TƯỞNG NHỚ THẦY

 

Phạm Văn Trọng

 


Mỗi khi tưởng nhớ Giáo Sư Trần Văn Hương, tôi có một ân hận vô cùng là ngày Thầy từ trần, tôi không có mặt trong ḍng người tiễn đưa linh cữu của Thầy đến nơi thủy tán, để đi vào ḷng nước sâu rộng bao la Thái B́nh Dương như lời Thầy dặn.

Hai lần làm Đô Trưởng, hai lần làm Thủ Tướng, một lần làm Thượng Nghị Sĩ, rồi đến Phó Tổng Thống và Tổng Thống, đạo đức của Thầy, đa số đồng bào đă biết đến. 

Năm học 1925-26, tôi học Việt văn với Thầy, lớp năm Thứ Hai (2ème Année) tại Collège de Mytho. Cuối tháng chạp âm lịch, giữa buổi học chiều, th́nh ĺnh nổi lên một tiếng nổ vang rền trời đất, nhà trường rung chuyển, người người hoảng hốt, nhôn nháo. Lát sau, người ta biết được lư do: một người giúp việc nhà bếp cà thuốc pháo để dùng trong dịp Tết sắp đến, thuốc pháo bổng nổ. Thảm thương cho người ấy chết ngay tại chỗ, thân thể tan nát. Đến buổi học chót, cả lớp tưởng niệm nạn nhơn.

Trước giờ tan học, Thầy đọc cho nghe một bài thơ Ông làm thuở c̣n đi học.

Cảnh nghèo khi Tết đến.

Pháo nổ đùng đùng! Ḱa ủa Tết!

Năm tàn tháng lụn mà không biết.

Xây quanh mảng tuỡng cửa nhà nghèo,

Rốt lại không hay ngày tháng hết.

Áo lảnh quần hàng mặc khách vui,

Ṇi cơm thúng gạo lo ḿnh mệt.

Say sưa ngă ngớn nọ ai cười,

Nghĩ nỗi riêng ḿnh thêm muốn chết.

Chẳng biết v́ sao từ ngày nghe Thầy đọc bài thơ này đến nay đă hơn 70 năm mà tôi c̣n nhớ, mặc dầu sau cơn bị ở tù (tù cộng sản) mà không biết năm nào, ngày nào được thả, những bài tôi thuôc làu trước đây gần như quên hết, như: Le Lac (Lamartine), Le lever du soleil (J.J. Rousseau), Le crépuscule (Victor Hugo) và các bài ca trù của Nguyễn Công Trứ.

Năm học 1926-27, tôi phải học lại lớp Năm Thứ Hai, v́ biến cố đêm 25 rạng 26-4-1926, mà tôi đă thuật lại trong một bản tin trước đây của Hội Ái Hữu Nguyễn Đ́nh Chiểu & Lê Ngọc Hân Mỹ tho. Thầy cũng dạy Việt văn lớp tôi. Trong lớp có hai anh nỗi tiếng về Việt văn là anh Nguyễn văn Lâu và anh Nguyễn văn Lắm. Kỳ thi luận văn đầu tiên, Thầy ra đề: «Đêm khuya, từ cửa sổ, ngắm cảnh trăng tṛn». Nếu viết văn xuôi, chắc chắn tôi sẽ thua điểm hai anh này. Do đó, tôi làm thơ viết theo điệu thượng lục hạ bát lại kèm theo một bài thất ngôn bát cú. Đến ngày trả bài thi, Thầy cho biết Lâu, Lắm và Trọng đều được 16 điểm trên 20. V́ ba người có điểm ngang nhau nên Thầy chầm chậm xem lại ba bài rồi lên tiếng: Trọng cố gắng nhiều, em được cho thêm nửa điểm. Như vậy, tôi được xếp hạng nhứt về luận văn. Măn giờ, hai anh kia nói với tôi: Thầy thương mầy quá Trọng ơi. Hai anh đều lớn tuổi hơn tôi và đă học lớp Nhứt ban tiểu học trước tôi. Sau đó tôi theo kịp họ.

Xin ghi lại đây bài thơ thất ngôn bát cú của tôi.

Đêm khuya dựa cửa ngắm hằng nga,

Sắc thắm hương nồng dải cỏ hoa.

Sương đượm đầu cây dường ngọc dậm,

Ánh ḷa mặt nước tự vàng pha.

Nỉ non hơi vạc xen hơi gió.

Dắng dỏi tiếng ve lẫn tiếng gà.

Trách bấy đám mây sao cắc cớ,

Nguyệt đang tỏ rạng lại chường qua.

Bài thượng lục hạ bát, tôi chỉ c̣n nhớ một vài câu chót như sau.

... Trăng tṛn ơi hỡi trăng tṛn,

Cao thanh trăng có xét ḍm trần ai.

Trần ai chen chút người người,

Ai người khả ái ai người khả khinh.

Năm học 1927-28, tôi học lớp Năm Thứ Ba. Lớp tôi và lớp Năm Thứ Hai A học chung mt pḥng học tập. Hai lớp cùng tổ chức một tờ báo viết tay. Ai sáng tác nấy viết, hai tuần ra một tờ, gồm nhiều mục như báo ngoài xă hội. Tôi lănh mục Văn Uyển, cùng với em tôi là Phạm văn Toán. Năm trước Toán học lớp Năm Thứ Nhứt A, được Thầy xác nhận là rất khá Việt văn.

Có lần Thầy ra đề trong lớp: Tả cảnh chiều hôm ở thôn quê. Toán viết một bài thất ngôn bát cú về đề tài này, tôi xin ghi lại sau đây.

Lần lữa non tây bóng ác tàn,

Con chim trở cánh đáo hà phong?

Hoa tuy khoe sắc hoa xào úa,

Lúa dẫu gật đầu lúa héo gan.

Quạt gió lẫn đưa hồn Thục Đế,

Đường truông gợi nhớ bước Lưu Ban.

Chuông chùa vang tiếng chê người thế,

Rằng tỉnh rằng mê giấc mộng tràng.

Thầy cho điểm tốt bài này và sửa câu trạng sau lại là:

Ḍng sông đường chở hận Trưng Vương.

Chúng tôi ngầm hiểu ư chí của Thầy đối với quê hương.

Tết sắp đến, Ông bảo mổi anh thử đặt một đôi câu liễn để dán nhà. Toán viết:

Sân ḥe quế mọc đầy, dễ khiến sạ đầy bầu vũ trụ,

Cửa kinh luân mở rộng, để cho xuân rộng bước càn khôn.

Thầy sửa lại:

Sân ḥe quế mọc đầy, đông vừa qua, thơm mực mùi hương trong vũ trụ,

Cửa kinh luân mở rộng, xuân mới đến, nổ rền tiếng sấm giữa càn khôn.

Thầy khen câu đối của Toán có chí khí, tin tưởng Toán sẽ có tương lai tốt. Tuy nhiên, Ông sửa lại câu đối mấy chữ «Xuân về sấm nổ» là biểu hiện thi đậu cao. Thật vậy, vào năm 1940, để khuyến dụ người ḿnh, Pháp cho mở một cuôc thi cao cấp hành chánh (Rédacteur des Services civils) cho những người có bằng cử nhơn hoặc tương đương, tại Hà Nội. Toán ra Hà Nội dự thi, đậu cao, với lời ban khen của ban Giám Khảo mà chủ tịch là Phó Toàn Quyền Đông Pháp và phụ tá là Thạc Sĩ Phạm Duy Khiêm. Được tin này, Thầy quá đổi vui mừng. Sau đó, Toán làm việc và lănh lương theo ngạch người Pháp mặc dầu vẫn là người Việt.

Năm học 1928-29, tôi học lớp năm Thứ Tư. Có hai vị phục vụ tại văn pḥng nhà trường, giỏi chữ Hán, mặc áo dài đen, thỉnh thoảng cùng Thầy xướng họa. Một dịp nọ, cả ba và một nhóm bạn thơ ngoài trường cùng nhau họa một bài thơ của một bà lấy Tây nào đó, rồi cùng nhau chấm điểm: mỗi câu được từ 1 đến 5 điểm. Thầy được điểm cao nhứt. Hai vị kia cố làm bài lại để sánh lại với bài của Thầy. Tôi nhớ trọn bài của Ông và hai câu của mỗi vị kia.

Bài của Thầy

Cái giọng Đông Tây đó dẫu từng,

Cành hoa cuối tiết há c̣n xuân.

Dựa hơi cửa thế may dầu vậy,

Lên tiếng nhà sang tưởng cũng đừng.

Êm ấm mừng khi son vẽ mặt,

Xây vần e lúc nước kề chưn.

Dưới trần những kẻ vong căn bổn,

Là lớp mang lông nới đi sừng.

Hai câu đầu của vị thứ nhứt:

Nguồn chưa trăi, ci chưa từng,

Hớp gió Tây rồi phụ gió Xuân.

Hai câu đầu của vị thứ nh́:

Rông hẹp nữ nhi thật chửa từng,

Để con chim khách chủ vườn xuân.

Thật ra, vị thứ nh́ là thầy gát lớp của tôi, năm Thứ Tư. Viết tới đây, tôi c̣n nhớ lại rơ ràng bộ tịch của thầy ấy đi qua, đi lại trước anh Lắm và tôi cùng ngồi một bàn hàng đầu, đọc đi, đọc lại bài ḿnh, cho rằng câu thứ hai của ông là tuyệt diệu.

Trong suốt mấy năm học ở Collège de Mytho, theo lời Thầy dặn, thỉnh thoảng mấy học tṛ quê ở Vĩnh Long và tôi có ghé thăm Ông. Nhờ đó, tôi được biết Thầy thích: uống trà ngon, đánh cờ tướng, đi bắn chim, câu cá, đi chài lưới về đêm, đi chơi ở thôn quê.

Có lần một người quen nhiều ở Vĩnh Long ghé nhà nhờ Thấy giúp cho đứa con thi vào trường. Ngày đăng kết quả, cậu con được chấm đậu. Kế đó, môt hôm lúc Thầy đi vắng, người ấy đến cám ơn Ông, gởi lại một bao thơ dán kín, rồi lật đật ra về, sợ trể tàu. Lát sau, Thầy về, xé thơ, thấy có tiền, tức tốc đạp xe ra bến tàu. Tàu vừa rời bến. Ông vừa ngoắc vừa kêu lớn cho tàu trở lại. Tin là khách đi trể, tàu cập bến lại. Thầy nhảy xuống, hoàn bao thơ lại cho người quen bảo: cháu tự nó đậu chớ không có ai giúp nó, rồi nhảy lên bờ.

Tháng 9 năm 1929 sau khi ra trường, tôi dạy học tại trường tiểu học Cai Lậy. Tháng 1 năm 1932, tôi cưới vợ và vẫn ở chung với cha mẹ tại Hi Sơn, làng nhà. Tháng 9 năm 1933, tôi dọn ra ở riêng tại một căn phố mướn gần dinh chủ quận Cai Lậy. Sáng bữa nọ, tôi từ trong nhà đi ra, chợt thấy một ông mặc quần vắn, tay cầm súng hơi, đi thụt lùi nhắm bắn chim trên cây điệp cạnh nhà tôi. Nhận ra là Giáo Sư Trần Văn Hương, tôi mừng quá, la lên: Thầy, Thầy... Tôi mời Thầy vào nhà rồi pha trà để tiếp ông. Tôi giới thiệu vợ tôi. Thầy rất vui khi được biết vợ tôi là em gái út của anh Lắm, người bạn học cùng lớp với tôi năm xưa. Hai bạn học thân trở thành anh vợ, em rễ. Tôi cũng tŕnh bày thêm vài sự việc để Thầy rơ...

 

Phạm Văn Trọng (Collège de Mytho 1925-1929)

Đặc San Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Nguyễn Đ́nh Chiểu-Lê Ngọc Hân (California)