Phan
Thanh Giản
con người,
sự nghiệp và bi kịch lịch sử
Phan Huy Lê
1
Trước
hết chúng ta cần nhận thức sâu sắc về
tầm quan trọng và tính phức tạp trong việc
đánh giá nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản
(PTG).
Đánh
giá về một nhân vật lịch sử, một con người,
nói chung đă là một vấn đề phức tạp và
tinh tế, đ̣i hỏi các nhà khoa học phải
đặt nhân vật đó vào bối cảnh lịch
sử cụ thể với tất cả mối quan
hệ phức hợp của hoàn cảnh gia đ́nh, văn
hoá, xă hội, điều kiện hoạt động và
nhất là yêu cầu phát triển của đất
nước trong xu thế chung của thời đại và
của khu vực, để phân tích và nh́n nhận một
cách khách quan, toàn diện và thoả đáng về mặt
công lao, cống hiến, mặt tích cực cũng như
mặt hạn chế và tiêu cực. Tuy nhiên đối
với những nhân vật mà công lao và cống hiến
đă quá rơ ràng như các anh hùng dân tộc, các danh nhân văn
hoá... hay trái lại, những nhân vật mang tội với
lịch sử, với dân tộc và nhân loại th́ sự
đánh giá tương đối dễ dàng hơn và dễ
đi đến sự nhất trí hơn. Nhưng trong
lịch sử c̣n có những nhân vật, những con
người sinh ra và lớn lên trong một bối cảnh
phức tạp, đầy biến động và thử
thách của lịch sử và trong cuộc sống cũng như
hoạt động bản thân của họ cũng
chứa đựng và phản ánh những mâu thuẫn
đó, vừa có nhân cách cao đẹp, có công lao đối
với dân với nước, vừa có những mặt
hạn chế nặng nề, những ứng xử mang
tính nghịch lư, thậm chí có khi đi đến bế
tắc, tự kết thúc cuộc sống bằng những
bi kịch. Đối với những nhân vật loại
này, việc nghiên cứu và đánh giá dĩ nhiên gặp
nhiều khó khăn và thường tồn tại những
ư kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau là hiện
tượng dễ hiểu.
PTG
là trường hợp khá điển h́nh thuộc loại
h́nh nhân vật này.
Ngay
từ 1867, khi PTG tự kết thúc cuộc đời
bằng chén thuốc độc, th́ từ trong triều cho
đến trong dân gian, đă có những thái độ nh́n
nhận và sự đánh giá rất khác nhau về ông.
Vua
Tự Đức và triều đ́nh đổ hết
tội lỗi cho ông về việc để mất Nam
Kỳ lục tỉnh, kết tội ông "xét phải
tội chết, chưa đủ che được
tội" và nghị án "truy đoạt lại
chức hàm và đẽo bỏ tên ở bia tiến sĩ,
để măi cái án trạm giam hậu" (1). Nhưng
đến năm 1886, vua Đồng Khánh lại "khai
phục nguyên hàm" và khắc lại tên ông ở bia
Tiến sĩ (2).
Trong
lúc đó, những nhà yêu nước đồng thời
với ông như nhà thơ Nguyễn Đ́nh Chiểu tỏ
thái độ thương tiếc và trân trọng
đối với PTG qua bài thơ điếu (cũng có
người giải thích cách khác):
Minh
tinh chín chữ ḷng son tạc Trời đất từ rày
mặc gió thu.
Và
trong bài "Văn tế lục tỉnh sĩ dân trận
vong", nhà thơ Đồ Chiểu một lần
nữa nêu cao
Trương Định và PTG:
"Phải
trời cho mượn cán quyền phá lỗ, Trương
tướng quân c̣n cuộc nghĩa binh
Ư
người đặng xem tấm bản phong trần, Phan
học sĩ hết ḷng cứu nước".
Nhưng
lại có nguồn tin tương truyền rằng, Trương Định
lên án PTG bán nước khi đề cờ khởi nghĩa
"Phan, Lâm măi quốc; triều đ́nh khí dân".
Ở
đây chưa bàn về nguồn gốc và tính xác thực
của câu nói trên, nhưng sự tồn tại và lưu
truyền dù trong giới hạn nào, ít nhiều cũng
phản ánh một thái độ lên án PTG.
Rồi
trong thơ văn, trong các công tŕnh nghiên cứu, chúng ta luôn
luôn bắt gặp những nhận xét và đánh giá rất
khác nhau, khác nhau đến mâu thuẫn, trái ngược nhau
về nhân vật PTG.
Năm
1962 - 1963, trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử bùng lên
cuộc tranh luận về PTG. Tháng 10/1963, tạp chí đă
công bố bài kết luận của GS Trần Huy Liệu
dưới tiêu đề "Chúng ta đă nhất trí
về việc nhận định Phan Thanh Giản".
Quan điểm chung của bài kết luận là lên án PTG
"Phan trước sau vẫn rơi vào thất bại
chủ nghĩa, phản lại nguyện vọng và
quyền lợi tối cao của dân tộc, của nhân
dân", là phạm tội "dâng thành hiến đất
cho giặc" và từ đó phủ nhận tất
cả "tư đức" của ông như
"đức tính liêm khiết", "ḷng yêu
nước", "thương dân"... v́ "công
đức đă bại hoại th́ tư đức c̣n có
ǵ đáng kể" (3).
Bài
kết luận này cũng như những tham luận
đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử lúc
bấy giờ cho thấy, bên cạnh thái độ lên án
PTG, cũng có những ư kiến muốn nh́n nhận ông
một cách toàn diện hơn và phải ghi nhận
những phẩm giá, nhân cách của ông một cách khách quan
và thoả đáng hơn. Và ngay sau khi cuộc thảo
luận kết thúc với kết luận lên án và phê phán
nặng nề như vậy th́ GS Ca Văn Thỉnh với
tư cách là một người con của Bến Tre,
của Nam Kỳ lục tỉnh tỏ thái độ
băn khoăn và không đồng t́nh. Như vậy là
cuộc thảo luận năm 1962 - 1963 tuy kết thúc,
nhưng trong tranh luận và sau khi kết luận, vẫn
tồn tại những quan niệm và ư kiến khác nhau.
Hơn thế nữa, cuộc tranh luận lúc bấy
giờ diễn ra trong hoàn cảnh cuộc chiến tranh dân
tộc đang phát triển gay gắt mà mục tiêu cao
nhất của nhân dân cả nước là chống xâm
lược, độc lập và thống nhất Tổ
quốc. Không khí của cuộc đấu tranh dân tộc,
trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của nhà sử
học đối với đất nước không
thể không ảnh hưởng đến xu hướng
chung của cuộc tranh luận. Chúng ta nên ghi nhận
kết quả của cuộc thảo luận năm 1962 -
1963 như một mốc đánh dấu nhận thức và
thái độ của sử học đối với PTG
trong bối cảnh lịch sử cụ thể lúc đó.
Sau
năm 1975, nhất là trong công cuộc đổi mới
gần đây, nhiều nhà khoa học thấy cần
phải đánh giá lại PTG một cách khách quan và
đầy đủ hơn. Nhân dân và cán bộ tỉnh
Bến Tre, Vĩnh Long quê hương của PTG càng mong
mỏi và đ̣i hỏi các nhà khoa học và công luận làm
sáng tỏ hơn thân thế và sự nghiệp của ông
với tất cả những ǵ ông đă để lại
cho lịch sử và trong ḷng dân, những thành công và thất
bại, mặt tích cực và hạn chế, những trăn
trở và uẩn khúc của đời ông.
Đó
chính là lư do sâu xa và gần gụi đưa đến
cuộc hội thảo khoa học do Tỉnh uỷ, Uỷ
ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre phối hợp
với Trung tâm KHXH & NVQG và Hội KHLSVN tổ chức.
Sự có mặt và tham gia tích cực của nhiều nhà khoa
học ở địa phương và Trung ương,
nhiều cán bộ lănh đạo của hai tỉnh và
sự theo dơi, chờ đợi của nhân dân quê
hương PTG đủ cho thấy sự cần thiết
và ư nghĩa khoa học, ư nghĩa thực tiễn của
cuộc hội thảo.
2
Tư
liệu là cơ sở khoa học cần thiết
để phục dựng lại một cách đáng tin
cậy thân thế và sự nghiệp của PTG cùng
những mối quan hệ phức tạp giữa ông
với thời cuộc, với triều đ́nh và quân Pháp
lúc bấy giờ. Chỉ trên cơ sở những sự
thật lịch sử được xác minh bằng tư
liệu cụ thể, chúng ta mới có thể phân tích và
nhận định một cách khoa học.
So
với cuộc hội thảo năm 1962 - 1963 và những
công tŕnh nghiên cứu trước đây, chúng ta ư thức
sâu hơn vai tṛ của tư liệu và đă cố mở
rộng thêm các nguồn tư liệu. Ngoài chính sử
của triều Nguyễn như Đại Nam thực
lục, Đại Nam liệt truyện..., những thư
tịch Hán Nôm, nhiều tác giả đă cố gắng khai
thác thêm những sử liệu trong các tác phẩm của
PTG, trong các di tích lịch sử và văn học dân gian
của quê hương ông, trong các tài liệu lưu trữ
của triều đ́nh Nguyễn (Châu bản triều
Nguyễn), của quân đội Pháp... Tôi đặc
biệt quan tâm những tư liệu của quê
hương Bến Tre như tấm bia mộ đơn
sơ "Lương
Khê Phan lăo nông chi mộ", tấm minh sinh ghi
lời Phan "Đại Nam hải nhai lăo thư sinh tánh
Phan chi cửu", những chuyện kể, những
truyền thuyết dân gian nói lên chí hiếu học, cuộc
sống thanh bạch, ḷng liêm khiết, tinh thần yêu
nước, thương dân của PTG (4) và qua đó, giúp
chúng ta hiểu tấm ḷng tôn kính, ngưỡng mộ
của nhân dân đối với ông.
Rơ
ràng chúng ta c̣n phải dày công mở rộng và khai thác sâu
hơn nữa các nguồn tư liệu về PTG. Cho
đến nay, ngay những tác phẩm của PTG
được con ông thu thập lại trong hai bộ sách
"Lương
Khê thi thảo" in năm 1876, có 454 bài
thơ) và "Lương
Khê văn thảo" (in năm 1876, có 39 bài
văn) (5) vẫn chưa được khai thác nhiều.
Những tư liệu lưu trữ của triều
Nguyễn và của Pháp cũng chỉ mới
được t́m ṭi, khai thác một phần.
Nhưng
cùng với việc mở rộng nguồn tư liệu,
chúng ta phải quan tâm đến việc giám định và
xử lư tư liệu. Đây là một vấn đề
cực kỳ quan trọng về phương pháp luận
sử học mà trong hội thảo khoa học của chúng
ta, một số tác giả đă nêu lên với sức
thuyết phục cao.
Ngay
câu nói "Phan, Lâm măi quốc; triều đ́nh khí dân" mà
bao nhiêu tác giả đă sử dụng và dẫn ra như
một minh chứng hùng hồn về thái độ lên án
của nhân dân đối với PTG và triều đ́nh
Nguyễn, th́ cho đến nay, nguồn gốc và xuất
xứ vẫn chưa rơ. Phải chăng đó là câu
đề cờ của Trương Định khi dựng
cờ khởi nghĩa vừa chống Pháp xâm lược
vừa chống triều đ́nh đầu hàng, nhưng
như vậy tại sao không thấy ghi chép lại trong
những tác phẩm viết về Trương Định
của những tác giả đương thời như
Nguyễn Thông? Phải chăng do nhóm Đông Kinh Nghĩa
Thục đưa ra năm 1907, chỉ là một giả
thiết hay suy đoán chưa có căn cứ? Dĩ nhiên
sự ra đời và lưu truyền câu nói đó dù trong phạm
vi nào, đă phản ánh một thái độ phê phán PTG
của một số người nhất định.
Nhưng nếu là câu nói của Trương Định th́ rơ ràng ư
nghĩa của tư liệu khác hẳn. V́ thế, t́m
hiểu nguồn gốc và xuất xứ của câu nói
vẫn cần đặt ra.
Sử
dụng tư liệu của chính sử triều Nguyễn
viết về PTG, nhất là quan hệ giữa ông với
vua Tự Đức và triều Nguyễn trong trách nhiệm
để mất 6 tỉnh Nam Kỳ cũng cần phân
tích, giám định. Đại Nam thực lục ghi chép
việc kư hoà ước Nhâm Tuất 1862 như là trái ư
Tự Đức và bị nhà vua lên án: "Thương thay
con đỏ của lịch triều, nào có tội ǵ?
Rất là đau ḷng. Hai viên này (Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp)
không những là người có tội của bản
triều mà là người có tội của muôn ngh́n
đời vậy" (6), "Nghị hoà là thất cơ,
lỗi ấy do hai viên kia (Phan Thanh Giản và Lâm Duy Thiếp)"
(7). Nhưng cũng chính bộ sử này cho biết rơ, lúc
đó Tự Đức đă xác lập đường
lối "chủ hoà" và khi cử PTG làm Chánh sứ toàn
quyền đại thần "nghị về việc
hoà" th́ vua tôi đă bàn định kỹ các khả
năng kể cả việc cắt đất và bồi
tiền. Nếu PTG tự tiện kư hoà ước trái ư vua
th́ sao Tự Đức không bắt tội, mà lại
cử ông làm
Tổng đốc Vĩnh Long và tiếp
tục giao phó cho ông nhiều trọng trách giao thiệp
với Pháp và năm 1863 chính Tự Đức đă phê
chuẩn hoà ước, làm lễ đại triều ở
điện Thái Hoà tiếp sứ thần hai nước
Pháp, Y Pha Nho để trao đổi văn bản hoà
ước. Đó là những lắt léo trong chính sử
triều Nguyễn nhằm biện hộ cho Tự Đức
và đổi tội cho PTG mà khi sử dụng chúng ta
cần giám định cẩn thận.
Sử
dụng tư liệu của Pháp, nhất là những tư
liệu do những chỉ huy quân viễn chinh Pháp và
những viên quan cai trị Pháp viết, chúng ta càng phân tích,
đối chiếu và giám định kỹ, không những
v́ lối tŕnh bày khuếch đại "chiến công"
của họ, mà có khi c̣n v́ những mưu đồ chính
trị thâm hiểm. PTG là một người có uy tín và
ảnh hưởng lớn trong nhân dân th́ càng dễ trở
thành đối tượng lợi dụng của họ
và v́ mục đích đó, họ không ngần ngại ǵ bóp
méo sự thật hay bịa đặt ra các văn bản
giả.
Trong
cuộc hội thảo khoa học của chúng ta, có tác
giả nêu lên một cách có căn cứ, nghi vấn về
bài hịch kêu gọi đầu hàng của PTG với
lời "ta đă biên thư cho tất cả các quan và
tất cả các vị chỉ huy quân sự là phải
bẻ găy giáo mác và trao lại thành luỹ mà không giao
chiến" (7), và thư của PTG gửi cho La Grandière
trước lúc tự tử (8). Đó là những tư
liệu mà nhiều nhà nghiên cứu đă sử dụng,
nhưng chưa ai đặt vấn đề thẩm
định tính xác thực và độ tin cậy của
nó.
Việc
quân Pháp hạ thành Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên tháng 6/1867
cũng như có chỗ khác nhau giữa một số tư
liệu của Pháp và của ta. Quan chức Pháp như La Grandière,
Paulin, ẸLuro... miêu tả như PTG đă đầu hàng,
trao thành Vĩnh Long cho Pháp, rồi viết thư bắt các
thành An Giang, Hà Tiên cũng phải nộp thành cho Pháp (9).
Nhưng tư liệu của ta như Đại Nam
thực lục và nhất là Châu bản triều Nguyễn
(10) lại cho thấy một thủ đoạn của
quân Pháp, lợi dụng thái độ chủ hoà của PTG
và những sơ hở của quân ta, để bất
ngờ chiếm thành. Chúng đem chiến thuyền
đến áp sát thành Vĩnh Long, đưa thư bắt
nhường ba tỉnh miền Tây, buộc PTG xuống tàu
thương nghị rồi khi Phan trở lại, chúng kéo
theo và bất ngờ đột nhập chiếm thành
Vĩnh Long.
Việc
chiếm thành An Giang và Hà Tiên cũng diễn ra gần
như thế. Đó là lư do chúng chiếm được ba
thành quá dễ dàng và không tốn một viên đạn.
Tất nhiên để mất ba thành là trách nhiệm không
thể thoái thác của Kinh lược sứ đại
thần PTG và các tướng giữ thành, nhưng dâng thành
đầu hàng giặc hay bị lợi dụng và lừa
dối để mất thành lại là hai việc khác nhau
liên quan đến phẩm giá con người. Những
tư liệu khác nhau như vậy đ̣i hỏi phải
có sự phân tích, đối chiếu và giám định rơ
ràng trước khi sử dụng.
Giám
định tư liệu là yêu cầu mặc nhiên của
công tác sử liệu học, nhưng hội thảo khoa
học của chúng ta lần đầu tiên đưa ra yêu
cầu đó với những nghi vấn và đề
xuất cụ thể về một số tư liệu
liên quan đến nghiên cứu con người và sự
nghiệp PTG vào những năm tháng thử thách nặng
nề nhất trong cuộc đời ông.
3
Đánh
giá PTG trước đây người ta thường
tập trung vào 5 năm cuối đời ông từ khi kư
hoà ước 1862 nhượng ba tỉnh miền Đông
đến khi để mất tiếp 3 tỉnh miền
Tây Nam Kỳ năm 1867. Đó là giai đoạn cuối
đời mà ông phải gánh vác những trọng trách
nặng nề trong những mâu thuẫn của đất
nước và của bản thân phát triển đến
cực điểm mà ông không vượt qua được
và tự kết thúc bằng cái chết. Trong giai
đoạn này tập trung nhiều vấn đề
phức tạp cần làm sáng rơ nhất. Nhưng khi xem xét
và đánh giá một con người, chúng ta cần nh́n
nhận một cách toàn diện về toàn bộ cuộc
đời và sự nghiệp của con người đó.
Kể
từ khi sinh ra năm 1796 đến khi từ trần
năm 1867, cuộc đời và sự nghiệp của PTG
nên phân định làm 3 giai đoạn:
-
Giai đoạn thiếu thời lo ăn học từ 1796
đến khi thi đỗ Tiến sĩ năm 1826.
-
Giai đoạn làm quan phụng sự ba triều vua
Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức,
từ năm 1826 đến năm 1862.
-
Giai đoạn cuối đời đầy thách thức
và bế tắc từ 1862 đến 1867.
Hội
thảo của chúng ta nhất trí cho rằng, trước
khi tập trung làm sáng rơ những vấn đề giai
đoạn cuối đời, cần xem xét và đánh giá
con người và sự nghiệp của PTG trong hai giai
đoạn đầu trước năm 1862.
Trong
buổi thiếu thời, nét nổi bật của con
người PTG là hiếu thảo, chăm học, sống
thanh bạch cần kiệm. Xuất thân trong một gia
đ́nh nghèo khổ, tiên tổ từ B́nh Định di
cư vào đồng bằng sông Cửu Long và trên quê
hương mới cũng qua ba lần thay đổi
mới định cư ở thôn Tân Thạnh, huyện Tân
An, dinh Long Hồ (sau là huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh
Long, nay là xă Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến
Tre). Cha làm Thủ hạp là một viên chức nhỏ,
bị tội oan phải tù 3 năm ở Vĩnh Long, PTG
mồ côi mẹ từ lúc lên 7 tuổi, được
mẹ kế và nhiều người giúp đỡ cho
ăn học thành tài. Năm _ấ_t Dậu 1825, ông thi Hương
trường Gia Định, đỗ Cử nhân lúc 30
tuổi (31 tuổi ta). Năm sau - năm Bính Tuất 1826 -
ông thi hội, đỗ Tiến sĩ (Đệ tam Giáp
đồng Tiến sĩ xuất thân) năm 31 tuổi (32
tuổi ta). Đó là thành đạt lớn mở ra trong
bước ngoặt cuộc đời của PTG. Ông
trở thành vị Tiến sĩ đầu tiên, vị
Tiến sĩ khai khoa của Nam Kỳ lục tỉnh.
Quốc
triều hương khoa lục chép: "Ông là người
đỗ đại khoa đầu tiên của Nam Kỳ.
ông là người có học vấn và đức hạnh
đứng đầu đất Nam Trung" (11).
Quốc
triều đăng khoa lục nhận xét: "Ông là
người đỗ đại khoa trước nhất
của Nam Kỳ. Lực học tinh thuần, tính hạnh
chính trực" (12).
Với
ḷng hiếu thảo, hiếu học, tinh thần siêng
năng, cần mẫn và trí thông minh, PTG đă vượt
qua những khó khăn của cuộc sống, vươn
lên vị trí Tiến sĩ khai khoa của đất
Đồng Nai - Gia Định, của Nam Kỳ lục
tỉnh. Những phẩm giá con người và vị trí
thành đạt đó đă làm cho nhân dân Nam Kỳ quư
mến và ngưỡng mộ, tự hào về người
con của quê hương, biểu thị tinh thần
hiếu học của nhân dân ta. Đó cũng là những
phẩm chất tốt đẹp thời tuổi trẻ
của PTG mà chúng ta cần trân trọng và c̣n nguyên giá
trị giáo dục đối với thế hệ trẻ
hôm nay cũng như ngày mai.
Với
học vị Tiến sĩ, PTG đi vào con
đường hoạn lộ, làm quan trải qua ba triều
vua từ Minh Mạng qua Thiệu Trị đến Tự
Đức. Từ chức Hàn lâm viện Biên tu thăng Lang trung Bộ H́nh năm
1826, ông tiếp tục giữ nhiều chức vụ
ở trong triều và nhiều địa phương.
Dưới
triều Minh Mạng (1820 - 1840), ông giữ chức Quyền
nhiếp trấn Nghệ An (1828), Thự phủ doăn phủ
Thừa Thiên (1829), thăng Thị lang bộ Lễ (1829),
thăng Hiệp trấn Ninh B́nh (1829), đổi về
Quảng Nam (1831) dẹp cuộc nổi dậy ở Chiên
Đàn bị thua và bị cách chức, rồi
được khởi phục làm Hành tẩu Nội các,
thăng Thị lang bộ Hộ, Thự phủ doăn Thừa
Thiên, thăng Hồng lô tự khanh, sung Phó sứ sang Thanh
rồi thăng Đại lư tự khanh, kiêm công việc
bộ H́nh, sung Cơ mật viện đại thần
(1832), Khâm phái đi Trấn Tây, đổi làm Bố chính
Quảng Nam (1835), v́ can ngăn vua, bị xúc xiểm và
bị giáng là thuộc viên lục phẩm (1836), rồi
được làm Thừa chỉ Nội các, sung Lang trung
bộ Hộ, rồi Thự thị lang sung Cơ mật
viện (1836), được cử đi duyệt binh
ở Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá, lúc về chuyên biện
việc Bộ Hộ v́ quên không đóng dấu vào
chương sớ bị giáng làm Lang trung, biện lư
việc Bộ, phái đi khai mỏ Chiên Đàn, mỏ
bạc Thái Nguyên (1838), được triệu về Kinh
làm Thông chính sứ phó ty, rồi Thị lang bộ Hộ, v́
can ngăn vua bị giáng làm Thông chính phó sứ (1840), sung làm
Phó chủ khảo trường thi Thừa Thiên v́ sơ
suất bị giáng một cấp (1840).
Dưới
triều vua Thiệu Trị (1841 - 1847), ông được
thăng Tham tri (1841), rồi thăng Thượng thư
bộ H́nh sung Cơ mật viện đại thần
(1847).
Dưới
triều vua Tự Đức (1848 - 1883), cho đến
trước năm 1862, ông được đổi sang
Thượng thư bộ Lại (1848), sung làm Giảng quan
toà Kinh diên, cử làm Kinh lược đại sứ
ở Tả Kỳ, lĩnh Tổng đốc B́nh Phú, kiêm
coi đạo Thuận Thành (1849), làm Kinh lược phó
sứ Nam Kỳ lĩnh Tuần phủ Gia Định, kiêm
coi tỉnh Biên Hoà và các đạo Long Tường, An Hà
(1851), được triệu về kinh thăng Thự
hiệp biện đại học sĩ, lĩnh
Thượng thư bộ H́nh, sung Cơ mật, Kinh diên
(1853), làm Chánh tổng tài Quốc sử quán (1856) (13).
Qua
hành trạng tóm lược trên, cuộc đời làm quan
của PTG có những bước thăng trầm, có lúc
bị cách chức, bị cách chức, nhưng trong bất
cứ cương vị nào ông cũng luôn luôn trung thành,
mẫn cán, lo làm tṛn sứ mạng pḥ vua, giúp nước,
an dân theo quan niệm của Nho giáo. Ngoài tài năng, phẩm
giá đáng quư ở PTG là tấm ḷng yêu nước
thương dân, tính ngay thẳng cương trực và
cuộc sống cần kiệm thanh bạch. Làm quan có lúc
đến nhất phẩm triều đ́nh, nhưng
quyền lực và danh vọng không làm ông bị tha hoá
như nhiều quan chức khác, trước sau ông vẫn
giữ nhân cách cao đẹp của ḿnh.
Với
tính cương trực và ư thức trách nhiệm
trước nước, trước dân, PTG đă dám can
ngăn vua dù bị mang hoạ vào thân. Năm 1836, ông đă
can ngăn vua Minh Mạng đi tuần du Quảng Nam v́
năm đó mất mùa lại đang lúc cày cấy, "hăy
xin tạm đ́nh cho dân được chuyên việc
đồng ruộng" (14). Năm 1840, Vương Hữu
Quang có tội, đ́nh thần dựa theo ư vua, có
người xin xử tội chém, có người xin xử
tội lưu, ông dám xin nhà vua chỉ xử giáng 2 cấp
lưu (15).
Những
năm 1843, 1849, 1852, 1853, 1859, PTG dâng sớ lên vua, nói lên
thực trạng của đất nước về kinh
tế, xă hội và đề xuất những chính sách
nhằm "dựa vào pháp luật mà cai trị",
"quan tốt mà dân yên", "chỉnh đốn thói
quen của sĩ phu", ""chữa hồi bệnh
đau khổ của nhân dân", "nuôi dân chăm cày
cấy", "nuôi quân trù phương lược",
"binh giỏi lương đủ như nguồn
nước chảy măi không hết"... (16). Năm 1838,
được cử đi khai mỏ vàng Chiên Đàn ở
Quảng Nam rồi mỏ bạ Tống Tinh ở Thái
Nguyên, PTG đem thực trạng thua lỗ tâu tŕnh lên
để nhà vua băi bỏ việc khai mỏ vàng Chiên Đàn
và chuyển mỏ bạc Tống Tinh cho thương nhân
lĩnh trưng (17).
Tự
Đức đă khen PTG là người "liêm b́nh chính
cán" (1852), là "thanh liêm, cẩn thận" (1856). Ngoài
các hoạt động chính trị, PTG c̣n có những
cống hiến về mặt văn hoá. Năm 1856, PTG
được cử làm Tổng tài phụ trách công
việc biên soạn bộ Khâm định Việt sử
thông giám cương mục. Trong 3 năm (1856 - 1859), ông cùng
nhóm biên soạn đă hoàn thành công việc biên tập,
nhưng sau đó c̣n phải "duyệt nghĩ" (1871),
"duyệt kiểm" (1872), "phúc kiểm" (1876),
"duyệt đính" (1878), "kiểm duyệt"
(1884), đến năm 1884 mới được khắc
in và ban hành. Đó là bộ quốc sử đồ sộ,
viết theo lối "cương mục", chép
lịch sử dân tộc từ đời Hùng Vương
cho đến năm Chiêu Thống 3 (1789), gồm cả
thảy 52 quyển. Bộ sử biên soạn trên quan
điểm Nho giáo kết hợp với tinh thần dân
tộc, với những "lời chua" nhằm chú
giải tên đất, tên người và giám định một
số sự kiện, niên đại trên cơ sở
khảo chứng công phu, và những "Lời phê"
của Tự Đức. Khâm định Việt sử
thông giám cương mục cùng với Đại Việt
sử kư toàn thư (chép sử từ nguồn gốc
đến năm 1675) là hai bộ quốc sử lớn
nhất được khắc in toàn bộ trong thời
đại phong kiến Việt Nam. Về phương
diện này, chúng ta cần ghi nhận cống hiến to
lớn của PTG và với bộ quốc sử này, ông là
một nhà sử học lớn (18).
PTG
c̣n là nhà thơ, nhà văn mà những tác phẩm c̣n lại
đă được các con ông thu thập và khắc in thành
hai bộ "Lương
Khê thi thảo" và "Lương Khê
văn thảo". Tuy chưa được dịch và
nghiên cứu đầy đủ, nhưng một vài tham
luận trong hội thảo khoa học của chúng ta
cũng đă cho thấy rơ thêm tâm hồn và tài năng
cũng như tư tưởng và t́nh cảm thắm
thiết của ông đối với quê hương xứ
sở, đối với dân với nước
được gởi gắm trong thơ văn của ông.
Ông
cùng Nguyễn Thông có công xây Văn Thánh Miếu và lập
Văn Xương Các ở Vĩnh Long sau khi mất 3
tỉnh miền Đông để qui tụ các sĩ phu
về đây. PTG là một trong những nhà thơ, nhà
văn lớn của Nam Kỳ. Như vậy là cho
đến trước năm 1862, PTG đă có nhiều
hoạt động chính trị và văn hoá. Tất cả
các tham luận và thảo luận trong hội thảo
đều gần như nhất trí biểu thị sự
trân trọng và đánh giá cao những cống hiến tích
cực của ông trong thời gian này, nhất là nhân cách và
phẩm giá cao quư của ông.
4
Năm
năm cuối đời (1862 - 1867) là giai đoạn gian
truân, đầy uẩn khúc của PTG và cũng là giai
đoạn tập trung nhiều vấn đề tranh
luận nhất của cuộc hội thảo. Những
vấn đề chính được đặt ra là trách
nhiệm của PTG trong việc kư hoà ước 1862
nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp, trong việc
để mất 3 tỉnh miền Tây năm 1867 và cái
chết của ông, mối quan hệ trách nhiệm giữa
PTG với vua Tự Đức và triều Nguyễn.
Về
tư liệu và một số sự kiện liên quan
cũng được nêu lên để cố gắng t́m ra
sự thật lịch sử bấy lâu nay bị che
phủ trong màn sương mù của những tài liệu ghi
chép lắt léo một cách dụng ư, thậm chí cả
sự bịa đặt và bóp méo mà chưa hề
được thẩm định một cách khoa học
(đă tŕnh bày trong phần 2). Hội thảo lưu ư các nhà
khoa học nên tiếp tục dày công tra cứu, giám
định tư liệu để sớm đưa ra ánh
sáng những sự việc bị che đậy nhằm
trả lại cho lịch sử những sự thật
lịch sử và có đủ cơ sở khách quan hơn
trong việc nh́n nhận và đánh giá PTG một cách công minh.
Cho
đến lúc này, trong chúng ta vẫn c̣n những khía
cạnh bất đồng hay khác biệt, và ai cũng mong
muốn được tiếp tục nghiên cứu và trao
đổi. Tuy nhiên, chúng ta cũng rất vui mừng
nhận thấy qua hai ngày hội thảo, chúng ta đă làm
sáng tỏ được những vấn đề
đặt ra và đi đến sự nhất trí về
cơ bản trong nhận thức và đánh giá PTG vào 5
năm cuối đời ông.
Hoà
ước năm Nhâm Tuất 1862 gồm 12 điều
khoản, trong đó điều cơ bản là triều
Nguyễn nhượng hẳn cho Pháp 3 tỉnh Biên Hoà, Gia
Định, Định Tường cùng đảo Poulo
Condor (Côn Đảo) và chịu bồi thường
chiến phí 4 triệu đồng bạc trả trong 10
năm, người Pháp và Y Pha Nho được quyền
tự do truyền đạo và buôn bán. Rơ ràng đây là
một hiệp ước xâm phạm nặng nề
đến lănh thổ của đất nước và
chủ quyền quốc gia, đi ngược lại
quyền lợi dân tộc và truyền thống dân tộc.
Ngay lúc bấy giờ, nhân dân Nam Kỳ và nhân dân cả
nước đă tỏ sự bất b́nh, chống
đối lại hoà ước đó và ngày nay cũng không
một ai có thể biện hộ được. Nhưng
vấn đề là phải chăng PTG và Lâm Duy Thiếp,
những người kư hiệp ước, phải hoàn toàn
chịu trách nhiệm về việc nhượng
đất đó?
Tự
Đức muốn đổ hết trách nhiệm và
tội lỗi cho PTG, nhưng tư liệu lấy ngay trong
chính sử triều Nguyễn cũng đủ cho chúng ta
khẳng định rằng PTG là người thừa hành
và thực hiện một chủ trương đă
được hoạch định của Tự
Đức và triều đ́nh, đồng thời PTG
cũng là người đồng t́nh với chủ
trương đó.
Trách
nhiệm của PTG ở đây là trách nhiệm của
người thừa hành và tất nhiên với cương
vị Chánh sứ toàn quyền đại thần, ông
cũng có phần trách nhiệm trong việc thương
thuyết và thực thi một chủ trương sai
lầm của triều đ́nh.
Sau
khi hoà ước được kư kết, đ́nh thần
cũng chỉ có thể nhận xét và tâu lên vua :"về
khoản cắt đất bồi ngân, hai viên ấy đă
làm, phần nhiều chưa hợp. Nhưng điều
ước mới định, nếu vội sửa
đổi ngay, sợ họ c̣n tức khí", và
đề nghị "công việc Nam Kỳ nên chuyển
uỷ cho Phan Thanh Giản,
Lâm Duy Thiếp
đứng làm" (19).
Trong
việc để mất 3 tỉnh miền Tây năm 1867,
trách nhiệm của PTG về nguyên tắc có phần
nặng nề hơn v́ với cương vị Vĩnh
Long - An Giang - Hà Tiên kinh lược sứ, ông có trách
nhiệm giữ đất và là người
được toàn quyền thay mặt nhà vua xử lư
mọi việc trong vùng. Nhưng trên thực tế, chủ
trương "cầu hoà" và Hoà ước 1862 mà
Tự Đức đă phê chuẩn năm 1863, đă
đặt PTG và nhiệm vụ giữ đất 3
tỉnh miền Tây vào t́nh thế cực kỳ khó khăn
đến bế tắc.
Về
vị trí địa lư, 3 tỉnh hoàn toàn bị cô lập,
bị tách ra khỏi địa bàn cả nước
bởi 3 tỉnh miền Đông đă ở trong tay quân
Pháp.
Hơn
thế nữa, trung thành theo Hoà ước 1862 và nhất là
sợ người Pháp "nghi ngại", Tự
Đức "đem sao lục 12 điều ước
cũ, đưa đi treo dán để hiểu bảo cho
sĩ dân đều biết, khiến đều yên ở
làm ăn", rồi c̣n "xuống dụ cho cho tỉnh
thần ba tỉnh sức khắp các hạt biết, mà các
quan phủ huyện một khi trông thấy, tức th́
bắt ngay đem giải, nhà dân có ai chứa chấp
cũng bắt tội như kẻ phạm tội"
(20). Tự Đức nhiều lần ra lệnh
"hưu binh", "giải giáp", sai PTG dụ Trương Định,
giải tán lực lượng nghĩa binh chống Pháp.
Như
vậy là Tự Đức và triều đ́nh đă tự
ḿnh tước bỏ mọi khả năng giữ
đất 3 tỉnh miền Tây cũng như giành lại 3
tỉnh miền Đông.
Năm
1866, quân Pháp đe doạ chiếm nốt 3 tỉnh miền
Tây, Tự Đức và triều đ́nh một mặt
"khiến 3 tỉnh ấy một ḷng chống giữ",
mặt khác lái thấy "thế đất cheo leo,
muốn giữ cho không lấn cũng khó" và "xin
tư cho quan Kinh lược không đánh nhau với quân Pháp,
tự phải rút lui" (21). Những chủ trương
và giải pháp của triều đ́nh như vậy ắt
dẫn đến hậu quả tất nhiên là không thể
nào giữ được 3 tỉnh miền Tây.
Tư
liệu lịch sử của ta cho thấy PTG không phải
đầu hàng, nộp thành cho giặc như sự miêu
tả của một số tư liệu Pháp, nhưng
việc mất 3 tỉnh miền Tây cũng là hậu
quả tai hại của những chủ trương sai
lầm của Tự Đức và triều Nguyễn, trong
đó dĩ nhiên có trách nhiệm bản thân PTG.
Cuối
cùng cái chết của PTG có thể coi là sự kết thúc
những năm cuối đời đầy bi kịch
của ông trong bi kịch chung của đất
nước dưới triều Nguyễn.
PTG
là người yêu nước, thương dân, nhưng
cũng là một tín đồ của Nho giáo với ḷng
trung quân sâu nặng. Vào thế kỷ XIX, Nho giáo vẫn c̣n
giữ một số ảnh hưởng tích cực trên
một số phương diện nào đó về mặt
đạo đức và cách xử thế, nhưng hệ
tư tưởng Nho giáo th́ tỏ ra quá bảo thủ và
lỗi thời, không c̣n khả năng giúp con người
nhận thức, lư giải và giải quyết những
vấn đề mới của đất nước,
của dân tộc trong bối cảnh phát triển mới của
thời đại.
Trước
hoạ xâm lược của thực dân Pháp đến
từ một nước tư bản phương Tây,
từ một nền văn minh công nghiệp với
nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh
tối tân, với lối đánh chưa từng có trong binh
thư phương Đông, vua tôi triều Nguyễn tỏ
ra rất bị động, lúng túng. Trong triều th́
người "chủ chiến", người th́
"chủ hoà", người th́ "lo chống giữ
lâu dài", người th́ "chẳng chiến cũng
chẳng hoà" và không ít người chẳng đưa ra
được chính kiến ǵ. Vua Tự Đức đi
từ chống đỡ yếu ớt và đến
thất bại, đến "chủ hoà" thương
lượng và nhượng bộ dần đất
đai và chủ quyền cho giặc.
Đây
là lần đầu tiên dân tộc ta phải
đương đầu với một đối
tượng xâm lược mới, trong một bối
cảnh lịch sử mới mà những kinh nghiệm
cổ truyền cần được vận dụng trong
một phương thức đấu tranh mới.
"Chủ
chiến" nhưng nếu chỉ biết đánh, không
biết dựa vào dân để đánh lâu dài và kết
hợp lo canh tân để tăng cường tiềm
lực đất nước th́ cũng khó giữ
được nước.
"Chủ
hoà" mà chỉ lo thương thuyết, cầu xin
giặc, không dám dựa vào dân, không lo canh tân đất
nước th́ chỉ dẫn đến thất bại và
đầu hàng. Con đường "chủ hoà" theo
cách của Tự Đức và triều Nguyễn là con
đường thất bại chủ nghĩa, đă
dẫn đến hậu quả nhượng ba tỉnh
miền Đông rồi để mất 3 tỉnh miền
Tây của Nam Kỳ lục tỉnh, và sau đó tiếp
tục đưa đất nước đến bại
vong.
Với
hệ tư tưởng Nho giáo bảo thủ, triều
Nguyễn tự giam ḿnh trong những giáo lư đă chết
cứng của Thánh hiền, quay lưng lại mọi trào
lưu tiến hoá trên thế giới, khước từ
mọi đề nghị canh tân đất nước
của những trí thức yêu nước cấp tiến.
Nỗi
đau ḷng và tính bi kịch của PTG là một mặt ông
cùng "chủ hoà" với triều đ́nh, rất
mực trung thành với nhà vua, mặt khác ông lại nặng
ḷng yêu nước thương dân. Mâu thuẫn đó đă
đẩy ông đến chỗ bế tắc và chỉ c̣n
biết lấy cái chết để kết thúc cuộc
đời và bày tỏ nỗi ḷng của ḿnh. Có lẽ tác
giả Đại Nam chính biên liệt truyện phần nào
đă thấu hiểu ḷng ông khi nhận xét :" Thanh
Giản là người ngay thực, giữ ḷng liêm
khiết, làm quan cần mẫn, thận trọng, gặp
việc dám nói. Trải thờ 3 triều, vẫn
được yêu quư. Đến khi mang cờ tiết
đi Nam, thế không làm sao được, biết tội
tự uống thuốc độc chết. Thực là
ở vào chỗ người ta khó xử. Xem tờ sớ
để lại th́ ḷng trung ái chứa chan ở ngoài
lời nói" (22). Đúng như nhiều tác giả đă
nh́n nhận, cái chết của PTG là một bi kịch.
Trong
hội thảo, chúng ta đă chỉ ra trách nhiệm của
PTG trong trách nhiệm chủ yếu thuộc về Tự
Đức và triều Nguyễn, nhưng tất cả chúng
ta đều nhất trí không nên và không thể gán cho ông cái
tội "bán nước" hay "phản bội
tổ quốc". Đó là sự qui kết khá nặng
nề, không có căn cứ, vừa không đúng với hành
động và động cơ của ông, vừa trái
với tấm ḷng ngưỡng mộ và kính mến mà
xưa nay nhân dân quê hương vẫn giành cho ông. Với
những kết quả như trên, chúng ta có thể kết
luận cuộc hội thảo khoa học của chúng ta
đă thành công tốt đẹp. Thành công tốt
đẹp không có nghĩa là chúng ta đă giải quyết
xong mọi vấn đề liên quan đến PTG và
nhất trí với nhau về mọi khía cạnh trong nh́n
nhận và đánh giá PTG. Sử học là một khoa học
mà nhận thức về đối tượng của nó
là một quá tŕnh tiến dần đến chân lư, nhưng
không thể một lúc nắm bắt toàn bộ chân lư.
Cuộc hội thảo của chúng ta đánh dấu
một bước mới trong nhận thức và đánh
giá về PTG, nhưng đồng thời cũng mở ra
nhiều vấn đề mới cần tiếp tục
nghiên cứu và thảo luận.
Qua
cuộc hội thảo này, chúng ta thấy rơ những
mặt hạn chế và bế tắc của PTG, nhưng
đồng thời chúng ta cũng trân trọng ghi nhận
những cống hiến tích cực của ông trong toàn
bộ cuộc đời và sự nghiệp, đánh giá cao
nhân cách và phẩm chất cao quư của ông.
Chúng
tôi hy vọng kết quả của cuộc hội thảo
sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn cuộc đời và
sự nghiệp một con người mà từ khi nhắm
mắt cho đến nay luôn luôn đứng trước
những sự đánh giá mâu thuẫn gay gắt trong khen và
chê, trong b́nh luận công và tội. Chúng ta c̣n tiếp tục
nghiên cứu và thảo luận, nhưng những ǵ
đạt được trong hội thảo nói lên ḷng
mong mỏi của chúng ta muốn trả về cho PTG
những giá trị và những hạn chế đích
thực của ông, muốn có sự nh́n nhận khách quan,
công minh và thoả đáng. Những kết quả và thái
độ của hội thảo chắc sẽ giải toả
phần nào những mặc cảm bấy lâu đè nặng
lên tâm tư của nhiều người, kể cả con
cháu PTG và con cháu Trương
Định, những người "chủ
chiến" đă kiên quyết chiến đấu
chống Pháp xâm lược và đă hy sinh v́ tổ quốc,
v́ nhân dân.
Kết
quả cuộc hội thảo cũng là cơ sở khoa
học để Tỉnh uỷ và Uỷ ban Nhân dân hai
tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre tham khảo trong biên soạn
các sách về danh nhân quê hương, về giáo dục
truyền thống, về xử lư những di tích liên quan
đến PTG. Chúng tôi trân trọng đề nghị
bảo tồn và tôn tạo toàn bộ các di tích về PTG, nhất
là ngôi mộ ở Bến Tre, Văn Thánh Miếu và Văn
Xương Các ở Vĩnh Long nhằm ghi nhớ và phát huy
những phẩm giá, nhân cách cao quư của một
người trí thức nặng ḷng yêu nước
thương dân nhưng cuối đời đă lâm vào
cảnh bế tắc, bi kịch trong một bối cảnh
gian truân và đau thương của đất
nước.
----------------------
Chú Thích:
1.
Đại Nam thực lục, t.32, Hà nội 1974, tr.269.
2.
Đại Nam thực lục, t.37, Hà nội 1997, tr.223, 225.
3.
Trần Huy Liệu: Chúng ta đă nhất trí về việc
nhận định Phan
Thanh Giản. Tạp chí Nghiên cứu Lịch
sử số 55, 10/1963, tr.18-19.
4.
Ban Tuyên huấn Tỉnh uỷ Bến Tre: Quê hương
Bến Tre đối với nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản.
Tham luận số 2 trong kỷ yếu.
5.
Phan Thanh Giản:
Lương Khê
thi thảo. Viện Hán Nôm, VHV.151, Ạ2125. Phan Thanh
Giản: Lương
Khê văn thảo. Viện Hán Nôm, VHV.856,
VHV.857, VHV.91, Ạ2125.
6.
Đại Nam thực lục, t.29, Hà nội 1974, tr.302.
7.
Paul Brando: Recits et Nouvelles. Paris 1897, dẫn theo Trương
Bá Cần: Phan Thanh Giản
với việc mất 6 tỉnh Nam Bộ vào tay thực dân
Pháp. Tham luận số 7 trong kỷ yếu.
8.
Octave Fore: Les régions inconnues: chasse, pêche, aventure et découverts dans
l'Extrême Orien. Paris 1870, dẫn theo Trương Bá
Cần, tham luận số 7, đd.
9.
Xem Trương
Bá Cần, bđd.
10.
Châu bản triều Nguyễn hiện nay lưu giữ
tại Cục lưu trữ nhà nước và theo kết
quả kiểm tra mới nhất có 734 tập, trong đó
triều Tự Đức có 386 tập. Đây là một
nguồn tư liệu rất quư, nhưng chưa
được khai thác bao nhiêu không những về Phan Thanh Giản, mà
về nghiên cứu lịch sử Việt Nam đời
Nguyễn nói chung.
11.
Cao Xuân Dục:
Quốc triều hương khoa lục, TPHCM 1993, tr.150.
12.
Cao Xuân Dục:
Quốc triều khoa lục. Sài G̣n 1962, tr.31.
13.
Đại Nam chính biên liệt truyện, t.4. Huế 1993,
tr.37-42.
14.
Đại Nam thực lục, t.4, sđd, tr.38
15.
Đại Nam thực lục, t.22, Hà nội 1969, tr.88.
16.
Đại Nam chính biên liệt truyện, t.4, sđd, tr.40-42.
17.
Đại Nam thực lục, t.21, Hà nội 1969, tr.57, 212.
18.
Khâm định Việt sử thông giám cương mục,
dịch và xuất bản từ 1957 đến 1960, gồm20
tập, 2037 trang.
19.
Đại Nam thực lục, t.29, Hà nội 1974, tr.305, 309.
20.
Đại Nam thực lục, t.30, Hà nội 1974, tr.162, 163.
21.
Đại Nam thực lục, t.31, Hà nội 1974, tr.66-65.
22.
Đại Nam chính biên liệt truyện, t.4, sđd, tr.46.