TRĂNG MỘNG CỦA SƯƠNG MAI
Nguyễn Vy-Khanh
Trăng
vốn là hình ảnh muôn đời của giai nhân: Hằng
Nga từ khi rời bỏ thế gian đã không còn là riêng
tư chú Cuội, đã trở thành mộng mị và tri
kỷ của những kẻ cô đơn và của
những nhà thơ. Lý Bạch ngày xưa say mê đến
nỗi nhảy ôm trăng để chết đuối.
Trăng cũng là giấc mơ, là mộng mị của
con người chưa trọn, chưa thoả mãn. Và
trăng cũng còn là hình tượng thi ca rất
thường gặp. Hàn Mặc Tử đã nhiều
lần lạc lối vườn mơ với trăng
với tình; nhà thơ đã nhân cách hóa trăng thành
người tình: "Trăng nằm sóng xoãi trên cành
liễu / Đợi gió đông về để lả
lơi (...) Ô kìa bóng nguyệt trần truồng lắm /
Lộ cáo khuôn vàng dưới đáy khe". Đến
gần hơn thì: "Người trăng ăn vận
toàn trăng cả / Gò má riêng thôi lại đỏ
hườm / Ta hẵng đưa tay choàng trăng đã /
Mơ trăng ta lượm tơ trăng rơi..." (Say
Trăng). Hay "Hôm nay có một nửa trăng thôi /
Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi / Ta nhớ
mình xa thương đứt ruột / Gió làm nên tội
buổi chia phân"(Một Nửa Trăng). Trăng
biến thành "mình", rồi hòa nhập thành "ta":
"Cả miệng ta trăng là trăng" (Một
Miệng Trăng). Họ Hàn
muốn phân thân và nhập vào trăng như một hiện
tượng thiên nhiên hay một cao cả lắm khi không
với tới!
Với
Sương Mai, qua tập Trăng
Mộng xuất bản đầu năm 2000, trăng là
người tình, là chính tình yêu. Nay chính miệng nhà thơ,
một người nữ, tình tự với trăng. Trong
bài Trăng Mộng mở đầu tập, nhà thơ
ngỏ lời mời gọi trăng đến/vào
để trao đổi tâm tình, mà tâm hồn thì đã
rộng mở:
"Tôi ngả
lưng chờ đợi đã lâu rồi
Chăn gối
lạnh cho đầy vơi nước mắt...",
"Hãy âu
yếm, ôm choàng tôi thật chặt
Tôi sẽ
cười thật tình tứ với trăng
Sẽ lả
lơi không quyến rủ nào bằng
Nghiêng tóc xõa,
khỏa thân trần mộng mị...",
rồi "Tôi âu yếm hôn vầng trăng dấu
ái
Môi này đây,
trăng hãy đến kề môi
Cho tình tôi bên
gối mộng đầy vơi
Cho ánh mắt
thêm dại khờ, ngây ngất"
Thật tình
tứ ngôn ngữ của tình yêu dù có hơi hướm
nhục cảm. Tình như rất thật và có "xiết
vòng tay đừng giây phút buông lơi" đấy,
nhưng trăng vẫn chưa đến, dù người
thơ đã sẵn sàng, đành cứ mãi chờ. Một
mời gọi thật nữ tính, thật quyến rũ.
Đến câu cuối mới biết là mộng! Khác ngày
xưa, người kỹ nữ của Xuân Diệu sợ
đối đấu một mình với trăng, đã
phải "lả lơi" mời viễn khách ở
lại với nàng:
"... Em
sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo
Trời
đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da
Người
giai-nhân: bến đợi dưới cây già;
Tình du khách:
thuyền qua không buộc chặt..."
(Lời Kỹ
Nữ).
Lời mời
gọi của Sương Mai nghe như gần gũi và
thật hơn, hình như người thơ có mong, có tha
thiết đợi chờ, bên thềm trăng nỗi lòng
mãi chơi vơi, rộn ràng đến phải tự
hỏi:
"... Bên
thềm trăng vung vãi
Những ánh
vàng rớt rơi
Có phải
trăng thừa thãi
Nên bóng
đổ nơi nơi?"
(Thềm
Trăng).
Đến
với trăng, với ánh sáng, thật ra con người
muốn tìm về bóng đêm, cõi âm, cõi dịu, mềm.
Trăng đây đã thành người bạn mà cũng là
ánh sáng, là chốn để về, là nơi trú ẩn khi
bị thương tích, khi thiếu thồn, kiếm tim, là
sợi dây ràng buộc con người với thiên nhiên, ngoại
cảnh. Trăng đã để dấu ấn nơi
người nữ - trăng với phái nữ tự nhiên
hơn chăng? Với Sương Mai, "Trăng thuở
xưa ơi, trăng của ta..." do đó "Ta
nhớ vầng trăng thuở ước mơ / Ra đi
từ đó đến bây giờ... / Trăng ơi,
trăng có còn quay lại? / Để ướp tình ta
một chút thơ!" (Trăng Xưa).
Sương Mai
đến với trăng vì nhà thơ muốn có trăng
trong cuộc sống, để nhà thơ ca tụng tình yêu.
Tình yêu ở đây là một kiếm tìm không ngừng, không
bao giờ thỏa mãn! Thật vậy, tình yêu trùm khắp
cả tập thơ, tình yêu ở cả bốn mùa, hết
mọi ngày tháng và hết mọi thời khắc của
ngày lẫn đêm. Tình yêu đã như men, một thứ men
tình, có sẵn nơi người đa cảm, vì trong
thơ Sương Mai không có rượu, men ngoại
nếu có là men cà phê trong nhiều hoàn cảnh, buổi sáng:
"Ly cà phê đắng sáng nay / Hình như pha chút tỉnh ai
ngọt ngào" (Ly Cà Phê Buổi Sáng), hay buổi chiều:
"Ly cà phê thật đằm thắm hương yêu /
Ngồi nhìn nhau trong êm ả buổi chiều..."
(Nếu).
Tình yêu là
một kiếm tìm, nhà thơ cứ hỏi rồi tự
hỏi "tình yêu ở đâu?", tìm cho nên
sử-dụng đến "tặng vật" vẫn
sợ chối từ, đến cả đăng
báo:"... Sáng nay tôi đến nhờ nhà báo / Tìm lại
người yêu dấu thuở nào / Tìm lại mối tình
thơ mộng cũ / Số phone đây, gọi ... nếu
thương nhau!" (Nhắn Tin), hoặc qua trung gian
luật sư: "... Luật sư ơi, tôi ngó về quá
khứ / Khuôn mặt nào
lồng lộng giữa trời hoa / Tôi rưng rưng lau
dòng lệ xót xa / Nên tìm đến, nhờ luật sư bào
chữa!" (Hãy Nói Dùm Tôi). Yêu nên không từ chối cả
lá bùa: "Giá mà / Em có lá bùa yêu,/ Em sẽ tìm đủ cơ
hội / Em sẽ lén bỏ vào bên trong chiếc gối /
Để đêm đêm trước giấc ngủ / Anh
chỉ nhớ có ... em ..." (Lá Bùa Yêu). Hoặc chọc
ghẹo người và nghịch ngợm với tình:
"... Như con Hồ Ly đã đọc xong câu thần
chú / Em sẽ phà vào anh, hơi thở ngải hương /
Em nhất định bắt mất hồn anh / Kể
từ hôm nay / Và mãi mãi sau nầy ..." chỉ vì
"Mỗi khi gặp anh, / Em như người ngộp
thở ...(...) Cái nhìn... đã để lại trong tim em /
một tì vết, không lành..."
(Đọc Câu Thần Chú).
Người
nữ yêu nên đã liều: "Như con thiêu thân lăn
mình vào lửa đỏ / Em điên cuồng nhảy xổ
vào anh / Không cần biết tương lai, quá khứ / mỏng
manh... / Cứ nhắm mắt ước mơ, / Cứ mù
lòa mê đắm..." (Con Thiêu Thân). Và mê lú như uống
phải độc dược: "Hình như anh bỏ vào
ly cà phê em / Những bùa mê, thuốc lú... / Hình như anh
bỏ vào ly nước chanh em / Những cuồng chất
nhớ thương..." (Độc Dược).
Nói yêu là nói
đến đợi chờ, chờ người, chờ
thư, chờ email - tình cũng theo thời, và chờ
đến tháng tận năm cùng:
"Hôm nay tháng tận, năm cùng / Em còn ngơ ngác
giữa khung trời buồn / (...) Ngày qua anh nhỉ ngắn
dài? / Mà em chờ mãi, nào hay năm tàn" (Cuối Năm);
"... Mong mãi bóng người không hẹn đến /
Rồi mang hư ảnh lộng vào thơ..." (Lá
Thư). Nhung nhớ thành tương tư:
"Thư
đã đọc rồi sao vẫn thiếu?
Có gì trong
nắng, gió hôm nay?
Ai đem
hương nhớ hòa trong
nắng
Tỏa
xuống lòng em nỗi nhớ ... ai..."
(Hương
Nhớ).
Trót yêu, yêu qua
thành ghét: "Ghét người, ghét quá làm sao / Đã ghét cái
mặt, còn chào mà chi? / Lặng yên không nói năng gì / Ngó
lơ mặc kệ ai đi, ai về ... / (...) Ghét
người cho nắng thôi vàng / Mặc con bướm
chết vội vàng đêm qua / Để tôi ghét mãi
người ta / Để cho cay đắng bay qua góc
chiều ..." (Ghét). Để rồi ghen cấm
đủ chuyện:
"Con
đường anh đã đi qua với em
Em cấm anh,
không được bước đi với ai khác
Dù cỏ hoa có
nở đầy thơm ngát
Dù phong cảnh
có hữu tình (...)"
(Cấm Anh).
Thiên nhiên
cũng thay đổi theo cảm tính con người:
"... Phượng tím bây giờ lại trổ bông / Ngày
xưa phượng tím sắc pha hồng / Phượng nay
ủ rủ màu xanh tím / Phượng nở sao tôi nát cõi
lòng?" (Phượng Tím Năm Nay). Có thất tình thì
cũng có những phản ứng ngược, hết yêu
thì cũng có thể lạnh lùng khi cần: "... Thưa
ông, tình có đâu nhiều? / Tôi đem hoang phí bấy nhiêu
đủ rồi / Chào ông, tôi nhún vai. Cười / Chúc ông
vui mãi với đời ... bướm ong" (Chào Ông). Lạnh
lùng một cách khô cứng khi người cũ gọi
điện thoại, mới đó đã ra người xa
lạ: "... Dạ thưa ông, hãy im đi đừng nói
/ Ông đã lầm, tôi không phải người xưa / Ông
làm ơn đừng lên tiếng phân bua / Đừng nói
nữa thưa ông, ông ... lầm số!" (Lầm
Số). Giận quá làm thơ lục bát bắt đầu
bằng câu ... tám và cố tình (!) sái luật bằng:
"Bướm bay... kệ bướm, hoa nở... kệ
hoa! / Bởi vì tôi giận người ta..." (tr. 209).
Tàn nhẫn
trở thành hậu quả của tình yêu: "Rồi em
sẽ dùng phép phù, phù thủy / Để một lần mang
anh trở lại ra khơi / Em sẽ tận mắt nhìn anh
chìm giữa ngọn sóng chơi vơi / Em sẽ
cười lên lanh lảnh những chuỗi cười /
Chuỗi cười ... phù thủy" (Tiếng
Cười Phù Thủy). Đòi nhận chìm chết
người mà cứ xưng "em", ngán ngẩm
thật! Hoặc nhà thơ đã bất nhẫn bỏ,
đã bỏ mà còn phải năn nỉ "... Thôi nghe
đừng hờn em thêm / Để em xin hứa bắt
đền kiếp sau" (Năn Nỉ). Đền
kiếp sau thì cũng như không, mâu thuẫn thay con tim!
Nàng trăng
rồi cũng phôi pha, cũng bạc trắng với
thời gian:
"... Nửa
đời se sắt vì nhau
Nửa
vầng trăng bạc, úa màu nửa khuya
Nửa đêm
lệ rớt đầm đìa
Nửa ôm
gối mộng, nửa lìa cõi mơ
Nửa lòng ai
gửi vào thơ?
Nửa chung
thủy, nửa lững lờ lướm ong!"
(Nửa).
Kiếm tìm tình
yêu, tức bỏ đi, đi xa, có thể tìm thấy
hạnh phúc thì làm sao không khỏi có lúc lạc
đường hay thất vọng. Thất vọng
với tình nhưng người bạn đường dù
"Trái Tim Bằng Gỗ" vẫn luôn ở bên nhà
thơ: "... Hình như anh không bao giờ biết khổ
/ (...) Tôi trở về, rươm rướm máu trái tim...
/ Thật khẽ khàng anh nói: nín, nín đi em! / Anh không
biết nói gì, / Bởi trái tim anh bằng gỗ!..." (tr.
262-3). Trọn đời, thời gian, tình già,... toàn
những ám ảnh: "Em vẫn đẹp mà, phải
thế không? / Đừng anh, đừng nói má thôi hồng
/ Đừng anh, đừng nói da em nhạt / Đừng
nói nếp nhăn đã chất chồng..." (Tình Già). Ám
ảnh lớn: tình yêu còn không: "Cho rằng em có già
đến đâu đi nữa.../ Nhưng chắc em
cũng chưa già đến đỗi.../ Để không
còn vui sướng khi nghe anh nói: - Anh vẫn yêu em!"
(Lời Vợ). Lắm lúc người thơ tìm về
với một đấng thiêng liêng "Thánh Giá là niềm
vui / Giáo đường là tổ ấm" (tr. 66). Nhà
thơ than thở:
"... Lòng con
từng mảnh tơi bời
Tim con rách nát
Chúa ơi, vá dùm!
Hồn con và
xác run run
Vịn cây thánh
giá, quỵ cùng đau thương ..."
(Vịn Cây
Thánh Giá).
Trăng Mộng còn là thơ
về quê hương, Cần Thơ, với những
cảnh cũ như cây phượng vĩ (tr. 68), những
cố nhân (tr. 95, 158), những tình xưa (tr. 99); nhưng
với người đi xa thì cảnh nhẹ hơn
người và người cũng nhẹ hơn tình yêu
kiếm tìm! Sương Mai mãi đắm mê với tình,
với thơ, nhưng nếu các bài trong tập Trăng
Mộng được sắp xếp theo thời gian sáng
tác thì càng về cuối tập, cảm xúc và thi hứng
đằm thắm hơn! Tình yêu ở đây không là
những non dại bồng bột của Nguyễn Tất
Nhiên, cũng không bi đát như T.T. Kh. Trong Trăng
Mộng, tình chín hơn, đa dạng mà cũng đa
lời, lắm ví von, giả thử,... nhưng có cái
tận tâm như mọi cuộc tình!
Ngoài một
số tứ thơ cũ thường thấy ở
nhiều nhà thơ như sơn khê, chân mây, trang giấy
mới, áo mới,... Sương Mai có những ý thơ riêng
như "Mặc ai đem nắng rải đầy trong
sương" (tr. 186), đánh rơi thời gian: "Tôi
đánh rơi buổi sáng / Trên kẻ tay ơ hờ..."
(tr. 281), cứ thế buổi trưa, buổi tối, hôm
qua và hôm nay; hình ảnh một nửa "... Nửa
vời, nửa tục, nửa tiên / Nửa đau nỗi
nhớ, nửa điên nỗi sầu..." (Nửa).
Hoặc hình ảnh theo thời sự như "...El Nino
đến tiêu điều (...) Tình yêu, cơn bão Nino ... muôn
đời" (tr. 38). Tỏ tình qua trung gian luật sư
như đã trình bày ở trên. Mong đợi tình cũng
lắm, mà trốn chạy cũng nhanh, như đã tìm ra
chân lý: "Tôi bỏ người, tôi chạy rất xa (...)
Tôi bỏ người, tôi chạy ... hụt hơi..."
(tr. 291).
Thơ Trăng Mộng có hồn,
đầy nhạc tính, ý tình thì linh động, nghịch
ngợm lắm khi, nhà thơ giàu lời - cả lắm
lời, khi tỏ tình cũng như thất tình: "Ví
dầu, ví dẩu ví dâu... / Bướm bay bỏ lại
nỗi sầu cho hoa..." (tr. 247). Những vần thơ
hay có thể kể:
"Anh
hỡi, mùa thu như dáng ai
Mơ màng
đôi chiếc lá lung lay
Lòng em: con sóc
trên cành lạ
Mơ
ước một lần có cánh bay
Anh hỡi, mùa
thu mây khói vương
Đêm qua
mơ thấy bóng người thương
Vẫy tay
gọi nắng về cho gió
Sao lại
tặng em một nỗi buồn?"
(Tình Thu);
"... Nếu
một mai rất dịu dàng anh nói
Tiếng yêu em
bằng rất đỗi thật thà
Bằng trái tim
đầy ắp những thiết tha
Em sẽ khóc
trong niềm vui tao ngộ
Nếu một
ngày mình dìu nhau qua phố
Ly cà phê
thật đằm thắm hương yêu
Ngồi nhìn
nhau trong êm ả buổi chiều
Tay đan
nhẹ, mình cần chi cấu nói?
(Nếu...)
Những câu
như-lục-bát nhẹ nhàng:
"... Mang
thơ ra giữa rừng hoa
Rải cho
thơ với ánh tà
huy bay
Nụ hồng
trong gió lắt lay
Mong thơ ra
khóc một ngày
âm u..."
(Lục Bát Trên
Ngàn)
Xen kẽ
những kỷ xảo về chấm câu, nhưng vần
vẫn xuôi một giòng thơ: "Tha thiết quá. Một
ngày xưa áo trắng / Cổng thời gian. Đinh đóng
giữa tim mình..." (tr. 85)
Sương Mai
nhiều lần tự định nghĩa, tự họa:
"... Sáng nay
sương ướt trên cành lá
Từng
giọt long lanh rớt xuống đời
Tôi
tưởng hồn tôi vừa rụng xuống
Mong manh thành
những hạt sương rơi..."
(Lá Thư)
Những
giọt mong manh, tế nhị và cũng thắm thiết
với người, với thơ:
"Giọt
sương có phải là tôi?
Hình như cùng
rớt xuống đời bơ vơ
Chờ
người níu áo đề thơ
Nào hay áo
lụa ơ hờ tàn phai..."
(Sương
Mai)
Đến bài
cuối tập, nhà thơ tự thán như đóng lại
cõi lòng, sau những rong ruổi với tình với thơ:
"Ba năm
lên núi tìm thơ
Bỏ quên thân
thế, tảng lờ áo cơm
Bây giờ
xuống núi bôn chôn
Gánh thơ
đã nặng, gánh buồn... nặng hơn"
(Tự Thán)
Sương Mai
là một trong những người mới bước vào
làng thơ hải ngoại nhưng đã liên tục và trung
thành với thơ, một người có tình, có lòng với
thơ. Nhà thơ đã cất bước đi từ
tiếc nuối (Thoảng Chút
Hương Xưa) đến tình (Thơ Tình Sương Mai) rồi nay là mộng (Trăng Mộng), và mộng
vẫn là tình, là thơ, như một nhu cầu sống cho
hiện tại. Trăng với Sương Mai đơn
sơ là người tình, là bóng mát, là nồng nàn tình yêu.
Trong những dòng thơ Việt hải ngoại, riêng
thơ tình yêu không có chung quan trọng như trước nay
vì thơ Đạo, thơ chống Cộng, thơ kỹ
thuật, thơ thù tạc,...
hình như chiếm nhiều chỗ, nhiều diễn
đàn! Ngày nào con người sống mà còn cần đến
tình yêu thì ngày đó còn thơ tình, còn mộng còn trăng và
hình như những nhà thơ tình thoải mái với thế
giới và hạnh phúc mà họ tạo nên với thi ca.
Thế giới và hạnh phúc mà các nhà khoa học và con
người nói chung phải mất nhiều thử
nghiệm và thời gian mới tìm ra mới dám chắc!
Sương Mai qua Trăng
Mộng đã xác nhận nhà thơ đã tìm ra cái thế
giới của riêng mình và ở đó hy vọng nhà thơ
đã tìm thấy hạnh phúc!
Nguyễn Vy Khanh
15-4-2000