Chuyện già chuyện trẻ:
Cụ Trần Văn Ân và tôi
NGUYỄN HOÀI VÂN
Phạm vi bài này tuyệt đối không thể
thuật lại nổi một phần trăm của
mười ba năm trường nói chuyện với bác
Trần Văn Ân. Tôi chỉ muốn để lại ít
kỷ niệm bằng cách viết ra những ǵ nghĩ
đến trong giây phút, không dàn bài, không sắp đặt,
từ tim óc trải thẳng ra trang giấy.
Người
ta thường quư sự Hiểu Biết. Hiểu Biết
có Hiểu và Biết. Có kẻ hiểu nhiều Biết ít,
kẻ khác Hiểu ít Biết nhiều, không mấy người
Biết rộng mà Hiểu cũng sâu xứng đáng là
bậc trí giả.
Biết chỉ cần công phu
lượm lặt, mở lớn tai mắt, thâu vào trí
nhớ những sự việc ở đời.
Ngược lại để Hiểu, tai mắt, trí nhớ
không thôi chưa đủ, c̣n cần vận dụng, suy
luận, thâm nhập chiều sâu của sự vật.
Hiểu tới chỗ cực sâu, tức đạt
đến bản thể của sự vật, ngoài trí
thông minh, suy luận, có lẽ c̣n phải dùng nhiều
đến trực giác, linh tính, đến “con mắt
thứ ba”.
Sự việc ở đời muôn vàn
triệu, kẻ lượm lặt chăm chỉ cách
mấy cũng chỉ Biết được một
phần nhỏ, như giọt nước trong đại
dương. Ngược lại, người Hiểu
được phần nào chân tướng bản thể
của sự vật có thể từ cái biết hạn
chế suy rộng ra các việc khác. Nên sách vở có nói:
“hiểu tường tận một hạt cát là hiểu
được cả vũ trụ”, một phần
lấy ư nghĩa đó. Muốn Hiểu một cách sâu xa
lại rất cần một nguyên lư, một chỗ
“nhất quán” lấy làm điểm tựa, để
từ điểm ấy xét suy vạn hữu, ví như
ngọn đèn trong đêm tối, chiếu đến
đâu mọi vật liền sáng tỏ.
Tôi khi nhỏ được
người tu hành nuôi dạy, từ đọc, viết,
lễ giáo thông thường cùng với căn bản
đạo đức, đó là khai mở cái biết như
hạt giống nẩy mầm. Rồi nhờ thân mẫu
là người học cao, hàng ngày d́u dắt, chỉ
bảo, lại cho gần giới khoa bảng, nên
thường được nghe luận đàm, quen
việc tranh biện, đó là cái biết phát triển,
như cây mọc cành lá và sự hiểu cũng vừa
bắt đầu như mới trổ vài nụ hoa.
Đến khi xuất ngoại, đem cái sở học
của gia đ́nh đă in sâu trong tim óc, đi vào xă hội
Tây phương với trăm ngàn chuyện mới mẻ,
nhiều lúc phải nhận là ḿnh vẫn thiếu một
chỗ dựa chắc chắn. Chỗ dựa ấy,
từ mười ba năm nay, tôi đă may mắn t́m
được qua sự chỉ dạy thường xuyên
của bác TRẦN VĂN ÂN. Nhờ đó hoa mới kết
trái, trái mới chín mùi, gieo hạt xuống, nẩy
nhiều mầm cây khác...
* * *
Buổi trưa hôm ấy, chúng tôi
đang trang hoàng Hội Quán Sinh Viên tại Beaulieu-Rennes
để tổ chức Tết. Chợt thấy một
cụ già tóc bạc trắng, dáng người thấp
nhưng vững chăi bệ vệ, chống gậy thủng
thẳng bước vào, theo sau có một cặp vợ
chồng đứng tuổi. Tôi nhận ra bác Trần
Văn Ân v́ đă được thấy bác khi ở
Việt trong một buổi nói chuyện của Hội Trí
Thức Công Giáo, mẹ tôi dắt theo. Tôi lật đật
đến chào. Bác giới thiệu ông Nguyễn Đ́nh
Nhơn và phu nhân, mới tới thăm, bị bác kéo đi
khích lệ anh em trẻ lo việc Hội Đoàn. Lúc
ấy, bạn tôi, Nguyễn Anh Tuấn, vừa
trương lên hàng chữ “Đón Mừng Xuân Mới”, bác
thấy, đùa rằng: Tết ở Tây phương này c̣n
nằm trong mùa đông, đă xuân đâu mà đón với
mừng ? Tôi nghe lạ tai, nhưng cũng phải nhận
là có lư, từ đó về sau luôn để ư không cho anh em
“mừng xuân” giữa trời đông nữa. Những tháng
ngày sau đó, trong khuôn khổ hoạt động Hội,
tôi có gặp bác vài lần nữa, nhưng không khi nào có ư
nghĩ t́m theo học hỏi. Chỉ câu chuyện xă giao
rồi thôi. Tuy nhiên duyên nghiệp là cái không thể tránh
khỏi, và một buổi tối, không biết nhân việc
ǵ, tôi ghé nhà bác, rồi từ chuyện này đến
chuyện nọ, bác bắt qua nói về...Spinoza. Ở
trường, tôi đă được nghe giảng qua
về Spinoza, nhưng cũng chỉ coi ông này như trăm
ngàn triết gia khác. Tối hôm ấy, tôi khám phá ra một
Spinoza rất đáng phục và đáng mến. Tôi muốn
hỏi thêm th́ bác đă đổi đề tài, bàn sang
thời cuộc, rồi nhắc lại những năm
hoạt động tại Pháp cuối thập niên hai
mươi, việc nước thời Pháp, thời
Nhật, lúc ở Singapore với các ông Trần Trọng Kim
và Dương Bá Trạc, chuyện Tạ Thu Thâu, Nguyễn
Văn Sâm, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, những
bạn tranh đấu của bác nay đă đi vào lịch
sử, và vài chuyện khác. Tôi nghe lấy làm thú vị và xin
hẹn ngày khác, rồi ngày khác nữa, đến nghe nói
chuyện. Chỉ một thời gian ngắn sau, gần
như ngày nào cũng gặp bác.
Bác thường đổi nhiều
đề tài trong mỗi lần nói chuyện, mỗi
đề tài chỉ nói vài câu khiến phải mất
mấy tháng mới ghép được các mẫu chuyện
để nắm tổng quát những vấn đề
chính và từ đó theo dơi dễ dàng hơn. Khi nói đến
một đề tài mà tôi chưa đủ kiến
thức để lănh hội, bác lục t́m trong kho sách vô
cùng dồi dào của bác, lấy ra một cuốn, cho
về đọc. Đôi lúc chỉ dặn đọc
một đoạn. Sách đầu tiên bác đưa là
cuốn “ 150 câu hỏi-trả lời về chiến tranh
ở Việt Nam“, thuật lại một số chuyến
công du của bác tại Hoa Kỳ, Bắc Âu, Nhật
Bản .... Các cuộc tranh luận với chính trị gia và
kư giả ngoại quốc nói đến trong sách này là
những chỉ dẫn quí giá cho người muốn
dấn thân vào con đường đấu tranh cho
nước nhà. Không phải một ḿnh tôi đă phải
gật gù thán phục trước những phản ứng
gọn gàng nhưng vô cùng tinh tế và hiệu quả
của bác, mà nhiều người khác, t́nh cờ gặp, khi
vừa nói tới bác, là họ nhắc ngay đến các
giai thoại ứng đối ấy. Khi nghe chỉ trích
chế độ Saigon thối nát, bác trả lời
(đại ư) rằng: “tuy thối nát thật, nhưng
từ đám x́nh, đám phân ấy c̣n có thể có một
ngày kia mọc lên được cây tốt, nở hoa
đẹp, trong khi cộng sản giả sử nếu có
sạch se,ơ bất quá cũng v́ như phiến đá ngàn
đời vẫn phằng ĺ không sinh khí, không hy vọng
nẩy nở”. Khi bị hỏi v́ sao người như
bác lại chịu hạ ḿnh làm việc cho “quân phiệt”?
bác hỏùi ngược lại “lật quân phiệt dễ
hay lật cộng sản dễ?”. Có kẻ cho là Miền
Nam Việt đă gây chiến xâm lăng Bắc Việt, bác
chỉ trả lời (đại ư) “Không có quân đội
Miền ngoài Bắc, chỉ có quân đội Bắc
Việt trong , nội bấy nhiêu đủ biết ai xâm
lăng ai?” Tiếc rằng nạn bè phái trong chính quyền
cũ đă khiến cho thành quả của những
chuyến công du này hoàn toàn bị ém nhẹm, chỉ có báo chí
ngoại quốc nói tới một cách thuận lợi,
trong nước gần như mù tịt, và tệ hại
hơn hết là bác không được phép tổ chức
các chuyến đi tương tự nữa. Các phe phái
thời ấy dèm pha cho là bác muốn tạo tên tuổi cho
cá nhân ḿnh để trổi bật hơn họ... Cố
công giúp nước với tâm huyết và khả năng,
kinh nghiệm, nhưng lại chỉ có hai bàn tay trắng,
việc ǵ cũng phải mượn
thế lực, phương tiện người khác,
phần nhiều kém hơn ḿnh, hoặc là những kẻ
thiếu thành tâm, quả là khó (Bác Ân được
ngoại quốc mời, chớ chưa hề
được chánh quyền Viễt Nam gởi đi)!
Khi bắt đầu bàn về Nho
học, bác cho tôi đọc “Đại Học” do Linh
Mục Bữu Dưỡng dịch và giảng, xong hỏi
nghĩ sao? Tôi rất biết và mến cha Dưỡng, quen
nhiều với gia đ́nh tôi (khi c̣n trẻ con, tôi gọi
Ngài là "cha chân gỗ"). Tuy vậy tôi vẫn nghi sách
của cha có tính cách khảo cứu, nh́n đạo Nho
từ bên ngoài, khó tránh khỏi thiếu phần nào chiều
sâu. Bác mới đưa bộ Khổng Học Đăng
của cụ Phan Bội Châu. Vừa đọc sơ, tôi
đă vội in chụp lại để giử làm tài
liệu căn bản. Cụ Phan viết sách với
tất cả tấm ḷng của một nhà Nho chân chính
muốn tận t́nh truyền cái đạo sống của
ḿnh cho hậu thế, kỷ lưỡng từng câu,
thận trọng từng chữ, quả là những lời
tâm phúc. Tiếp đó bác mới giảng về Vương
Dương Minh và lại cho sách đọc. Gặp lúc tôi có
dịp đi Mỹ nên ngồi máy bay nhiều thời
giờ, đọc rất nhanh. Tôi say mê Dương Minh Học,
coi là tột đỉnh của Đạo Nho, dù vẫn cho
là khó thực nghiệm được: ”tri hành hợp
nhất” của ông, có lẽ v́ không dễ đạt đến
điều mà ông gọi là “trí lương tri”?
Một hôm bác nói chuyện Lục
Tổ Huệ Năng. Tôi nghe như một chấn
động. Thật ra trong những điều bác nói,
từ Nho, Dương Minh, Thiền Học v.v... tôi
đều đă được nghe hay đọc qua lúc c̣n
ở nhà. Nhưng lúc ấy tôi chỉ “biết” mà có lẽ
chưa “hiểu” sâu nên đối với các việc này tôi
dửng dưng coi như một mớ “kiến thức
tổng quát” để bàn chơi, lúc trà dư tửu
hậu, chứ không gây được một khích
động nào trong tâm tư cả. Khi nghe bác nói lại, các
học thuyết và nhân vật kia trở thành sống động
với một sức lôi cuốn mănh liệt. Có lẽ
như cụ Phan, bác không nói như một nhà học
giả mà truyền lại những điều bác đă
thực nghiệm được trong cuộc sống
của chính bản thân ḿnh. Tôi nghe chuyện Lục Tổ
như kẻ mù chợt thấy, phá bỏ những thành
kiến vốn có đối với Phật Giáo, để
từ đó, tự coi như một đệ tử hèn
trước cửa Phật. Trong các kinh kệ bác chỉ
giảng kỹ kinh Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh và Kinh Kim
Cương, c̣n lại chỉ nói qua, không chú tâm nhiều.
Có một lúc, tôi từ Hoa Kỳ
về, không có việc làm, nên ngồi lẩn mẩn
đọc Chu Dịch và học Châm Cứu. Bác liền
viết cho một mớ tài liệu về Dịch Lư, Âm
Dương, Ngũ Hành, giúp tôi rất nhiều. Bác hay v́ anh
em trẻ làm ra những tài liệu nhỏ đánh máy
mươi mười lăm trang về những
đề tài lịch sử, tư tưởng, văn
chương hay chính trị cho chúng tôi đỡ mất công
lục lọi t́m ṭi sách vở, lại được thêm
sự giải thích, nhận định, gọn gàng và
thực tế của bác.
Tôi ngỏ ư muốn học chữ Hán.
Bác nhờ mua được một mớ sách dạy con
nít bên Hương Cảng gửi qua, đem ra dạy tôi và
vài người bạn. Kiểu như: “ Hảo học
sinh, tảo tảo khởi, bối liễu thư bao,
thượng học khứ...” (Học tṛ tốt, sớm
sớm dậy, vác cặp sách đi lên trường). Các
bạn bận nên từ từ bỏ học, chỉ c̣n
tôi. Được ít lâu tôi xin bỏ lối học
“đồng ấu”, thay vào đó lấy từng bài thơ
hay áng văn nổi tiếng ra học từng chữ
để vừa biết thêm ngữ vựng vừa
học được một mớ thơ văn cổ.
Bài đầu tiên lấy trong Tam Quốc bắt đầu
bằng: “Nhất thiên phong tuyết phỏng hiền
lương, bất ngộ không hồi ư cảm
thương...” tả cảnh Lưu Bị đi thăm Khổng
Minh không gặp cụt hứng trở về bị cơn
băo tuyết. Sự học chữ Hán trở nên vô cùng lôi
cuốn. Thật vậy, đọc “phượng hoàng
đài thượng phượng hoàng du, phượng
khứ đài không giang tự lưu” (đài phượng
phượng hoàng đă tới chơi, phượng đi
đài vắng nước c̣n trôi – bác dịch tại Côn đảo)
hay “Nhật mộ hương quan hà xứ thị, yên ba
giang thượng sử nhân sầu” (Chiều quạnh
đâu là hương lư cũ, trên sông khói sóng năo ḷng này – bác
dịch) quả thực có thú vị hơn là “hảo
học sinh tao tảo khởi”. Tuy nhiên tôi phải mang thêm
một cái ghiền mới là ghiền thơ Tàu. Ở
lứa tuổi tôi, mắc bệnh này khó tránh
được bị cười là lẩm cẩm. Đành
vậy, ta sống kiểu già lúc trẻ, biết đâu sau
này đễ quân b́nh lại, trời chẳng cho
được sống kiểu trẻ lúc già, tức cho
trẻ lâu?
Tôi có một ”thắc mắc của
tuổi thơ”. Đó là không hiểu chủ thuyết Marx
đem bỏ phần duy vật chỉ giữ phần “kinh
tế” có c̣n là chủ thuyết Marx hay không ? Số là cách
đây hơn chục năm có nhiều người Thiên
Chúa Giáo rất thành thật gắn bó với tôn giáo của
ḿnh nhưng lại theo chủ thuyết Marx. Tôi muốn
biết thái độ này trên phương diện lư
thuyết thuần túy có thể biện minh được
không? Bác cho đọc“ Histoire de la Pensée Humaine” của
Chevalier, đoạn nói về Marxisme. Tuy không có câu trả
lời trực tiếp cho câu hỏi trên nhưng cũng
giúp thêm nhiều hiểu biết về Marx và Marxisme.
Cũng lúc ấy, t́nh cờ có người mời bác đi
dự Université d’été (Đại Học Hè) của đảng
CDS (đảng của Tổng Thống Giscard dEstaing)
gần Rennes. Bác cho tôi theo, được nghe một bài
thuyết tŕnh về “Marxisme et Néo-paganisme” rất bổ ích.
Sau đó bác và tôi bàn tán nhiều tuần về Marxisme và bác
cũng sẳn dịp viết một số tài liệu
về vấn đề này. Điều buồn
cười là ngày hôm nay những người cộng
sản hay trí thức thiên tả công khai bầy tỏ
sự nghi ngờ của họ đối với chủ
nghĩa Marx, được dư luận ca ngợi là
tiến bộ, là sáng suốt, trong khi họ chỉ lặp
lại những ǵ người chống cộng vẫn nói
từ mấy chục năm nay, và vẫn bị coi là
bảo thủ, phản tiến bộ.
Bác rất hay ca ngợi các nhà lănh
tụ xă hội Pháp ở thuở ban đầu, thời SFIO
(bác gọi là đám “sách dép dzô”). Bác luôn nhắc câu của
lănh tụ Xă Hội Jean Jaurès: “Beaucoup
d’internationalisme ramène à la partie” để bạn trẻ
đỡ đi vào con đường quốc gia cực
đoan. Về sự khác biệt căn bản giữa
người xă hội chân chính và cộng sản đệ
tam, bác hay nói lại câu của Léon Blum chất vấn phe CS
đệ tam trong Congrès de Tours (1920): “muốn lấy chính
quyền để cải tạo xă hội hay dùng chiêu bài
cải tạo xă hội để lấy chính quyền?”.
Vấn đề đấu tranh giành độc lập
tại nước ta chung quy cũng không ra ngoài lập
luận ấy.
Bác rất lo lịch sử cận
đại Việt sẽ bị ghi lại một cách sai
lạc. V́ thế luôn cố gắng ngày ngày biên chép
những ǵ đă chứng kiến trong cuộc đời
trên 60 năm hoạt động chính trị với câu tâm
niệm luôn nhắc đến là “tư vô tà”. Bác cũng cho
tôi thâu 14 cuộn băng nói chuyện về lịch sử
cận đại và cho lưu giử một số tài
liệu. Trong câu chuyện thường ngày bác cũng luôn
nhắc đến các biến chuyển bác đă dự
phần và các nhân vật nay đă thuộc về lịch
sử từng là bạn hay đối phương của
bác. Tôi tiếc nhiều lúc không sẳn máy thâu hay giấy bút
để ghi lại cho chính xác và đầy đủ. Mong
rằng bác đủ sức viết kỹ lại từng
việc để khỏi mai một những dữ
kiện quí giá cho người khảo cứu sau này.
Khi ch́m trong quá khứ, những nhân
vật thường được bác nói tới nhất,
là nhóm bạn cộng sản đệ tứ của bác,
như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch
... Bác gợi lại những kỷ niệm với họ
một cách rất cảm động. Bác coi họ như
những nhà ái quốc thành tâm, và đồng thời
cũng là người xă hội chân chính, như đă nói
ở trên. Có lẽ họ đă đạt đến “Beaucoup d’internationalisme” như Jaurès
từng nói, tức đă ư thức tới nơi tới
chốn “học thuyết quốc tế” để trở
về gần với tổ quốc ḿnh hơn. Những
vấn đề liên quan đến nhóm đệ tứ
Việt đă được đề cập cặn
kẽ trong một tài liệu riêng.
Tôi cũng học rất nhiều
nơi bác về lối hành văn chữ Pháp. Từ khi
gặp bác, tất cả những ǵ tôi viết ra, dù trong
khuôn khổ làm việc Hội Đoàn hay chuyện riêng
tư (trừ thư t́nh) cũng đều đưa bác
sửa và chỉ dẫn những chỗ sai lầm, cả
h́nh thức lẫn nội dung. Pháp văn của bác học
theo lối xưa, vô cùng kỹ lưỡng, đời nay
khó mà b́ được. Tôi hay sơ ư để lỗi
văn phạm. Lúc coi lại, con mắt 33 xuân xanh
đọc măi mà không sửa hết, vẫn phải
thỉnh tới cụ già 87 tuổi... Nhờ có con mắt
thứ ba chăng?
Bác vốn nổi tiếng là nhà hùng
biện, và chắc cũng có tham vọng dạy lại cho
tôi chút ít. Mỗi khi tôi có dịp lên diễn đàn, bác luôn
đến chăm chú nghe. Ngược lại khi bác nói
trước công chúng, cũng thường đem tôi theo. Sau
đó đều có rút tỉa ưu khuyết điểm.
Như gần đây, với tính cách Hội Trưởng
Người Việt tại địa phương, tôi có
vài lời với đồng bào và quan khách
đến dự đêm Tết Kỷ Tỵ. Về nhà bác
cho là nội dung tốt, nhưng giọng nói quá mạnh,
không hơp với một đêm Tết, giá như là
một cuộc mít tinh hay một buổi hội thảo
chính trị th́ mới nên nói mạnh vậy. Lần sau
phải khép nép nhỏ nhẹ, thưa cùng bà con cô bác...
Khoảng 78-79, bác đặt vấn
đề PHỤC VIỆT và lập nhóm Phục Việt.
Cùng lúc ấy, tuy không hẹn mà đồng lượt phát
khởi tại nhiều nơi khác những phong trào
tương tự, như nhóm của Linh Mục Kim
Định tại Hoa Kỳ. Các đoàn thể thời
bấy giờ nói nhiều tới Phục Quốc, thiên
về tổ chức đấu tranh vơ trang giành lại
đất nước. Bác cho là nếu vài năm nữa
không c̣n người Việt với tinh thần Việt, th́
giành nước lại cho ai? Vă lại, muốn cho việc
đấu tranh được lâu dài, quan trọng nhất
là phải làm cho tim óc người Việt tại hải
ngoại mang nặng tinh thần dân tộc, có thế
họ mới hết ḷng thương nước, mới
sẳn sàng hy sinh thời giờ tiền bạc và có khi
hơn nữa cho quê hương. Tất cả những
điều trên đều có vẻ đương nhiên, tuy
vậy, vẫn cần một chương tŕnh hành
động và một hệ thống tư tưởng, ít
nhất là cho quảng đại quần chúng để
công việc vừa có thể đạt nhiều thành
quả mà vẫn không lọt vào cạm bẩy “tinh thần
quốc gia cực đoan” vô cùng nguy hại. Đó là lư do
phải lập ra những tổ chức và cơ quan ngôn
luận lo việc Phục Việt. Thật ra Phục Việt bắt
nguồn từ một suy luận sâu xa hơn việc
giải quyết một nhu cầu giai đoạn rất
nhiều. Phục Việt là hàn gắn lại sự
đổ vỡ gây ra lúc dân tộc ta đụng chạm
với văn minh Tây phương. Người Tây
phương đă chiến thắng và cai trị cha anh ta
đồng thời cũng đă làm lớp người
đi trước ấy đă hoài nghi đến
độ bỏ rơi phần nhiều truyền thống
và sở học của tiền nhân ḿnh. Họ muốn “theo
mới hoàn toàn theo mới” như tôn chỉ của nhóm
văn sĩ nổi tiếng nọ. Theo mới,
được! Nhưng Tây học lắm trường
nhiều phái, theo cái mới nào bây giờ? Kết quả là
kẻ học trường này, người theo phái nọ,
chạy theo nhiều hướng khác nhau, Marxisme là một,
trong khi nền tảng chung, tức truyền thống
văn minh Đông Phương và Việt Nam đă bị phá
bỏ, chỗ quay về là tinh thần dân tộc bị
lăng quên, chất keo gắn liền người Việt
với người Việt không c̣n nữa. Từ đó,
đi đến anh em một nhà chia rẽ, chống báng,
giết chóc nhau, chỉ một bước nhỏ. Phục
Việt là chất keo hàn gắn lại sự tan vỡ này,
là nối lại với gịng văn hiến của tổ
tiên đă bị gián đoạn để dân tộc ta có
thể hội nhập cái mới mà vẫn trau dồi
bảo tồn việc cũ và để những con dân
Việt đă tản mát theo nhiều phương
hướng có một điểm tụ hội, một
chỗ quay về như ư nghĩa câu “thù đồ
đồng quy” bác đă đề ra lúc làm bộ
trưởng Chiêu Hồi. Bác ít đề cập
đến vấn đề Phục Việt theo kiểu
này, v́ hơi khó, có chăng chỉ nói qua, chưa thấy
viết rơ, nên tôi mới dám mạo muội dài ḍng một
chút.
Người có đầu óc
thường mắc phải một bệnh rất khó
chữa; bệnh đề ra chủ thuyết hay tư
tưởng mới. Phần nhiều là xô những cánh
cửa đă mở hoặc luẩn quẩn tự giam ḿnh
trong khuôn khổ chật hẹp của một cái “isme”,
nguồn của sự cố chấp, cản trở
mọi thăng tiến. Việc này đă được
bác nói đến trong nhiều bài viết, rơ ràng nhất là
trong “Hồn Nước”. V́ thế nếu có người
cho là bác đă đề ra thuyết này thuyết nọ, có
lẽ cần hiểu sâu hơn tính chất tương
đối hay giai đoạn của những cái gọi là
“thuyết” kia. Vả lại cứ nhất quyết cho
rằng các lư thuyết, các chủ nghĩa là hư hăo, là
cố chấp hết cả, tức là lại rơi vào
một cố chấp khác, là “chấp cái không chấp”
vậy...
Phạm vi bài này tuyệt đối
không thể thuật lại nổi một phần trăm
của mười ba năm trường nói chuyện
với bác Trần Văn Ân. Tôi chỉ muốn để
lại ít kỷ niệm bằng cách viết ra những ǵ
nghĩ đến trong giây phút, không dàn bài, không sắp
đặt, từ tim óc trải thẳng ra trang giấy,
trong một thời gian hạn chế. Bây giờ, khi
đặt bút viết những ḍng cuối, tôi không khỏi
mong muốn được như thiền giả nọ,
khi giác ngộ liền đến nói với thầy ḿnh là:
“đạo của thầy thật ra chẳng có ǵ cả!”.
Nói vậy có lẽ là ông đă ngộ cái tính không của
sự vật. Ngộ không với không ngộ khác nhau
một trời một vực. V́ thế nếu
người thường có thể coi lời nói kia là
bạc bẻo hay trách cứ, th́ ngược lại,
kẻ thức giả phải nhận ra trong đó một
sự biết ơn vô cùng. Quả vậy, người thày
nghe câu này không giận, mà ngỏ ư hoan hỷ. Tôi cũng
muốn được như Tăng Tử chỉ trả
lời “dạ” khi Đức Khổng nói với ông: “Sâm
hồ, ngô đạo nhứt dĩ quán chi” (Anh Sâm này,
Đạo ta chỉ có một chuyện thôi là đủ bao
quán hết cả). Đức Khổng không cần giải
rơ “nhất quán” là ǵ? Thầy Tăng cũng chẳng
phải hỏi lại, chỉ “dạ”. Nhưng đó là
thầy tṛ bậc thánh, cái tôi hèn mọn ngày hôm nay chỉ
hết ḷng ngưỡng mộ chứ nào dám nghĩ đă
thâm nghiệm “nhứt quán”, ngộ “tính không”, hay đạt
“ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”? Chỉ biết
một điều giản dị là nhờ sự chỉ
dẫn và gương sống của bác TRẦN VĂN ÂN
đă thâu thập thêm nhiều kiến thức hữu ích,
đă hiểu sâu hơn một số điều lư thú,
nhất là nhận định được một cách
thành thật, chứ không phải chỉ qua sáo ngữ, tính
chất tương đối của mọi việc,
để trong đời sống hàng ngày, có thể
giảm thiểu nhu cầu, bớt phần nào chấp
nhất, giải đôi chút lo phiền, vui với những
chuyện b́nh dị, hy vọng đạt đến
một tŕnh độ nào đó của sự tự tại
ung dung mà anh em chúng tôi thường mến phục nơi
bác.
NGUYỄN HOÀI VÂN (1989)