Tiểu
sử Cụ Trần Văn Ân
Nguyễn Hoài Vân
Ngày hôm
nay xin cáo với Đất Trời: Trần Văn Ân, Pháp
Danh Quang Huy, đă từ biệt cơi đời, ḥa trong
HỒN NƯỚC, t́m về CHÂN NHƯ, trong GIẤC
NGỦ MUÔN ĐỜI …
Cụ Trần
Văn Ân sanh vào giờ Tư ngày ông Táo về trời, cuối
năm Nhâm Dần, tức ngày 28 tháng 1 năm 1903, tại
làng Định Yên, quận Thốt Nốt, tỉnh Long
Xuyên, sau thuộc quận Lấp Ṿ, tỉnh Sa Đéc, ở
tả ngạn sông Hậu Giang.
Cụ xuất thân
nhà nghèo, ông thân sinh làm Thày Thuốc Bắc, thêm nghề làm
ruộng. V́ lúc sơ sinh bị nước lụt cuốn
trôi may nhờ bà ngoại t́nh cờ bắt gặp vớt
lên được cứu sống, nên để nhớ
ơn bà, ông thân sinh mới đặt tên cụ là Ân . Thuở
nhỏ, cụ theo bà nội và người bác tu hành theo phái
Minh Sư, có pháp danh là Quang Huy, ăn trường trai,
tụng kinh thầm, và không được đến
trường học. Đến năm 1911, sau khi bà nội
qua đời, ông thân sinh mới cho cụ vào học ở
trường làng Thốt Nốt. Năm 1914, nhờ một
sự t́nh cờ hy hữu, cụ được nhận
theo học trường Chasseloup Laubat tại Sài G̣n. Vào lúc
đó, không ai có thể ngờ một chú bé nhà quê nghèo nàn,
không biết đi giày, ăn chay, xách hũ tương
mỗi sáng đến trường, lại có thể theo
học chung trường với các cậu công tử con nhà
quyền thế kiêu sang. Chỉ vài năm sau, cụ trở
thành một học sinh xuất sắc, thường
đứng đầu trong mọi môn học. Các giáo sư
của cụ đều đặn can thiệp cho cụ
luôn có đủ học bổng để tiếp tục
học tŕnh. Sau này, vào năm 1979, một trong các vị giáo
sư ấy, ông Tullié, ít lâu trước khi qua đời
ở Pamiers, gần Toulouse, cho biết : ông luôn hănh diện
v́ hai người học tṛ xuất sắc là Trần
Văn Ân và Lévy (sau dạy đại học Sorbonne). Ông
từng vận động cho cụ thi Tú Tài Pháp, nhưng
chính quyền thực dân chỉ chấp nhận cho cụ
thi « Tú Tài bản xứ ». Bất măn, cụ bỏ học.
Năm 1923, nhờ
Thái Ngươn Xáng, một bạn học khá giả
người Việt gốc Hoa giúp đỡ, cụ đi
Trung Quốc, ở tại Sán Đầu ba năm, học
Hán và Anh Văn cũng như các tiếng địa
phương như tiếng Hẹ, Triều Châu, Quảng
Đông.
Năm 1926, cụ
đi Pháp du học, nhờ một người nhà giàu
tặng tiền hải phí, để mượn cụ
dắt theo và lo cho hai người con của ông ta. Tại
Paris, do sự giới thiệu từ Việt Nam của bác
sĩ Trần Văn Đôn (sau làm Đô Trưởng, thân
phụ của tướng André Đôn), cụ gặp luật
sư Dương Văn Giáo, lúc đó đă là một nhân
vật nổi tiếng đấu tranh cho sự
độc lập của nước nhà. Từ cuộc
gặp gỡ đó, cụ bắt đầu dấn thân
vào chính trị.
Tại Aix en Provence,
cụ cho ra đời một tờ báo sinh viên tên là Việt Nam Học Báo, do
cụ làm chủ bút. Cuối năm 1927, cụ và Liêu Sanh
Trân (sau là thành viên trung ương của Đảng
Cộng Sản Pháp) đứng ra triệu tập
Đại Hội Sinh Viên Đông Dương lần
thứ nhứt, với sự tham dự của nhiều
tên tuổi sẽ đóng những vai tṛ quan trọng trong
các giai đoạn lịch sử sau đó, như: Nguyễn
An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, Trịnh Đ́nh Thảo,
Dương Văn Giáo, Trần Văn Thạch, v.v… Cụ
cũng gia nhập Đảng Việt Nam Độc Lập
do Nguyễn Thế Truyền lănh đạo, và là hội
viên của Hội Nhân Quyền, cũng như của Liên
Minh Chống Áp Bức Thực Dân (Ligue contre l’opression
coloniale).
Về nước,
cụ và LS Dương Văn Giáo lập ra tờ báo Đuốc Nhà Nam. Năm 1929,
cụ được mời đi dự Đại
Hội Toàn Quốc lần thứ ba của Trung Hoa Quốc
Dân Đảng tại Nam Kinh. Nhờ bạn Quốc Dân
Đảng Trung Hoa chu cấp hoàn toàn phương tiện,
bác nán lại Trung Quốc một thời gian dài, thăm
viếng nhiều nơi cũng như kết giao rộng
răi.
Trở lại
quốc nội tiếp tục hoạt động
được ít lâu, cụ buộc phải lánh về quê,
và được một người bạn giới
thiệu làm giám đốc một công ty rượu đang
phá sản tên là Phước Hiệp, c̣n gọi là Distillerie
de Thốt Nốt. Cụ quyết định « làm cách
mạng » trong lề lối quản trị công ty, và
chỉ ít lâu sau, khiến cho công ty phát đạt trở
lại. Tuy vậy, cụ vẫn không quên sứ mạng
của ḿnh, và luôn sử dụng cơ sở của công ty
để tiếp tục hội họp các bạn ái
quốc như quư ông Phan Khắc Sửu (sau làm Quốc
trưởng), Tạ Thu Thâu (lănh tụ Đệ Tứ,
bị CS đệ tam giết năm 1945), Nguyễn An Ninh
(lúc đó bán dầu cù là, chủ trương báo La Lutte, sau
chết tại Côn Đảo), Vơ Oanh (sau theo Mặt
Trận Giải Phóng Miền Nam), Ngô Ứng Tài (thuộc
Trung Hoa Quốc Dân Đảng, sau có làm chủ tịch
Đảng Dân Chủ thời Đệ Nhị Cộng
Ḥa), Trần Văn Thạch (lănh tụ Đệ Tứ,
sau chết về tay CS đệ tam), Nguyễn Văn
Tạo (sau làm tổng trưởng Lao Động trong chính
phủ Hà Nội), Lê văn Thử, Nguyễn Văn Khanh, và
cả bạn Trung Hoa Quốc Dân Đảng từ Trung
Quốc qua thăm như Châu Lực (luật gia, sau
chết trong biến loạn).
Kết quả
của các cuộc hội họp đó là : vào năm 1940,
cụ bỏ hết sự nghiệp lên Sài G̣n tổ
chức Đảng Nhân Dân Cách
Mạng. Năm sau, cụ bị bắt, ra ṭa v́ tội
mưu toan lật đổ chính quyền Pháp tại
Đông Dương, cùng với các ông Phan Khắc Sửu
(lúc đó là công chức), Dương Văn Giáo, Huỳnh
Ngô, Ngô Đ́nh Đẩu, Huỳnh Hoài Lạc, Vơ Oanh,
Trần Quốc Bửu (sau làm chủ tịch Tổng Liên
Đoàn Lao Công), BS Nguyễn Văn Nhă, v.v…
V́ thiếu bằng
cớ và nhờ lời khai gỡ tội của
người bạn thân là Vơ Oanh, cụ chỉ bị giam
tại Bà Rá, cho tới khi một người thuộc
Đảng Xă Hội Pháp làm tỉnh trưởng Biên Ḥa kư
giấy phóng thích. Các ông Đẩu, Nhă, Lạc … cả
thảy bảy người được trắng án,
trong khi bảy vị khác gồm các ông Sửu, Oanh, Bửu,
v.v… bị đày đi Côn Đảo. Riêng LS Giáo v́ mang
quốc tịch Pháp nên ngồi tù tại Sài G̣n, sau
được cụ Trần Văn Ân tổ chức
cứu thoát.
Ra tù, cụ lănh
chức Tổng Thư Kư Việt
Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội do Kỳ
Ngoại Hầu Cường Để lănh đạo,
tại Miền Nam. V́ nghĩ tổ chức này liên hệ
nhiều với người Nhật, lúc đó đang
đóng quân tại Việt Nam, có thể có những trở
ngại về sau này, nên cụ cùng các ông Ngô Đ́nh
Đẩu, Nguyễn Văn Sâm và Hồ Văn Ngà thành
lập Việt Nam Chính
Đảng, sau đổi tên là Đảng Quốc Gia
Độc Lập. Cụ luôn nghĩ người
Nhật sẽ bại trận.
Năm 1943, tại
Sứ Bộ Nhật, trước mặt lănh sự Iida và
đại diện 13 tờ báo Nhật cùng một số
bạn Việt Nam (trong số có Nguyễn Văn Sâm lúc
đó được Nhật che chở dưới tên
giả là Dương Sĩ Kỳ, và Phạm Ngọc
Thạch, một người CS « nằm vùng »), cụ tuyên
bố : « Đây là một cuộc chiến tranh sản
xuất, Nhật không sản xuất lại Đồng
Minh nên sẽ bại trận. Nhật Bản nên giúp
người Việt Nam chúng tôi dành lại độc
lập. Đó là cách thức để lưu lại
một ưu thế trong ḥa b́nh dù cho có thua chiến tranh. »
Cụ đề nghị vơ trang một lực lượng
ái quốc, giao cho lănh tụ Cao Đài Trần Quang Vinh
chỉ huy. Cụ cũng tiên liệu việc Nhật
đảo chánh Pháp sẽ không thể tránh được,
và nghĩ cần có một lực lượng Việt Nam
tiếp tay với Nhật lật đổ chính quyền
thực dân. Cùng trong giai đoạn này, với sự giúp
đỡ của người Nhật, cụ tổ
chức cho LS Dương Văn Giáo trốn thoát tù Pháp, và
sắp xếp để Đức Thày Huỳnh Phú Sổ
liên kết với các lănh tụ Đệ Tứ Quốc
Tế như tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn
Thạch (sau đều bị CS đệ tam giết,
cũng như LS Dương Văn Giáo).
Hoạt động
của cụ làm thực dân lo ngại và t́m mọi cách
mưu hại. Người Nhật nhắm không bảo
đảm nổi an ninh cho cụ nên đề nghị
đưa cụ đi lánh nạn ở Singapore. Cụ can
thiệp để mang theo một người bạn
đang bị truy tố tên Đặng Văn Kư (sau theo
Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam), với tính cách là
cộng sự viên (người dự liệu đi cùng lúc
ban đầu là ông Diệp Ba). Sau có thêm quư ông Trần
Trọng Kim và Dương Bá Trạc, sang tới Singapore,
cùng ở chung một chỗ.
Trước khi lên
đường đi Singapore, cụ dặn ông Trần
Quang Vinh khi theo Nhật tham gia đảo chánh thực dân
nhớ đừng giết hại người Pháp. Cụ
nói : « Ḿnh chống thực dân chứ không thù ghét
người Pháp. Dân tộc Pháp sẽ là bạn của dân
tộc Việt. Nên nhân lúc người Pháp thất thế
mà làm ơn với họ ». Cụ cũng dặn các bạn
thuộc Đảng Quốc Gia Độc Lập nên
nhượng bộ cho anh em Đệ Tứ đóng vai tṛ
lănh đạo để tạo thanh thế cho tổ
chức này chặn đường phe Cộng Sản
Đệ Tam. Ngoài ra cụ xin Đức Thày Huỳnh Phú
Sổ gia nhập Việt Minh để tránh t́nh trạng
phe Cộng Sản Đệ Tam độc quyền thao
túng, nắm thế thượng phong.
Tại Singapore,
cụ kín đáo học và nói thông thạo tiếng Nhật,
trong khi vẫn không ngừng hoạt động. Khi ông
Dương Bá Trạc lâm bệnh, cụ chăm sóc tận
t́nh như đối với một người cha, và lúc
ông qua đời, cụ đọc điếu văn
bằng tiếng Nhật, trước sự ngạc nhiên
của quan khách Nhật hiện diện. Người
Nhật giao cho cụ điều khiển một chương
tŕnh phát thanh bằng Anh Ngữ. Cùng cộng tác dưới
quyền cụ có hai học giả giáo sư đại
học bị Nhật bắt, một ông người Anh và
một ông người Ḥa Lan. Vào năm 1945, người
Nhật đưa cụ đi Djakarta. Ở đây, cụ
nghe tin nước nhà độc lập. Tức thời,
cụ đ̣i trở về Việt Nam. Nhưng
người Nhật chỉ chịu đưa cụ
trở lại Singapore, và măi tới khi được tin
phu nhân qua đời để lại sáu con thơ, họ
mới đành phải đưa cụ về nước,
trong điều kiện rất khó khăn, bằng máy bay
hai chỗ, vừa phải tránh oanh tạc, vừa lẩn
trốn máy bay săn giặc của Đồng Minh. Sở
dĩ có sự chần chờ của Nhật trong việc
đưa cụ về nước là v́ lập
trường thống nhất đất nước
lập tức của cụ lúc bấy giờ có thể gây
khó khăn cho họ.
Về tới
Việt Nam, cụ được bầu làm Chủ
Tịch Hội Đồng Nam
Kỳ. Những nhân vật có tiếng tăm của
Hội Đồng Nam Kỳ hết ḷng ủng hộ
cụ vào lúc đó, nay c̣n nhớ được là: Nha
Sĩ Nguyễn Xuân Bái (thân phụ ông Nguyễn Xuân Oánh), Bác
Sĩ Trần Như Lân, Kỹ Sư Lưu Văn Lang
(nhạc phụ của BS Trần văn Đỗ) , các ông
Hồ Văn Ngà, Đinh Khắc Thiệt (thân Nhật, chú
của ông Đinh Thạch Bích), Trương Văn Bền,
Kha Vạng Cân (Phó Chủ Tịch Hội Đồng Nam
Kỳ). Trong thời gian tại nhiệm, cụ cách
chức 12 ông Đốc Phủ tham nhũng, trong số
đó có cả những người thân Nhật.
Tháng 7 năm 1945,
Thủ Tướng Trần Trọng Kim mời cụ cùng
với các ông Ngô Đ́nh Diệm (được Nhật che
chở ở Sài G̣n, giao cho sĩ quan Cao Đài Nguyễn
Thành Phương giữ an ninh), và Vũ Đ́nh Dy (mới
ở Nhật về), ra Huế tham gia một chính phủ
đoàn kết quốc gia. Lúc lên đường, có thêm BS
Lê Toàn, và bí thư của cụ là ông Nguyễn Văn
Tệ. Đi được tới Nha Trang th́ phái đoàn
bị Cộng Sản kéo người bao vây. Khi bọn này
sắp sửa hành hung, th́ quân đội Nhật tới
kịp giải cứu, nhưng phái đoàn phải quay
trở về Sài G̣n. Cùng lúc đó, Tạ Thu Thâu bị
Cộng Sản Đệ Tam hạ sát tại Quảng Ngăi,
đánh dấu giai đoạn Cộng Sản Đệ Tam
công khai ra mặt giết hại người của các phe
nhóm khác.
Cũng vào khoảng
thời gian này, Nguyễn Văn Sâm ra Huế lănh chức
Khâm Sai Nam Việt. Ông cũng bị người của
Cộng Sản giữ lại ở Nha Trang. Trước
sự cấp bách của t́nh thế, cụ Trần Văn
Ân và ông Hồ Văn Ngà tức tốc đến gặp
Thống Đốc Nhật Minoda, đ̣i trao trả chính
quyền cho người Việt. Sau khi hội ư với các
tướng lănh và viên chức Nhật, ông Minoda long
trọng chuyển giao quyền hành cho cụ tại Dinh Gia
Long. Lập tức cụ bổ nhiệm Hồ Văn Ngà
làm Phó Khâm Sai Nam Việt, Kha Vạng Cân làm Đô
Trưởng Sài G̣n Chợ Lớn (với chức vụ
này, ông Cân đă ra lệnh hạ hết các tượng
đồng của người Pháp). Ba ngày sau, Nguyễn
Văn Sâm mới thoát nạn về tới.
Sau đó, phong trào
quần chúng do Cộng Sản thao túng nổi lên, khiến
cụ và các ông Sâm, Ngà, Cân, buộc phải rút lui, cho tới
khi thực dân Pháp theo chân quân đội Anh trở lại
Miền Nam mới lập ra Ủy Ban Phong Tỏa Sài G̣n Chợ
Lớn. Chỉ ít lâu sau, Hồ Văn Ngà bị Cộng
Sản đệ tam bắt đem về giam tại
Rạch Giá. Cụ và Nguyễn Văn Sâm phải đi
trốn. Cùng một bà vợ Trung Hoa, cụ giả dạng
làm người Tàu, tới ẩn náu trong Chợ Lớn.
Đầu năm 1946, cụ nhờ bạn Trung Hoa
đưa đi trốn tại Nam Vang, rồi theo
người buôn lậu vượt biên qua Thái Lan với tên
giả là Trần Huệ Dân (cần nhắc lại là
cụ nói thông thạo các loại tiếng Tàu thông dụng
ở Miền Nam). Cả thực dân lẫn Cộng Sản
Đệ Tam đều ráo riết truy lùng cụ trong
suốt thời gian này.
Đối với
Cộng Sản Đệ Tam lúc đó, cụ chủ
trương « đánh chung đi riêng », tức là cùng chung
sức đánh thực dân, nhưng các phe nhóm không Cộng
Sản vẫn duy tŕ tổ chức và cơ sở riêng
biệt, chứ không sát nhập vào lực lượng do
Cộng Sản Đệ Tam điều động. Tuy
nhiên, chủ trương này bị đa số các
đồng chí của cụ trong Đảng Quốc Gia
Độc Lập chống đối, v́ họ cho rằng
làm như thế sẽ phân tán lực lượng chống
thực dân. Họ chủ trương đánh đổ
thực dân trước đă, rồi sau đó ai cai trị
cũng được, cai trị thế nào cũng
được, miễn là lấy lại được
chủ quyền cho người Việt. Cụ Trần
Văn Ân là một trong số ít người vào lúc ấy
đă ư thức được rằng hiểm họa cho
nước nhà sẽ không phải là chế độ
thực dân đang trên đà sụp đổ khắp
nơi , mà chính là : Cộng Sản.
Trong điều
kiện đó, Đảng Quốc Gia Độc Lập tan
ră. Đa số ủy viên trung ương lần
lượt theo Cộng Sản Đệ Tam. Trần Quang
Vinh, Trưởng Ban Tổ Chức của Đảng và là
Tư Lệnh Bộ Đội Cao Đài (do Nhật vơ trang
và huấn luyện) bị Cộng Sản tuyên truyền
kết án là tội phạm chiến tranh, nên bỏ trốn
(ông bị Cộng Sản Đệ Tam bắt
được, đem nhốt tại Kim Quy Rạch Giá
chung với Hồ Văn Ngà cho tới khi Nguyễn Thành
Phương và Vũ Tam Anh đem quân tới phá khám cứu
ra, rủi cho Hồ Văn Ngà tối hôm đó có
người giữ ngục là học tṛ cũ mời
về nhà dùng cơm nên không được giải cứu,
để hôm sau bị đập chết bằng củi
đ̣n – Trần Quang Vinh sau có làm Bộ Trưởng
Quốc Pḥng, và cũng chết trong tù Cộng Sản sau
năm 1975). Sau Tướng Vinh, bộ đội Cao Đài
được giao cho một tướng trẻ là
Nguyễn Văn Thành chỉ huy. Rủi thay, tướng
Thành cũng lại kéo quân theo Cộng Sản Đệ Tam
nốt, khiến Đảng Quốc Gia Độc Lập
không c̣n lực lượng quân sự để tiếp thu
khí giới do người Nhật sẵn sàng chuyển giao.
(Tướng Thành sau bị án tử h́nh và bị giam
tại Côn Đảo cùng với cụ Trần Văn Ân –
khi ra tù ông làm cố vấn cho cụ ở Bộ Chiêu
Hồi – sau ông bị Cộng Sản liệng lựu
đạn sập nhà chết ở Tây Ninh, lúc ông lănh trách
nhiệm giữ an ninh cho Ṭa Thánh). Về phía Ḥa Hảo th́
Đức Thày Huỳnh Phú Sổ bị Cộng Sản
Đệ tam vu khống là việt gian, và bị
người của Cộng Sản khủng bố, nên
cũng phải rút khỏi Sài G̣n.
Một thời gian
sau, t́nh thế lắng đọng, cụ từ Thái Lan
trở về phụ giúp Đức Thày thành lập Đảng Dân Xă, do cụ
lănh viết tuyên ngôn vào tháng tám năm 1946, trong một
cuộc họp tại nhà ông Hội Đồng Nguyễn
Văn Nhiều, đường Palikao, Chợ Lớn (ít
lâu sau Cộng Sản Đệ Tam biết chuyện này,
đang đêm bắt Hội Đồng Nhiều chặt
ra ba khúc, liệng xuống đường mương).
Ngoài Đức Thày ra, có mặt hôm đó c̣n có các ông
Nguyễn Văn Sâm và Nguyễn Bảo Toàn. Ít lâu sau, cụ
cho ra đời báo Quần
Chúng, và được Đảng Dân Xă chỉ thị
tham gia chính phủ của Tướng Nguyễn Văn Xuân.
Trước khi tham chánh, cụ đặt cho Tướng
Xuân ba điều kiện :
* Thứ nhất : cải danh xưng chính phủ
Nam Kỳ Tự Trị thành Chính Phủ Lâm Thời Nam
Phần Việt Nam, để phá kế hoạch phân ly
ba miền theo cách thức « chia để trị » của
thực dân. Thật vậy, chính phủ lâm thời Nam
Phần Việt Nam được định nghĩa
như một chính phủ TẠM THỜI của Miền
Nam, trong khi chờ đợi một giải pháp thống
nhất. Đó chính là phủ nhận một cách quả
quyết chiêu bài « Nam Kỳ tự trị », đặt
nguyên tắc thống nhất đất nước
hầu dọn đường cho một giải pháp không
Cộng Sản trên toàn lănh thổ Việt Nam, sau này mới
được gọi là « giải pháp Quốc Gia ».
* Thứ nh́ là không
chấp nhận cho quân đội giáo phái làm lính « partisan »
cho Pháp, không đặt họ dưới sự chỉ huy
của Pháp, để có thể đương đầu
với Cộng Sản mà vẫn giữ được
chính nghĩa, hầu sau này đi đến sự tổ
chức một « Quân Đội Quốc Gia », gắn
liền với « giải pháp Quốc Gia » vừa nói ở
trên.
* Điều
kiện cuối cùng là trong một ngày, ông Xuân phải
gặp cụ đầu tiên lúc sáng, và sau cùng lúc tối,
để phối hợp làm việc cho hữu hiệu.
Các sự toan tính
giữa cụ và Tướng Xuân được giữ bí
mật cho đến ngày chính phủ tŕnh diện Hội
Đồng Nam Kỳ. Bài diễn văn ra mắt nội
các của Tướng Xuân do cụ và Nguyễn Văn Sâm
soạn thảo. Các thành viên chính phủ được cho
biết nhưng bị cụ hăm dọa, không ông nào dám
hé răng. Đến ngày ra mắt, Hội Đồng Nam Kỳ
bỏ phiếu tín nhiệm nội các mới, khiến
thực dân bị đặt trước một sự
đă rồi, không làm sao khác hơn là chỉ thị báo chí
ém nhẹm chuyện này đi. Hai ngày sau, có hai người
Cộng Sản đang bị Pháp giam, tự nhiên
được thả, và ra tay bắn chết Nguyễn
Văn Sâm trên xe buưt ở đường Cây Mai, Chợ
Lớn. Sáng hôm đó, ngày 10 tháng 10 1947, ông Sâm đi cùng
với cụ đến dự lễ kỷ niệm ngày
Song Thập ở Ṭa lănh Sự Trung Hoa, rồi cùng về
làm việc ở báo quán Quần Chúng. Tới chiều, ông
Sâm mới đi xe buưt về nhà bạn trong Chợ Lớn.
Lúc bị bắt lại, hai hung thủ Cộng Sản khai
được lệnh giết cả Trần Văn Ân lẫn
Nguyễn Văn Sâm.
Năm 1948, cụ đề nghị lá cờ vàng
ba sọc đỏ, lấy ư nghĩa quẻ Càn
(biểu tượng Thái Dương như cờ Nhật,
mà cũng là phương Nam trong Phục Hy Đồ), màu
đỏ (Hỏa cũng thuộc phương Nam,
tượng trưng phấn đấu, vui vẻ), màu vàng
(đất, quẻ khôn, đối với càn), và kích
thước « tam thiên lưỡng địa », đồng
thời cũng có ư nghĩa ba gạch đỏ
tượng trưng cho ba kỳ hợp trong nền vàng
tượng trưng đất nước Việt Nam …
Trong cùng thời
gian, cụ đưa ông Phan Khắc Sửu xuống Long
Xuyên thuyết phục Tướng Nguyễn Giác Ngộ
không theo ông Trần Văn Soái mà cứ tiếp tục
ở lại chiến khu chống thực dân. Cụ
cũng đích thân tới Tây Ninh vận động
chống lại việc ông Lê Văn Hoạch (cựu
Thủ Tướng) kêu gọi Ṭa Thánh lập bộ
đội thân Pháp. Lập trường của cụ là:
bộ đội Cao Đài phải là nghĩa quân cách
mạng chứ không thể tùy thuộc thực dân. Tuy nhiên
điều làm cho thực dân tức giận nhứt là
việc cụ hết sức ngăn cản không để
cho quân đội B́nh Xuyên về Đô Thành với thực
dân và lập một vùng biệt lập để quy tụ
những nhóm kháng chiến không Cộng Sản về đó,
hầu sau này có được một lực lượng
ái quốc có chính nghĩa đánh lại Cộng Sản. Sau
khi Trung Tá Savani, chỉ huy Pḥng Nh́, thất bại trong
việc thương thuyết với cụ để
bộ đội B́nh Xuyên ra hàng Pháp, Tướng de la Tour
hai lần viết thư đến Thủ Tướng
Xuân hăm dọa : « quá 24 giờ mà ông Ân không ra đi th́ tôi
sẽ không chịu trách hiệm về an ninh của ông
ấy ». Tướng Xuân không trả lời. Cụ lần
lựa tới hơn một tháng sau mới quyết
định lấy danh nghĩa Bộ Trưởng Thông Tin
để lên đường công du … Pháp Quốc !
Trước khi
khởi hành, cụ yêu cầu các đồng chí nên tiếp
tục cộng tác với Thủ Tướng Xuân,
để trong giai đoạn khó khăn, có thể vừa
né Pháp, vừa né Cộng Sản. Đa số phản
đối, muốn bỏ vào bưng đánh hai mặt, Pháp
và Cộng Sản. Thương tâm nhứt là trường
hợp ông Lâm Ngọc Đường, do cụ đưa
vào lập Sở Công An cho chính phủ Nguyễn Văn Xuân,
trong lúc thực dân nhứt định không chịu giao ngành
Công An Mật Vụ cho chính quyền Việt Nam. Sau khi
cụ đi khỏi, ông Đường bỏ vào bưng
với B́nh Xuyên. Đến khi Tướng Lê Văn
Viễn đem lực lượng B́nh Xuyên về với
Thủ Hiến Trần Văn Hữu, ông cô thế, bị
Cộng Sản vây bắt, đóng nọc vào mắt, tai,
mũi, miệng, hậu môn, rồi hành hạ ông
đến hơi thở cuối cùng.
Qua tới Pháp,
cụ mở một mặt trận ngoại giao với
nhiều cuộc diễn thuyết, đặc biệt là
tại Palais de la Mutualité, Paris, tháng 10 năm 1948, với sự
chủ tọa danh dự của ông Chủ Tịch Liên Minh
Nhân Quyền (Ligue des Droits de l’Homme). Suốt nhiều tháng
sau đó, cụ không ngừng tiếp xúc với các dân
biểu, nghị sĩ, các nhận vật trong báo giới,
văn đàn v.v… để gây cảm t́nh đối
với nguyện vọng dành độc lập của
người dân Việt.
Năm 1949, nhờ
sự can thiệp của Đảng Xă Hội (SFIO) và
đảng MRP, chính phủ Pháp buộc phải chấp
nhận cho cụ trở về nước. Vừa về
tới là cụ thành lập Việt
Nam Dân Chúng Liên Đoàn, gọi là Việt Đoàn,
để hậu thuẫn cho giải pháp Bảo
Đại, được cụ coi như một giai
đoạn quan trọng của sự h́nh thành giải pháp
quốc gia. Cụ cũng sáng lập báo Đời Mới,
với nhiều cây bút về sau trở thành nổi
tiếng dưới bầu trời Nam Việt.
Cũng năm 1949,
cụ tổ chức « Tiệc B́nh Dân » để Quốc
Trưởng Bảo Đại vừa về nước
có dịp tiếp xúc với các tầng lớp dân chúng,
đặc biệt là những người đang hoạt
động tại chiến khu. Cũng chính vào dịp
đó mà Quốc Trưởng Bảo Đại và
Tướng Lê Văn Viễn gặp nhau lần đầu
tiên.
Năm 1950, cụ
được mời đi dự Hội Nghị Ḥa B́nh
San Francisco, nhưng giờ chót bị Tướng de Lattre de
Tassigny tước thông hành không cho đi. Liền hôm sau,
Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Dean Rusk can thiệp mời
cụ sang Mỹ, nhưng với chủ trương không
làm bẽ mặt đối phương, cụ khéo léo
chối từ. Cũng năm đó, cụ làm cố
vấn cho chính phủ Nguyễn Phan Long, và, sang năm 1951,
vận động thành công cho Việt Nam lần
đầu tiên tham dự một Hội Nghị Quốc
Tế như một Quốc Gia độc lập, do
một cơ quan thuộc Liên Hiệp Quốc tổ
chức. Đó là Hội Nghị Kinh Tế Viễn Đông
(ECAFE).
Năm 1953 cụ
đề nghị và đứng ra tổ chức Hội Nghị Toàn Quốc
quy tụ 212 đai biểu đại diện cho mọi
thành phần dân chúng. Giờ chót, cụ kêu gọi
Đại Hội biểu quyết chống lại mô h́nh «
Liên Hiệp Pháp » v́ theo cụ mô h́nh này che dấu một
sự lệ thuộc trá h́nh, làm mất đi chính nghĩa
của chính quyền quốc gia. Cụ đưa ra
khẩu hiệu : « Độc Lập mà không liên lập là
cô lập – Liên lập mà không Độc Lập là lệ
thuộc ». Hội Nghị Toàn Quốc bầu chống
lại Liên Hiệp Pháp. Thực dân lại thêm một
lần nữa bị đặt trước một sự
đă rồi.
\Suốt những
năm từ 1949 tới 1954 cụ đi lại Pháp
Quốc nhiều lần để vận động chính
giới Pháp ủng hộ một giải pháp quốc gia cho
một Việt Nam độc lập.
Năm 1954, Quốc
Trưởng Bảo Đại bổ nhiệm ông Ngô
Đ́nh Diệm làm Thủ Tướng Toàn Quyền Nam
Việt. Ông Diệm với cụ là chỗ quen biết và
giao thiệp tốt đẹp từ hơn mười
năm trước. Sau khi ông Diệm cầm quyền,
cụ có gặp lại ông vài lần, lần nào cũng có
cảm tưởng đạt đến một sự
tương đồng quan điểm. Lúc ấy, các
lực lượng quần chúng Miền Nam đă từng
tranh đấu chống thực dân và Cộng Sản
tụ tập lại trong một tổ chức tên là Mặt Trận Thống Nhứt
Toàn Lực Quốc Gia, do Đức Hộ Pháp Phạm
Công Tắc lănh đạo. Cụ được mời làm
cố vấn cho Mặt Trận này. Cụ cũng
được mời tham gia phái đoàn của Mặt
Trận tới hội kiến với Thủ Tướng
Diệm tại Dinh Độc Lập. Phái đoàn c̣n có các
ông Sĩ Thanh, Lai Hữu Tài, Nguyễn Long Thành Nam, Ngài
Bảo Đạo Lê Thiện Phước v.v… Cụ
được mời ngồi cạnh Thủ Tướng
Diệm và phát biểu đại ư như sau:
«Thưa Thủ Tướng,
dư luận đến từ những người thân
cận với Thủ Tướng thường đề
ra những phê phán khắt khe về Giáo Phái, cho là
người Giáo Phái dơ dáy, dốt nát, không đứng
đắn. Tuy nhiên, xin Thủ Tướng nhận cho
rằng : dân có dốt, có hư, mới cần đến
Thủ Tướng, mới phải mời Thủ
Tướng lại cai trị họ. Họ thiếu ăn
học, chân lấm tay bùn, nhưng họ là người
của đất nước này. Đời sống
của họ gắn liền với đồng quê lầy
lội kia, và khi cần, họ sẽ không ngần ngại
liều chết để bảo vệ vùng đất
ấy. Đám trí thức và trưởng giả
được những người thân cận Thủ
Tướng quư trọng, đến khi hữu sự
sẽ lo vắt gị lên cổ mà chạy trước.
Những người ấy khôn ngoan và có nhiều
phương tiện, họ đi đâu mà chẳng
sống được ? Ngược lại, chính v́
người Giáo Phái nghèo nàn thất học, mà họ
chỉ có một đường sống duy nhứt, đó
là sống với quê hương, và chết một cách duy
nhứt, đó là chết trong ḷng ruộng đồng
của tổ tiên họ để lại.
Thưa
Thủ Tướng, mục tiêu của chúng ta ngày nay là
ngăn cản không cho Cộng Sản tràn xuống Nam
Việt. Người dân quê Giáo Phái, với tín ngưỡng
chân thật và t́nh ràng buộc với quê cha đất
tổ, chính là lực lượng chống Cộng Sản
hăng say nhứt của Miền Nam này. Dựa vào họ
là dựa vào quần chúng, là lấy sức mạnh từ
người dân. Xa rời họ là ly khai với quần
chúng, là lấy thế lực bên ngoài để cai trị
dân. Xin Thủ Tướng xét rơ ».
Thủ Tướng
Diệm tỏ vẻ đồng ư, nhưng chỉ hứa
sẽ « xem lại » vấn đề …
Ít lâu sau sảy ra
cuộc xung đột giữa chính phủ Ngô Đ́nh
Diệm với các lực lượng thành viên của
Mặt Trận Thống Nhứt Toàn Lực Quốc Gia. Các
bộ đội Ḥa Hảo và Cao Đài dần dần
thất thế. Tướng Tŕnh Minh Thế ngả theo
chính phủ. Lực lượng B́nh Xuyên rút ra chiến khu
Rừng Sát. Cụ và phần lớn trí thức thành viên
của Mặt Trận cũng buộc phải rút theo
với họ. Một thời gian sau, cụ và ông Nguyễn
Hữu Thuần vượt ṿng vây ra gặp Tỉnh Trưởng
Biên Ḥa là ông Nguyễn Linh Chiêu (anh của Dược Sĩ
Nguyễn Quốc Nam hiện ở Paris), tuyên bố :
muốn thương thuyết. Ông Chiêu tiếp đăi
cụ niềm nở, mời ăn sáng, rồi đưa
đi gặp ông Mai Hữu Xuân. Sau đó cụ thương
thuyết với các ông Dương Văn Minh và Nguyễn
Khánh trên một chiếc tàu suốt ba hay bốn ngày
liền. Đang lúc ấy th́ có ông Hồ Hữu
Tường từ chiến khu ra tới. Ông Tường nhận
đem bản thỏa hiệp về bưng cho
Tướng Lê Văn Viễn quyết định. Cụ
và ông Thuần kư giấy ở lại không trở về
chiến khu. Tiếp đó, cụ bị kết án tử
h́nh và bị giam tại Côn Đảo suốt chín năm
dài.
Trong tù, cụ chuyên
cần thiền định, nối lại với lối
sống tu hành lúc nhỏ dưới ảnh hưởng
của bà nội và ông bác Minh Sư… Cụ cũng cố
công t́m ṭi hiện đại hóa Triết Học Đông
Phương, và để giải trí, cụ làm thơ
cũng như dịch được hơn sáu trăm bài
thơ Trung Quốc đủ mọi thời đại.
Ngoài ra, cụ dạy Hán và Anh Văn cho bạn cùng khám, và
khuyên nhủ cải thiện được hai
người thường phạm tử h́nh v́ can tội
sát nhân.
Tháng 11 năm 1963,
anh em ông Diệm bị sát hại. Cụ vẫn tiếp
tục ngồi tù. Măi tới ngày 7 tháng 2 năm 1964, sau khi
Tướng Khánh «chỉnh lư» Tướng Dương
Văn Minh, cụ mới được thả
(tướng Khánh là cháu họ xa, kêu cụ bằng
cậu). Nh́n lại chín năm tù tử tội, với
những lúc bị nhốt dưới hầm tàu với
heo, với «kỷ niệm» hai năm trường bị
c̣ng chân, sáu tháng nhốt hầm tối «cachot», cụ không
hề tỏ lời oán hận. Cụ nói: «mong ông Diệm
thành công, và chỉ lo mất nước trong tay Cộng
Sản».
Khi ra tù, cụ
đă lớn tuổi. Với quá tŕnh đấu tranh không
ngừng nghỉ từ năm 1926, và sau chín năm tù tử
tội cam khổ, người ta có thể nghĩ rằng
cụ sẽ dành những năm tháng c̣n lại của
cuộc đời để nghỉ ngơi hưởng
nhàn. Tuy nhiên, cụ đă cương quyết chối
từ cái quyền được an dưỡng tuổi
già hoàn toàn chính đáng đó, để lại lập
tức tiếp tục dấn thân vào con đường
phục vụ đất nước. Cụ bất kể
địa vị to lớn của ḿnh trong các giai
đoạn lịch sử đă qua, để không ngần
ngại ḥa ḿnh vào chính trường lúc đó, thậm chí
nhận lănh những chức vụ mà nhiều người
cho là không xứng đáng với tầm vóc của cụ,
như : Tổng Trưởng Thông Tin, Tổng Trưởng
Chiêu Hồi, Chủ Tịch Ủy ban Soạn Thảo
Sắc Luật Bầu Cử Quốc Hội Lập
Hiến, Ủy Viên Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia,
Phụ Tá Đặc Biệt Văn Hóa Chính Trị Phủ
Tổng Thống, Cố vấn Phái Đoàn Việt Nam
Cộng Ḥa tại Hội Nghị La Celle St Cloud v.v… Cũng
trong thời gian này, cụ nhiều lần được
mời đi nói chuyện tại quốc ngoại, với
những thành quả hiện c̣n được nhiều
người trong cũng như ngoài nước thán
phục.
Sống đời
lưu vong tại Pháp Quốc, cụ và phu nhân nối
kết những chuỗi ngày an bần lạc Đạo,
ăn tiền trợ cấp xă hội, ở trong một căn
phố dành cho người nghèo (HLM – Habitation à loyer modéré).
Suốt cuộc đời trải dài một thế
kỷ, với bao nỗ lực đấu tranh, cụ
đă không mưu cầu được ǵ cho bản thân và
gia đ́nh ḿnh. Trong cuộc sống nghèo nàn nơi
đất khách, cụ dành thời giờ gây dựng
kiến thức cho bạn trẻ, những mong có
người tiếp nối chí nguyện của ḿnh, và
chuyên tâm ghi lại những kỷ niệm lịch sử
của cuộc đời cụ, để cho hậu
thế khỏi rơi vào những nhận định sai
lạc, lấy từ những tài liệu của thực
dân hay của đám trí thức thiên tả chuyên chạy theo
thị hiếu thời thượng mà bóp méo sự
thật . Nhắc lại những kỷ niệm xưa
cũng là dịp để cụ tưởng nhớ các
bạn « đồng tâm đồng đức », đă
đem sanh mạng máu xương lót trải trên con
đường lịch sử nước nhà. Hàng năm cụ
không quên cúng giỗ từng người, Đức Thày,
Sâm, Ngà, Thâu, Thạch, Hùm, Chánh, La Anh, Châu Lực, v.v…
Khi sức khỏe
dần dần suy sút, h́nh ảnh của cụ như lu
mờ đi trước những tử đệ vẫn
thường quen với vóc dáng và phong độ của
một Trần Văn Ân hùng hồn mạnh dạn, của
nhà hùng biện dấy động ḷng người, của
người đấu sĩ luôn hăng hái dấn thân,
của bậc triết gia thông thái, kiến thức mênh mông,
của nhà chính trị tinh tế, với óc nhận
định sâu sắc và trí thông minh làm kinh ngạc
người đối diện, của nhà văn
đầy hứng cảm, hồn thơ dào dạt,
của một Trần Văn Ân hào hoa, với giọng nói
tiếng cười luôn đem lại hứng khởi
tươi vui … Khi ấy, khi ngôi sao Trần Văn Ân không
c̣n chiếu sáng như xưa, th́ những anh em c̣n quây
quần bên cụ lại được chiêm ngưỡng
một gương sống khác : đó là gương
tận tụy hy sinh gần như toàn diện, với
nụ cười đạo đức, b́nh thản
trước nghịch cảnh, của phu nhân của
cụ. Quả thực, cụ và phu nhân đă nối
tiếp nhau thể hiện qua cuộc sống hằng ngày,
cái tinh thần VÔ CẦU BẤT CHẤP mà cụ
thường nhắc nhở.
Ngày hôm nay xin cáo
với Đất Trời: Trần Văn Ân, Pháp Danh Quang
Huy, đă từ biệt cơi đời, ḥa trong HỒN
NƯỚC, t́m về CHÂN NHƯ, trong GIẤC NGỦ MUÔN
ĐỜI …
Trong giấc ngủ
muôn đời
Xin
dang tay đón người
Đặt người trong ánh sáng
Nguồn sáng của Bầu Trời
(phỏng theo Esdras)
Nguyễn Hoài Vân
11 tháng 9 năm 2002