà Mau, hoặc chính họ rời bỏ Hai Huyện mà
chạy trốn qua những vùng đất mới này
để lánh nạn :
“Cần Thơ
là cảnh
Cao Lănh là quê
Anh đi khỏi xứ Tào Khê
Thoát ṿng lao lư đâu dè gặp
em”.
Đồng thời, thực dân Pháp xoa
dịu, tránh mọi phản ứng không cần thiết
của dân chúng . Họ mở trường dạy học
và mời các ông đồ ngày trước làm đốc
học và thầy giáo . Học sinh không mấy người chịu
đi học trường của Tây khai mở .
Khi thực dân Pháp tới th́ Văn Miếu
tiêu biểu nền Nho học vẫn c̣n . Lập tức,
các giáo sĩ Vatican chiếm lấy ngay để biến
làm nơi truyền giáo . Họ muốn vĩnh viễn tiêu
diệt mọi mầm mống chống đối chính
quyền thực dân v́ Nho sĩ vẫn là “cái đầu”
của xă thôn và đồng thời xóa tận gốc
vết tích nền học vấn cũ ung đúc ḷng yêu
nước và tinh thần quật khởi trong dân chúng, thay
thế vào đó là cái học mới theo nền văn minh
Tây phương . Chính sự việc này c̣n là nguyên nhân sâu xa
của tầng lớp sĩ phu chống đối
thực dân Pháp và đợt sóng văn minh mới .
Trước ḷng dân oán hận, thực dân
Pháp phải cho duy tŕ những tập tục cũ như
lễ lạc, tín ngưỡng dân gian . Ông già Ba Tri,
tức nhà Nho ái quốc Nguyễn Đ́nh Chiểu than
thở, ḷng đầy uất hận v́ bất
lực :
“Thà đui mà
giữ đạo nhà
C̣n hơn sáng mắt, ông cha
không thờ ”.
III - SƠ
LƯỢC VỀ VĂN HÓA – XĂ HỘI
1 - Có nhiều người quan tâm phân biệt những
vùng đất khác nhau, như, “Miệt Vườn” với
Đồng Bằng Sông Cửu Long. Chữ “Miệt”
chỉ một vùng đất ở xa theo vị trí
địa lư đối với người nói chuyện,
như “Miệt Trên” , “Miệt Dưới”, “Miệt
Cao Lănh” ,
“Miệt Đồng Tháp”, “Miệt Xà Toóng” , “Miệt
Bảy Núi”…
“Miệt Vườn” chỉ những vùng
đất cao, thấm nước ngọt, thuận
lợi cho việc lập vườn tược cây trái .
Nơi đây, cách sinh hoạt được tổ
chức khác hơn so với những nơi người dân
sanh sống bằng nghề làm ruộng . Từ đó, phong
cách xă hội của người dân cũng khác . Họ có
vẻ thanh tú hơn nông dân ở vùng ruộng nước .
Khỏi phải nói, phụ nữ “Miệt Vườn”
đẹp hơn phụ nữ “Miệt Ruộng” vô cùng .
“Đời phải đời
thạnh trị
Cuộc phải cuộc
văn minh,
Ḱa là gió mát trăng thanh
Biết đâu nhơn
đạo bày t́nh cho vui”.
(Câu hát dân gian)
Người miệt vườn hay miệt
ruộng tuy có khác nhau về phong thái xă hội nhưng
phần lớn họ đều nặng ḷng ái quốc
như nhau . Đó là nét văn hóa dễ nhận ở
người dân của vùng đất mới này . Về
cách tổ chức đời sống, họ ăn mặc
đơn giản, ngắn gọn nên chiếc áo bà ba
rất thích hợp với mọi người và mọi
lứa tuổi . Nhà cửa thường xây cất tập
trung theo trục giao thông như đường cái, ven sông
rạch và mở toang ra bên ngoài, khác với miền Bắc,
nơi thời tiết lạnh lẽo . Từ đó, tánh
t́nh người miền Nam, nhất là miền Đồng
Bằng Sông Cửu Long, tỏ ra thật thà, bộc
trực, không thích suy nghĩ, nói năng quanh co, bợ
đỡ, xảo trá,… Trong quan hệ giao tiếp, họ
luôn luôn nhiệt t́nh với lối xóm, bạn bè : “Bà con xa
không bằng láng giềng gần”. Với bạn bè hay
lối xóm, họ phải ăn ở với nhau cho “điệu
nghệ”, tức theo “đạo nghĩa” (nghĩa = công
bằng, cho phải phải phân phân để không mất
ḷng nhau v́ không ai bị thiệt) .
2 - Sau khi ổn định xong vùng đất
mới với chế độ thuộc địa,
người Pháp bắt đầu mở rộng sự xâm
nhập văn hóa Tây phương . Họ mở
trường dạy chữ quốc ngữ, chữ Tây chung
với chữ Nho nhưng trọng chữ Tây hơn
để sớm đào tạo một lớp quan chức
mới, phục vụ cho bộ máy hành chánh thuộc
địa . Lớp “sĩ phu” Tây học này được
trả lương cao nên có đời sống vật
chất dễ chịu và họ rời bỏ ruộng
vườn ra sanh sống ở thành thị . Đây chính là
lúc nhà Nho Tú Xương than thở :
“Cái học nhà
Nho đă hỏng rồi
Mười người đi
học, chín người thôi…”
hoặc châm biếm cách thi cử theo
chế độ mới :
“Lôi thôi sĩ
tử vai đeo lọ
Ậm oẹ quan trường
miệng thét loa,
Lộng cắm rợp
trời quan sứ đến
Váy lê quét đất mụ
đầm ra.”
hoặc
“Trên ghế
bà đầm ngoi đít vịt
Dưới sân ông cử ngoảnh
đầu rồng.”
Than thở cho số phận của một
ông Nghè, ông Cống và giễu cả ông Phán:
“Nào có lạ ǵ
cái chữ nho
Ông Nghè ông Cống cũng
nằm co,
Sao bằng đi học làm ông
Phán
Tối rượu săm banh,
sáng sửa ḅ.”
Tuy nhiên, ở đây vẫn c̣n những
Học Lạc, Thủ Khoa Huân, Đồ Chiểu,
Sương Nguyệt Anh cố bám giữ cái học cũ .
Họ làm thơ cổ bằng chữ nho . Nhưng
những sáng tác của nho sĩ chỉ được
một số ít người có học chữ nho đón
nhận nồng nhiệt mà thôi . Trước trào lưu
ồ ạt của văn minh tây phương, một
số nhà nho đành chấp nhận “đầu hàng”, quay ra
dịch truyện tàu ra quốc ngữ, hoặc truyện
bằng chữ nôm ra quốc ngữ . Từ cuối
thế kỷ 19, bắt đầu có những sáng tác, báo
chí bằng chữ quốc ngữ như “Thầy Lazaro
Phiền” , “Gia Định báo”, “Nông Cổ Mín Đàm”,…
Truyện văn vần như Phạm Công Cúc Hoa, Lâm Sanh Xuân
Nương, Sáu Trọng, … bằng quốc ngữ rất
được rộng răi giới b́nh dân ưa chuộng .
Những nho sĩ ái quốc cũng bắt
đầu đón đọc những tác phẩm về
tư tưởng tây phương, như của Montesquieu,
J.J.Rousseau, qua Hán văn dịch từ tiếng Nhựt .
Một lần nữa, những nho sĩ ái
quốc chịu ảnh hưởng tư tưởng chính
trị tây phương, đứng lên làm cách mạng
chống ngoại xâm, giành độc lập dân tộc mà
không “Cần Vương” nữa .
Tiếp theo, một lớp người
mới, học trường Tây, chữ Tây ngay từ
nhỏ, lớn lên, học xong, đỗ đạt
trường Tây, họ kêu gọi dân chúng tập hợp
lại chống Tây . Những người này khác hẳn
với một số người đương thời
với họ, học Nga, học Tàu, tŕnh độ học
vấn kém hơn họ nhiều nhưng lại theo Nga, theo
Tàu, đánh mất hoàn toàn con người Việt Nam ỏ
họ .
Những người học Tây mà theo
Việt Nam đó là Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm, Tạ Thu
Thâu, Trần Văn Thạch, Hồ Văn Ngà, Nguyễn
Văn Sâm, Trần Văn Ân, Vơ Thành Cứ, . . .
3 - Trong sinh hoạt văn hóa, một bộ
môn nổi bật và hấp dẫn quần chúng mạnh
nhất là hát bộ, hát cải lương và đờn ca
tài tử .
Vào đầu thế kỷ qua, nhà in Phát
Toán ở đường Nguyễn Văn Thinh, Sài G̣n 1, in
và xuất bản “Bản đờn tranh và bài ca”.
Người bấy giờ chơi
đờn ca theo quan niệm là đờn ca chỉ
để “di dưỡng tánh t́nh, giao cảm với
bạn tri âm”, hoàn toàn không có ư làm tiền nên c̣n
được dân chúng và giới mộ điệu gọi
là “văn nghệ tài tử”.
Ngày trước, đờn ca, hát múa
chỉ dành riêng và thạnh hành trong Cung đ́nh, nay mở
rộng ra phục vụ dân chúng, mà lại là dân chúng miền
Đồng Bằng Sông Cửu Long .
Cải lương và nhiều bài hát c̣n
lưu truyền cho tới ngày nay đều xuất phát
từ miền Đồng Bằng Sông Cửu Long, bởi
v́ miền này trù phú, người dân có đời sống
sung túc nên có thời giờ và điều kiện nghĩ
đến những môn giải trí tao nhă . Từ đó
xuất hiện văn nghệ .
Tại Vĩnh Long, có ông Tống Hữu
Định tổ chức ca hát tại tư gia của ông .
Người ca hát đứng trên bộ ván và hát có bộ,
tức có nhiều cử chỉ để diễn tả ư
của bài hát .
Cũng ỏ Vĩnh Long, có ông Huờn, công
chức ṭa án, sáng tác bài ca cải cách, ông Phạm
Đăng Đàng là một thầy đờn nổi
tiếng, ông
Trương Duy Toản là soạn giả
tiền phong về cải lương . Ông Toản c̣n là kư
giả và chủ bút báo Trung
Lập . Về Từ Hải, ông ca ngợi
tinh thần anh hùng, tranh đấu mà không v́ “công hầu
khanh tướng”, lại phảng phất tinh thần yêu
nước :
“ … Đường
cung kiếm, cái chí nam nhi
Núi sông là phận, từ
đây quyết vẫy vùng cho sống dậy trần ai
Rền một trời,
đùng đùng xao động,
Tài oanh liệt, mấy
ngọn gươm vàng
Rạch một sơn hà,
mặc dầu ngang dọc…”
Đờn ca chẳng riêng biểu diễn
cho công chúng Đồng Bằng Sông Cửu Long thưởng
ngoạn mà c̣n được đem qua tận xứ Pháp,
tham dự như phần văn nghệ tại cuộc
triển lăm quốc tế vào lúc bấy giờ .
Miệt vườn một thời nổi
tiếng “ca nhạc tài tử với bộ điệu”
đă ảnh hưởng mạnh đến những vùng
xa xôi khác, như Sài G̣n . Ở Hậu Giang, lúc bấy
giờ có ông Hai Khị,
người gốc Minh Hương, giỏi về nhạc
; ông Sáu Lầu
sáng chế bản “Dạ cổ hoài lang”, tức bản
vọng cổ c̣n lưu truyền đến ngày nay .
Năm 1917, ông André Thậm lập gánh xiệc có
pha ca hát có điệu bộ .
Qua đó, chúng ta thấy cải lương
ra đời từ miệt vườn, thâu thái cái hay
cũ, đổi mới theo nhu cầu, hoàn cảnh
địa phương .
Người dân đến đây
định cư lập nghiệp cũng vận dụng
óc sáng tạo để thích nghi với từng hoàn
cảnh, điều kiện đất đai, nước
gió . Nơi họ giữ ruộng cày cấy, nơi họ
xạ lúa và nơi th́ họ trồng đủ các loại
cây ăn trái,…
Mỗi chọn lựa đều nhằm
thích nghi để phát huy khả năng sản xuất .
Văn nghệ tài tử và cách tổ
chức đời sống của người Việt
từ miền ngoài vào đây theo bước nam tiến là
hai nét đặc trưng của văn hóa dân tộc :
“Chuồn
chuồn bay thấp
Mưa ngập ruộng
vườn
Nghe lời nói lại càng
thương
Thương em, anh muốn
lập vườn cưới em ”.
(Câu Ḥ)
Người miệt vườn có tiếng
là văn minh –“Văn minh miệt vườn”. Thế mà khi
tiếp xúc trực tiếp với nền văn minh tây
phương, họ chẳng những ngỡ ngàng mà c̣n ú
ớ nữa .
Năm 1917, máy hát dĩa chạy bằng dây
thiều nhập vào Việt Nam . Nhà giàu miệt vườn
là trong số những người mua sắm máy hát
đầu tiên . Khi nghe máy hát, có nhiều người
sợ hăi bảo nhau : “Trong đó, có hồn người ta
bị bắt nhốt vào nên nó mới hát thành tiếng . Chứ
máy bằng sắt th́ làm ǵ nói ra tiếng người ta
được”. C̣n thấy máy chụp h́nh th́ họ
càng sợ hăi hơn nữa, v́ họ cho là máy chụp h́nh
sẽ “hốt hồn vía” của họ mất đi .
4 - Khi phong trào cách mạng Duy Tân phát
động năm 1919, Kỳ Ngoại Hầu Cường
Để đến Mỹ Tho, Tân Châu, Cao Lănh vận
động quần chúng . Qua năm 1910, có thêm những nhà
cách mạng, như ông Nguyễn Quyền, Dương Bá Trạc, Vơ
Hoanh từ Côn Đảo được đưa về
và chỉ định an trí ở Bến Tre, Mỹ Tho, Sa
Đéc . Những nhân sĩ Nam Kỳ theo phong trào Duy Tân,
Đông Du như các ông Nguyễn An Khương, Nguyễn An
Cư, Nguyễn Thần Hiến, Gilbert Trần Chánh
Chiếu, Nguyễn Quang Diêu, gốc Nho học nên chịu
ảnh hưởng Tôn
Dật Tiên “Tiết chế tư bổn, b́nh
quân địa quyền”.
Hưởng ứng cuộc vận
động cách mạng dân tộc của các nhà ái quốc
này, thanh niên Nam Kỳ dấn thân theo chương tŕnh
Đông Du đông đảo hơn những nơi khác, và
dân Nam Kỳ đóng góp tiền bạc cũng nhiều
hơn những nơi khác .
Sách báo bằng quốc ngữ, nhờ
những điều kiện thuận lợi của
địa phương nên xuất hiện ở xứ Nam
Kỳ phải nói là rất sớm, vào cuối thế
kỷ 19 .
Về truyện, có “Thầy Lazaro Phiền”
của Nguyễn Trọng Quảng, mà ngày nay người
đọc vẫn hiểu được như
thường bỡi lời văn tuy có xưa nhưng
vẫn không quá khác biệc với chữ nghĩa ngày nay .
Về báo, có Gia Định báo xuất
bản vào cuối thế kỷ 19 và kéo dài làm nhiều
chục năm, qua đến cuối thập niên
đầu của thế kỷ 20 . Lục Tỉnh Tân
Văn tiếp theo và tồn tại khá lâu . Nam Phong và Phong
Hóa, Ngày Nay chỉ xuất hiện sau, vào cuối tiền
bán thế kỷ 20 . Cũng như về tiểu thuyết,
đến năm 1923 mới thấy Tố Tâm của Hoàng
Ngọc Phách, trong lúc ấy, tiểu thuyết quốc
ngữ của Hồ Biểu Chánh đă ra mắt vào năm
1916 .
Thế mà văn học sử chỉ
thấy ghi tiểu thuyết quốc ngữ chỉ có
Tố Tâm, Tự Lực Văn Đoàn và báo, chỉ có Nam
Phong, Phong Hóa, Ngày Nay . Điều đáng buồn là không
được ghi nhận sự “có mặt” của sách báo
Nam Kỳ, chứ không phải được ghi vào danh
mục rồi bị phê b́nh là “dở quá”, không xứng
đáng là tác phẩm văn học !
5 - Một sự kiện văn hóa Đồng
Bằng Sông Cửu Long nổi bật rực rỡ chỉ
trong ṿng không quá hai năm, thâu phục hơn 2 triệu
người, đủ thành phần xă hội, nam nữ,
tuổi tác và đưa số người này khuôn vào
nếp sống hướng thượng, lành mạnh,
đạo đức và đầy ḷng ái quốc . Đó là
sự ra đời của Phật Giáo Ḥa Hảo vào năm
1939, tại Châu Đốc .
Các nhà ái quốc tiền bối đau ḷng
cho vận nước, không ngại gian khổ, bôn ba ra
hải ngoại vận động cứu nước
như phong trào Duy Tân, Đông Du . Nối tiếp công
cuộc đó, Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ,
trước t́nh h́nh thế chiến bùng nổ, vận
mạng Việt Nam c̣n trong ṿng kiềm chế của
thực dân, bèn đứng lên vận động quần
chúng ngay nơi Ngài sinh trưởng, tức quần chúng
nông dân miền Đồng Bằng Sông Cửu Long . Ngài ư
thức sức mạnh đánh đuổi ngoại bang
giành độc lập cho đất nước không t́m
ở đâu khác hơn là ở ngay đồng ruộng miền
Nam . Cũng như về tu Phật, Ngài dạy “Phật
tại tâm chứ đâu mà t́m”.
Trào lưu văn minh Tây phương đă
làm đảo điên xă hội, Ngài cổ súy chấn
hưng phong hóa nước nhà, đồng thời thức
tỉnh ḷng ái quốc ở người dân để thành
lập phong trào nhơn dân tranh đấu cứu
nước. Ngài lấy đạo dạy đời làm
căn bản :
“Đời
không đạo, đời vô liêm sỉ
Đạo không đời,
đạo biết dạy ai”.
và sống đời sống của
người Phật Giáo Ḥa Hảo lấy Tứ
Đại trọng Ân làm kim chỉ nam :
“Tu đền nợ nước cho rồi
Th́ sau mới được
đứng ngồi ṭa sen”.
Trước đó, năm 1927, tại
miền Đông xuất hiện Cao Đài
Đại Đạo . Đây cũng là
một tôn giáo ái quốc của xứ Nam Kỳ, vùng
đất vừa mới được khai mở,
thiếu cái gốc ngàn năm của đất Thăng
Long hay đất Thần Kinh . Cao Đài xuất hiện ở miền
Đông v́ dân Hai Huyện văn minh hơn, có học Tây
nhiều hơn, và số người làm việc cho bộ
máy hành chánh của Tây cũng đông đảo hơn .
Từ đó, cách tổ chức, hành đạo, truyền
bá giáo lư của Cao Đài Đại
Đạo đều mang tính khoa học tây phương . Người
khai mở đạo là một vị Đốc Phủ
Sứ . Những người cầm đầu mối
đạo cũng là những người thuần tây
học. Và Cao Đài
mở rộng trong tầng lớp trung lưu, công tư
chức Nam Kỳ.
lV - GIỜ
ĐÂY VÀ NƠI ĐÂY (*)
Hội Ái Hữu Đồng Bằng Sông
Cửu Long là một tập hợp những người
Việt hải ngoại, ngày nay đến đây lập
nghiệp. Tất cả cùng có chung quê hương
thuộc vùng sông nước ấy .
Trước kia, tiền nhân của họ
đă một lần rời bỏ làng xóm, quê hương
theo bước chân nam tiến đến vùng đất xa
xôi, từng bước định cư, lập nghiệp
và cùng nhau thành lập miền Đồng Bằng Sông
Cửu Long .
Giờ đây, con cháu của họ lại
một lần nữa rời quê hương của ông cha
để lại, tản mạn ra hải ngoại ở
khắp nơi . Rồi ở đây, họ cùng nhau dựng
lại Đồng Bằng Sông Cửu Long với những con
người “miệt vườn, miệt ruộng”
thiệt, nhưng trên đất đai của xứ
định cư .
Nhưng Đồng Bằng Sông Cửu Long
ở đây mới chính là “cái c̣n” của chúng ta, v́ chúng ta
đă dựng lại nó với tất cả tâm t́nh chân
thật, với nếp văn hóa của lớp con cháu
của những người trước kia khai mở nó .
“Cái c̣n” này chúng ta phải trân quư, ǵn giữ .
Nếu để mất một lần nữa là chúng ta
bị mất hết, mất trọn vẹn gia sản
tiền nhân .
Cũng như người con gái miền Đồng
Bằng Sông Cửu Long, trước làn sóng văn minh Tây
Phương làm thay đổi nếp sống miệt
vườn, cương quyết bảo vệ cho kỳ
được cái nét đôn hậu ở người yêu :
“Áo bà ba, vạt
ngắn vạt dài
Em may cả đống đó,
sao anh không bận, mà anh bận chi hoài cái áo bành-tô ” ?
Quả thật, người con trai giật
ḿnh, thức tỉnh trước lời người con gái
trách móc . Bổng tự nhiên anh cảm thấy những
lời mộc mạc ấy có sức mạnh như
một công án thiền . Không biết phải thốt
lời ǵ khác hơn là t́m cách tự bào chữa cho ḿnh .
Lời ngụy biện nhưng rất có duyên chắc
sẽ làm mát ḷng người yêu :
“Áo bành- tô
xấu mặt nhưng dễ nh́n
Anh bận nó hoài… để có
cái túi bự… mà anh đựng cục t́nh của em… ”
Nguyễn
văn Trần,
Nông
dân “Miệt
ruộng phèn» Cần Giuộc
Ghi
chú:
(*) Ghi lại buổi nói chuyện hôm lễ
giới thiệu Hội Ái
Hữu ĐBSCL tại Vancouver,
với vài sửa đổi nhỏ
- Áo Bành-tô là áo của Tây,
như áo «Vết» ngày nay .
- Sơn Nam.
Đồng Bằng Sông Cữu Long, Xuân Thu, TX, huê kỳ
- Sơn Nam. T́m
hiểu đất Hậu giang, Phù Sa, Sá g̣n, 1959
- Phan Khoang.
Lich sử Đàng Trong, Sài g̣n, ( sd )
- Nguyễn văn Hầu.
Thoại Ngọc Hầu, Những cuộc Khai phá
Miền Hậu giang,
- Hương Sen.
Sài g̣n, 1972
- Vài tài liệu của
Văn Khố pháp, tài liệu Hội thảo về “Âu
Á” ở Aix-en-Provence
(bảng chụp thiếu ngày )