HƯƠNG TRÀ NĂM
TRƯỚC:
TƯỞNG NHỚ CỤ
TRẦN VĂN HƯƠNG
Phan Cẩm Anh
Tết
sắp đến nơi rồi, tôi thầm nói với ḿnh câu nói
nầy bao nhiêu lần mỗi khi lấy thêm áo ấm trong
tủ ra để mặc cho con, hoặc pha cho chồng
tách cà phê nóng mỗi sáng sớm. Những việc nho nhỏ
nầy gợi lại trong ḷng tôi một cảm giác ấm
áp thân thương, làm tôi nhớ đến b́nh trà nóng ngày
xưa ở Đà Lạt, mỗi sáng sớm ngoại tôi
vẫn có thói quen ngồi bên chiếc bàn cũ kỹ
đặt trong góc nhà bếp, nhẩn nha thưởng
thức mấy tuần trà mà hương trà cổ kính thanh
khiết đó bay phảng phất trong không gian rất lâu.
Bên cạnh là một ấm nước đă nhuộm màu
khói được đặt trên bếp lửa hồng.
Lửa chen chúc bập bùng, vang lên tiếng kêu tí tách từ
những thanh củi đang bốc cháy. Thương làm sao
cảnh đời của một thuở an b́nh.
Chạnh
nghĩ về Tết cũng là cửa ngơ cho nhiều
kỷ niệm xưa sống lại trong ḷng. Không biết
tại sao bên cạnh nỗi nhớ êm đềm về
những ngày Tết của thời thơ ấu, ḷng tôi
lại quay quắt với vài kỷ niệm về cụ
Trần Văn Hương đă in sâu vào tâm hồn tôi
như một nét vẽ vừa buồn vừa đậm
nét. Tôi càng nhận rơ ra hơn, thời gian không phải là
luôn yếu tố để người ta quên
được những nhân vật đă đi vào lịch
sử.
Nhiều
năm trước, khi c̣n học ở trung học, một
buổi tối sau khi dùng cơm, chị tôi dẩn tôi
đến phủ «Cây Tùng» để thăm Mai Hương,
một người bạn đồng khóa 1 Nữ Quân Nhân
của chị, bấy giờ vừa lập gia đ́nh
với đại úy Phan Hữu Cương, cháu ruột
của cụ Trần Văn Hương. Ba chị em
đứng tṛ chuyện dưới một tàng cây trong dinh
Phó Tổng Thống. Bất th́nh ĺnh cụ Hương
từ trong bước ra của đưa mắt nh́n
về phía chúng tôi gật đầu rồi ra dấu
bảo Mai Hương theo cụ vào trong phủ. Khi trở
ra, Mai Hương le lưỡi nói với chị tôi :
-
Ông cụ vừa mới la
-
La chuyện ǵ ?
-
Ông cụ nói tại sao tôi không mời các bạn vào pḥng
khách nói chuyện đàng hoàng mà lại để bạn
đứng dưới gốc cây. Ông cụ bảo là
tiếp bạn như vậy là không phải cách, không
trọng bạn.
Đó
là lần đầu tôi trông thấy cụ Hương,
nhưng nghe thuật lại những lời cụ trách,
ḷng tôi tự nhiên nhen nhúm một cảm t́nh quư trọng. Sau
đó, tôi có dịp trở lại phủ Phó Tổng
Thống đôi lần khi Mai Hương sắp vào nhà
bảo sanh. V́ lẽ phu quân của Mai Hương bận
công vụ nên MH cho tài xế đến nhờ tôi và em gái tôi
giúp đưa MH vào bịnh viện. Tất cả những
lần lui tới đó, tôi chẳng có dịp nào
được giáp mặt cụ Hương.
Thời
gian trôi qua, miền Nam sụp đổ, Dương Văn
Minh ra lịnh đầu hàng. Ngay buổi sáng của ngày
đầu mất nước, trong một ngôi biệt
thự cũ kỷ nằm khuất nơi ngơ hẻm
ngắn trên đường Phan Thanh Giản, thân nhân
của gia đ́nh nầy
đă đau đớn đặt ở giữa nhà hai xác
người cùng nhau t́m cái chết, họ vừa chia nhau
ống thuốc ngủ đêm qua. Đó là đại úy Phan
Hữu Cương và trung úy Trần Mai Hương. Họ
đă để lại vơn vẹn vài lời trăn
trối xin nhờ ḷng tha thứ của cụ Hương
và gia đ́nh, v́ không thể sống khi đất
nước đă rơi vào tay kẻ thù…Đôi vợ
chồng trẻ gởi gắm lại ba đứa con
thơ dại nhờ ông bà nội dưỡng nuôi.
Cũng
trong ngôi biệt thự bị bao phủ bởi không khí bi
thương ấy, nơi một căn pḥng trên lầu,
cụ Hương đóng cửa im lặng, trầm ḿnh
trong nỗi đau của một người đă
từng trên cương vị lănh đạo, giờ đây
bi phẩn chứng kiến cảnh quốc gia suy vong, gia
đ́nh tang chế. Nỗi đau khổ của Cụ
ở mức độ nào, chẳng ai trong nhà
được Cụ hé môi thố lộ.
Nhưng
ư định cùng chồng đi t́m cái chết của Mai
Hương đă không được toại nguyện
bởi lẽ một người cháu của MH t́nh cờ
ghé lại thăm, thấy thân thể của cô ḿnh vẫn
c̣n chút hơi ấm, nên vội chở MH đi cấp
cứu. Sự sống của MH đă được các
bác sĩ giành giựt lại từ đường tơ
kẻ tóc, nhờ đó MH đă trở thành một
chiếc cầu khiến tôi có cơ hội biết thêm chút
ít về cụ Hương trong những ngày tháng sau nầy
của Cụ.
Nhiều
lần, MH dẩn tôi về lại ngôi biệt thự
cũ để thăm các con của MH đang sống
nương nhờ vào ông bà nội, tôi đă chứng
kiến cảnh sống đạm bạc, nếu không nói
là thiếu thốn, túng quẩn của gia đ́nh cụ
Hương. Cụ Hương luôn sống lặng lẽ
một ḿnh trong căn pḥng nhỏ trên lầu. Căn pḥng
bài trí sơ sài, chẳng có món đồ nào được
coi là sang trọng. Ngoài chiếc giường nệm cụ
nằm, đồ vật c̣n lại chỉ là hai chiếc
ghế bành, một cái tủ cũ đựng quần áo
cũng đă cũ, một chiếc bàn con trên đó cụ
đề một tượng Phật Di Lạc. Căn
pḥng có một cửa ăn thông ra sân thượng. Hầu
cận săn sóc Cụ là người em rể của
Cụ, mà tôi gọi theo như MH là dượng. Phía
dưới lầu là những căn nhà trệt nhỏ,
nằm dọc theo bức tường phía trong khuôn viên
của biệt thự, có lẽ trước kia là những
nhà kho, bây giờ trở nên nơi tá túc của các thân nhân
gồm các em và cháu của Cụ, v́ phải gặp cảnh
khó khăn dưới quê nền phải t́m về Saigon
nương náu trong ngôi biệt thự cũ nát mà Tổng
Thống Thiệu đă cấp cho Cụ từ thời
trước. Ngôi biệt thự nầy, trước khi
cấp cho cụ Hương, Tổng Thống Thiệu
đă ra lịnh chỉnh trang lại, nhưng Cụ đă
từ chối xin cứ đề t́nh trạng như
vậy v́ Cụ đă già rồi, không làm ǵ ích lợi cho
quốc gia, nên cụ không muốn làm tốn hao công quỹ.
Do đó, đến khi Cộng Sản vào, ngôi biệt
thự trên chẳng phải là mồi ngon cho các cán bộ
của họ tranh nhau chiếm đoạt như số
phận các ngôi biệt thự xinh xắn khác. Tường
vách của ngôi biệt thự đă có nhiều chỗ
nứt nẻ, nền nhà nhiều chỗ gạch vỡ
tung lên, màu vôi đă trải qua nhiều năm tháng vàng
uế không được trùng tu sơn quét.
H́nh
ảnh Cụ lúc nầy như một con chim đại
bàng sa cơ gẫy cánh mà vẫn cố giương đôi
cánh mang thương tích để bảo bọc đàn chim
non. Tôi được kể, cứ mỗi lần
người nhà mang cơm lên lầu cho cụ,
thường th́ rất đạm bạc, lâu lâu mới có
một chút cá thịt để cụ bổ sức,
nhưng cụ luôn hỏi phần cơm của các
người khác trong nhà có được ăn giống
như cụ hay không. Mặc dù người nhà trả
lời là có để làm cụ an ḷng, nhưng cụ
thấu hiểu t́nh cảnh nghèo túng nên thường giành
thức ăn ngon trên mâm để mang trở lại
xuống nhà cho con cháu.
Nhiều
lần, nh́n lên sân thượng,
tôi trông thấy Cụ ngồi lặng lẽ trong
pḥng. H́nh ảnh cụ già tóc bạc trắng, cặp
mắt bất động nh́n về khoảng không, làm tôi
bàng hoàng ray rứt trên đường đạp xe trở
về nhà.
Một
hôm, có lẽ vào dịp gần Tết, MH trao cho tôi một
củ sâm Đài Loan và nói :
-
Bà nội sắp nhỏ bảo chị đem củ sâm
nầy đi bán. Củ sâm là của người ta biếu
cho ông cụ khi xưa khi ông cụ viếng Đài Loan, ông
cụ c̣n cất giữ cho đến giờ. Ông nói
chắc ông không cần dùng đến nó nên sai bà nội
đem bán lấy tiền đong gạo cho sắp nhỏ.
Củ
sâm vơn vẹn bằng hai phần ba bàn tay, được
bọc trong mấy lớp giấy dầy bụi bám, có
lẽ đă bị quên lăng trong ngăn tủ nay
được lôi ra… Tôi nh́n củ sâm mà nghẹn ngào.
Một nhà giáo thanh bạch, một người lănh
đạo quốc gia thanh liêm, nay cụ có đâu vàng
bạc tài sản để đem bán nuôi thân và nuôi đàn
cháu, giúp đỡ người thân đang tá túc trong nhà,
những người đă bị Cộng Sản kết
tội v́ liên lụy đến các hoạt động chính
trị của cụ.
Độ
hơn tuần sau, ông nội của các cháu, tức em
rể của cụ Hương, ghé lại nhà MH và tôi (lúc
nầy, tôi và MH ở chung tại một căn nhà nhỏ
ở quận Tân B́nh) kể cho chúng tôi nghe là ông vừa làm
theo ư của cụ Hương là mang ra chợ trời bán
mấy bộ veste c̣n tốt
của Cụ.
Để
an ủi người nhà bớt đau ḷng, cụ b́nh
thản giải thích : « Từ đây cũng đâu có
dịp cần để mặc, th́ đem bán đi chớ
giữ làm chi». Số tiền bán áo cũng chẳng c̣n
giữ được bao lâu v́ bà Út đă dùng số
triền nầy để đi chợ mua thức ăn
cho sắp nhỏ.
Gia
đ́nh của cụ Hương đă chịu chung số
phận nghèo khổ bi đát tột cùng, từ tinh thần
đến vật chất của mọi tầng lớp
dân chúng miền Nam khi miền Nam bị Cộng Sản
cưỡng chiếm.
Có một sự
kiện làm tôi chảy nước mắt mỗi khi nhớ
đến, ḷng thêm kính mến và cảm phục cụ
Hương. Trước khi chính quyền CS cho tổ
chức cuộc bầu cử quốc hội bịp
bợm đầu tiên, cụ Hương được
họ thông báo sẽ có một buổi lễ để chính
phủ trả quyền công dân cho cụ. Sau đó,
để có buổi lễ được quay phim tuyên
truyền, khi một cán bộ thay mặt chính quyền,
đọc "chính sách khoan hồng, rộng
lượng" của nhà nước đối với
những "thành phần" như cụ, cụ dơng
dạc nói:
- «Tôi xin phép từ
chối. Tôi không nhận cái quyền công dân này. Dù ǵ tôi
cũng là người lănh đạo miền Nam, trong khi
binh sĩ, nhân viên các cấp chỉ v́ thừa lịnh
của chúng tôi mà giờ đây vẫn c̣n bị giam cầm
trong các trại cải tạo, chưa được
trả quyền công dân trước. Tôi sẽ là
người sau cùng nhận cái quyền công dân này, sau khi binh
sĩ và nhân viên của chúng tôi đă được
nhận».
Đại diện
của chính quyền CS không ngờ sự thể xảy ra
như vậy. Tức giận, họ ra lịnh cúp máy thu
thanh, thu h́nh. Vài ngày sau cụ nhận được
lịnh quản thúc tại gia 3 năm. Cụ Hương
nói với người nhà:
- «Bọn nó cũng
chẳng cần phải quản thúc tao. Tao già và đau
yếu như vầy, có khi nào bước chân ra khỏi nhà
đâu mà cần phải quản thúc! »
Vào năm 80
tuổi, mỗi lần theo Mai Hương ghé vào thăm ông
bà nội của các cháu, tôi ít thấy cụ Hương ra
ngồi ở sân thượng như lúc trước. Tôi được
biết sức khỏe của cụ sa sút nhiều.
Một hôm, em rể cụ Hương bảo tôi:
- Ông cụ dạo
nầy yếu quá. Ông lại dứt khoát không muốn vô nhà
thương khám bịnh hay chữa trị ǵ cả.
Chắc Cẩm Anh cũng biết tại sao rồi. Dượng
muốn nhờ Cẩm Anh có quen ai là bác sĩ trước
1975, xin họ đến nhà khám bịnh giùm cho ông cụ.
Nếu không th́ Dượng chẳng yên tâm.
Nghe ông Dượng
nói tôi mới nhớ, cách đó không lâu, cụ Hương
bị mệt xỉu phải đưa vô nhà thương
cấp cứu. Lúc tỉnh dậy, cụ nhứt định
đ̣i người nhà phải đưa cụ về ngay.
Cụ một mực từ chối, không chịu
để điều trị trong bịnh viện đă
thuộc về tay chính quyền CS.
Mặc dầu có
quen biết vài bác sĩ, nhưng tôi nghĩ ngay đến
nhà tôi, lúc ấy c̣n là một người bạn, v́ trong
hoàn cảnh không biết tương lai ra sao, nên chúng tôi chưa
nghĩ đến việc lập gia đ́nh. Tôi nhận
lời Dượng, hứa t́m một bác sĩ của
"chế độ ḿnh" để nhờ khám
bịnh cho cụ. Khi nghe tôi tŕnh bày, nhà tôi chẳng chút
ngần ngại, vui vẻ nhận lời ngay. Lần
đầu tiên nhà tôi đến, cụ bảo nhà tôi
lại thật gần để cụ nh́n mặt v́
mắt cụ đă mờ. Cụ Hương hỏi nhà
tôi:
- Con đến
đây thăm bịnh cho qua, con có sợ họ làm khó
dễ con không?
Nhà tôi trả
lời:
- Thưa cụ, cháu
chỉ làm bổn phận và công việc của người
thầy thuốc, cháu không ngại.
Cụ xúc
động, ghé người gần lại, đưa tay ôm
lấy đầu nhà tôi. Nhà tôi tiếp:
- Thưa cụ, cháu
là bác sĩ trẻ mới ra trường, kinh nghiệm và
kiến thức hăy c̣n ít, chữa bịnh cho cụ, nếu
có điều ǵ không biết, cháu sẽ về đọc
sách lại.
Cụ Hương
vui vẻ, mỉm cười cảm ơn và nắm
lấy tay nhà tôi như để trấn an.
Từ đó nhà tôi
lui, tới với cụ thường xuyên để
thăm bịnh cụ. Dường như việc trị
bịnh đối với cụ chẳng có ǵ quan
trọng, cụ không quan tâm lắm, mặc dầu cụ
luôn luôn là một bịnh nhân gương mẫu, theo
đúng những lời dặn của bác sĩ. Điều làm
cho cụ vui và thoải mái hơn có lẽ là có người
để cụ nói chuyện. Do đó, nhà tôi thường
ngồi lại với cụ một hai giờ sau khi khám
bịnh. Cụ nói thuốc men cụ dùng hàng ngày là do bà
Trần Văn Văn và bạn bè ở Pháp gởi về
tặng cụ. Những thứ thuốc nào không cần
dùng, cụ đưa cho người em rể cụ đem
ra chợ trời bán, lấy tiền chia đều cho gia
đ́nh con cháu đong gạo. Một hôm cụ kể cho nhà
tôi nghe một câu chuyện rất cảm động
như sau:
- «Con biết không,
chú có thằng em đến thăm [cụ xưng chú
với nhà tôi, khi biết thân phụ nhà tôi lớn hơn
cụ vài tuổi] nó đem đến một hộp
sữa ḅ c̣n tặng chú 5 đồng [lúc mới đổi
tiền, 500 đồng tiền cũ ăn 1 đồng
tiền mới]. Chú thương nó có t́nh, nhưng nghĩ nó
phải đạp xích lô cực khổ để sinh
sống, nên chú không nỡ lấy. Nhưng nếu chú không
nhận th́ "sợ nó buồn tội nghiệp", nên
chú chỉ nhận có 5 đồng, c̣n hộp sữa th́
bảo nó đem về cho gia đ́nh» . Người mà
cụ kể là "thằng em" một cách thân mật
chính là thuộc hạ cũ của cụ.
Cụ Hương
c̣n tâm sự với nhà tôi những chuyện lúc cụ c̣n
trẻ. Có một thời gian cụ cùng với một
người con trai (Trần Văn Dơi) theo hoạt
động cho Việt Minh chống Pháp. Nhưng khi nhận
ra bộ mặt thật của Việt Minh, cụ dứt
khoát trở về lại trong Nam và mất liên lạc với
người con trai từ lúc ấy. Người con trai
nầy đă ở lại miền Bắc, và phục
vụ trong quân đội CS. Sau khi Sàig̣n bị chiếm, anh
có về thăm cụ với vợ là một bác sĩ VC.
Có lẽ sự lui tới của cặp vợ chồng
nầy cũng nhằm mục đích theo dơi cụ.
Cụ Hương
cũng có một người con khác đang sinh sống
tại California. Anh có một đứa con bị bịnh
Thalassemia, được đưa sang Mỹ chữa
trị trước năm 1975. Đă bao lần anh muốn
bảo lănh cụ ra nước ngoài, nhưng cụ nói
với nhà tôi:
- «Trước kia
đại sứ Martin năn nỉ, yêu cầu chú đi,
chú đă từ chối. Bây giờ đời nào chú lại
xin chính quyền CS để được đi ».
Những lần
đi thăm bịnh sau của nhà tôi, cụ tâm sự
nhiều hơn về những vui buồn trong cuộc
đời tham chính của cụ. Cụ luôn nhắc
đến tên của những người mà cụ
đặc biệt quư mến như bác sĩ Bạch Đ́nh
Minh. Cụ ngậm ngùi kể:
- « Bác sĩ Minh là
một người mà chú rất quư trọng. Hồi
trước chú thấy bác sĩ Minh đi khám bịnh mà
không có đồng hồ đeo tay. Chú mua tặng cho bác
sĩ Minh một cái, nhưng đeo được vài
tuần, bác sĩ Minh đem trả lại chú. Chú thấy
bác sĩ Minh phục vụ trong quân đội hết ḷng
tận tụy và giàu tinh thần trách nhiệm, chú
đề nghị lên tổng thống Thiệu
tưởng thưởng "Bảo quốc huân
chương" cho bác sĩ Minh. Bác sĩ Minh từ
chối không nhận viện lẽ ông đang làm việc
ở chỗ an toàn, xin dành huy chương ấy cho
những người xả thân chiến đấu, hy sinh
xương máu cho đất nước ».
Một lần khác
cụ hỏi nhà tôi:
- Con có biết bác
sĩ Trần Lữ Y không?
Nhà tôi thưa:
- Bác sĩ Trần
Lữ Y dạy con môn Nội Khoa ở trường Y khoa.
Cụ Hương
tâm sự:
- Hồi
trước bác sĩ Hoa Kỳ sang đây khám bịnh cho
chú, họ đề nghị đưa chú sang Hoa Kỳ
chữa bịnh. Thằng Trần Lữ Y đi theo chú, xin
lỗi con, chú gọi bác sĩ Trần Lữ Y bằng
"thằng", v́ chú thương nó như con chú vậy.
Khi máy bay ghé Manille, suốt mấy hôm chú ăn không nổi
đồ ăn của họ, nên bác sĩ Trần Lữ Y
phải ra phố kiếm thức ăn mua về cho chú.
Gần đây chú nghe có người nói bác sĩ Trần
Lữ Y qua đời bên Pháp v́ bịnh ung thư, có đúng
như vậy không?
Nói tới đây,
cụ im lặng hồi lâu như nén sự xúc động.
Mấy tuần sau, nhà tôi được tin bác sĩ
Trần Lữ Y vẫn c̣n khỏe mạnh ở bên Pháp và có
pḥng mạch tư, gần với pḥng mạch của bác
sĩ Phạm Tu Chính. Nhà tôi vội vàng ghé lại thăm và
nói cho cụ Hương biết tin thật về bác sĩ
Trần Lữ Ỵ. Nghe xong,
cụ Hương nắm lấy tay nhà tôi mà chẳng nói ǵ.
Hai gịng nước mắt từ từ lăn trên má
cụ.
Mặc dầu
sức khỏe cụ Hương lúc đó đă sa sút
nhiều, đi đứng khó khăn, dầu chỉ vài
bước cũng cần cây gậy. Bên cạnh
giường ngủ có gắn một cái chuông điện,
trên bàn luôn có một cái chuông nhỏ để khi cần
người nhà, cụ lắc bằng tay. Nhà tôi thán
phục cụ có trí nhớ đặc biệt. Cụ có
thể nhớ nguyên văn câu nói của từng
người, ngày tháng, giờ giấc của sự
kiện đă xảy ra. Cụ không quên từng chi tiết
nhỏ. Có lần cụ chia xẻ với nhà tôi rằng:
- Chú nghĩ
người làm chính trị phải có giáo dục và
đạo đức. Khi tham chính tất nhiên chú chấp
nhận có phe đối lập, nhưng dầu khác lập
trường, chú vẫn luôn luôn tôn trọng họ. Có
một dân biểu trẻ tên là [xin giấu tên], trong một
buổi họp quốc hội, đă đứng lên
đập bàn, chỉ vào mặt chú nói những lời vô
lễ [xin không ghi lại câu vô lễ nầy]... V́ dân
biểu nầy đáng con chú. Chú buồn và tiếc cho
người làm dân biểu mà không biết đến
chữ "lễ", không tỏ ra có tư cách của
người học thức, chớ không buồn về
lập trường đối lập của họ.
Một hôm
đến thăm cụ, nhà tôi thố lộ với
cụ rằng "sớm muộn ǵ con cũng phải ra
đi". Chuyện ra đi không biết khi nào mới thành
công, nhưng không bao giờ con bỏ ư định đó.
Chẳng phải v́ miếng cơm manh áo, hay sự cực
khổ mà phải bỏ quê hương. Nhưng v́ cuộc
sống lúc nào cũng thấy bị đe dọa, thiếu
an toàn, ngủ một đêm thức dậy có thể
bị bắt v́ bất cứ một lư do viển vông nào.
Nghe nhà tôi nói, cụ Hương trầm ngâm một hồi
lâu mà không nói ǵ. Măi một lúc sau, cụ thở dài chép
miệng:
- «Có lẽ chú làm
không đúng khi ra lịnh ngăn người ta ra khỏi
nước trong những ngày hỗn loạn ».
Lúc nhà tôi từ giă cụ
ra về, cụ ôm hôn nhà tôi và nói:
- Chú
gặp con muộn quá!
Vào tháng 4
- 1981, tôi đạp xe đưa nhà tôi đi vượt
biên lần thứ 13. Trước khi đi, nhà tôi có
đến thăm cụ lần cuối. Biết cụ
rất buồn, nhưng cụ giấu kín t́nh cảm
để người đi bớt vướng víu.
Một tháng sau đó, tôi cũng rời Việt Nam đi
Mỹ theo diện đoàn tụ gia đ́nh do anh chị tôi
bảo lănh. Một ngày trước khi đi, tôi đạp
xe trở lại đường Phan Thanh Giản,
đứng một ḿnh bên chiếc cổng sắt. Giữa
một niềm vui khi sắp sửa thoát khỏi cảnh
đời vô vọng, tăm tối, và một nỗi
buồn khi biết rằng ḿnh sẽ mất bao nhiêu
gắn bó thân thuộc khi ĺa khỏi nơi đây. Cụ
Hương vẫn là h́nh ảnh làm cho ḷng tôi se thắt, là
một cánh sen nổi trên ḍng nước đang giao
động của tâm hồn tôi.
Khi
ngồi viết những ḍng nầy, sau một thoáng suy
nghĩ, tôi đă cắt bỏ những đoạn sau
để khỏi đưa đến những ǵ gọi
là cuối câu chuyện.
Những phần không được
viết ra, xin độc giả hăy coi đó là một nén
hương trầm mà người viết muốn thành kính
đốt trên bàn thờ cụ Trần văn Hương.
Một người quốc gia, một nhà nho giàu ḷng yêu
nước, sống và chết trên ḍng sinh mệnh điêu
linh của dân tộc.
Phan
Cẩm Anh
Nguồn : Đặc San Trường Trung
Học Mỹtho 1997 / Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh
Trung Học MỹTho (Canada)