LỆ KỲ YÊN
Đ̀NH ĐIỀU H̉A
MỘT SẮC THÁI
VĂN HOÁ VIỆT NAM
Vơ
Thiện Hiếu
Hằng năm cứ vào
các ngày 16, 17 và 18 tháng 2 cũng như tháng 10 Âm lịch,
đ́nh Điều Ḥa thuộc phường 2 thành phố Mỹtho
đều có tổ chức Lệ Kỳ Yên c̣n gọi là lễ
Hạ Điền tháng2 hoặc Thượng Điền
tháng 10 gọi nôm na là lễ cúng đ́nh, đây là một
cuộc tế lễ mang bản sắc đặc trưng
của nền Văn hóa Dân tộc với các Hương
chức trong làng tổ chức cúng tế để cầu
cho Quốc thái dân an, thọ tỷ Nam San phước
như Đông Hải và cũng là dịp để dân chúng
có cơ hội đến để chiêm bái linh thần,
cầu linh thần phù hộ cho mua may bán đắc, gia cang
an lạc thuận ḥa
Đ́nh Điều Ḥa
thuộc Châu thành Mỹtho, tỉnh Định Tường
đă có từ hơn 150 năm nay và đă được
nhân dân địa phương trùng tu lại nhiều
lần thật nguy nga, đồ sộ, tráng lệ và là một trong những ngôi
đ́nh làng lớn nhất Việt nam hiện nay và được công nhận là Di
tích Văn hoá Lịch sử Việt nam.
QUÁ TR̀NH
THÀNH LẬP Đ̀NH
Theo lời kể của
cha tôi khi ông làm Chánh bái trong ban Hương chức của
đ́nh th́ vào thời tân lập dân làng Điều Ḥa
sống bằng nghề làm rẩy và chài lưới nên dân
làng có 2 cái Miếu để thờ cúng , đó là Miếu
Nam Hải và Miếu Thần Nông. Miếu Nam Hải th́
nằm ở khu xóm cá ngoài qua khỏi Bến Tắm
Ngựa do dân làng sống bằng nghề chài lưới
lập nên v́ lúc bấy giờ việc đánh bắt cá
rất thủ công và thô sơ mà phải đối
đầu với sóng to gió dữ và hằng năm
đều có người chết ch́m v́ tai nạn nghề
nghiệp, họ rất tin vào thần linh nên lập ra
miếu để thờ
thần linh như thần
biển, thần sông (Giang Thần và Hải Thần) và
đặt tên là miếu Nam Hải
C̣n tại xóm vườn
lài tức vị trí phía sau đ́nh bấy giờ, ngày
xưa rất rộng và hoang
vu, có một số người Tiều chuyên trồng bông
lài để ướp trà và cung cấp bông lài cho tiệm
trà Hiệp Phát c̣n đa số dân làm rẩy, làm vườn
như trồng chuối ,mía, rau hoa quả, bông hoa bán
Tết và khu vườn dừa cũng khá rộng. Nơi
nay có 3 cây dương thật to và rất linh thiêng nên dân
làng lập ra cái miếu cạnh 3 cây dương để
thờ Thần linh gọi là Miếu Thần Nông.
Măi cho đến năm
1904 do ảnh hưởng của cơn bảo năm Nhâm
Th́n, bờ sông Tiền bị sạt lở trầm
trọng gần tới Miếu Nam Hải nên dân chúng
địa phương quyết định di dời
miếu Nam Hải vào trong và sát nhập với miếu
Thần Nông làm một tọa
lạc tại số 101 đường Trịnh hoài
Đức - Phường 2 - thành phố Mỹtho - tỉnh
Định Tường nay là tỉnh Tiền Giang, kể
từ nay nơi thờ cúng này chính thức lấy tên là
Đ́nh Điều Ḥa.
Đến năm1913,
đ́nh Điều Ḥa được xây dưng rộng hơn và qui mô hơn theo
lối kiến trúc Á Đông có hàng rào song ciment chung quanh và
chính thức được khánh thành vào năm 1917.
Đến năm 1920 cất thêm cái vỏ-ca có sân khấu
giống như cái rạp hát để hát chầu (hát
bội) mỗi khi có cúng Lệ Kỳ Yên.
Qua những biến cố
lịch sử, vào thời Pháp thuộc, có một giai
đoạn đ́nh Điều Ḥa bị Pháp trưng
dụng làm căn cứ đồn
bót và trụ sở hành chánh của Thực dân Pháp kéo dài măi
đến năm 1943 mới trao lại cho chính quyền xă
Điều Ḥa quản lư. Đến năm 1954 khi hiệp
định Genève được kư kết th́ chính quyền
xă Điều Ḥa mới chính thức trả lại cơ
ngơi ngôi đ́nh lại cho dân địa phương và
dời văn pḥng xă về gần khu chợ Hàng bông, chỗ
bến xe cũ đối diện với cổng
trước cũ của trường trung học
Nguyễn đ́nh Chiểu Mỹtho làm Công sở Xă
Điều Ḥa.
Khi
c̣n nhỏ tôi c̣n nhớ ông Từ giữ đ́nh là
một ông người Bắc di cư, không rỏ có ai
biết tên thật và gốc gác ḍng họ của ông không, nhưng
chỉ biết ông ở có một ḿnh dân địa
phương thường gọi ông là Bảy Từ v́
ổng làm Từ , chức từ ở đ́nh
thường chỉ người có nhiệm vụ quét
dọn giữ ǵn đồ đạc và nhang khói trong
đ́nh hằng ngày. Kể từ ngày có ông Bảy làm
Từ, các khuông trang được ông chạm trổ
rất tinh vi và khéo léo v́ theo lời ba tôi kể th́ ông lúc c̣n
ở ngoài Bắc , ông làm nghề thợ mộc và chạm trổ rất khéo tay,
do vậy mà ngày nay những khuông bông trên bàn thờ có chạm h́nh rồng phụng và
hoa văn và được sơn son thếp vàng, chúng ta
đều không quên công lao của Ông Từ Bảy và sau
nhiều lần trùng tu sau này Đ́nh Điều Ḥa mới
được khang trang đẹp đẻ như ngày
nay.
VIỆC
ĐẶT TÊN GỌI CỦA Đ̀NH
Theo Gia phả của
Đ́nh Điều Ḥa,
dưới thời Pháp thuộc, miền Đông và miền
Tây Nam kỳ bị Pháp chia làm sáu tỉnh (Nam kỳơ Lục
tỉnh) gồm 3 tỉnh miền Đông và 3 tỉnh
miền Tây. Định Tường là một trong những
3 tỉnh miền Đông
Điều Ḥa là tên
gọi của một làng thuộc Tổng Thuận
Trị, huyện Kiến Hưng của tỉnh
Định Tường thời bấy giờ. Vào
đầu thế kỷ thứ 17 dưới thời Chúa
Nguyễn, người dân Việt từ miền Trung di
cư vào nay để sinh cơ lập nghiệp. Họ
định cư dọc bờ sông Tiền và sông Bảo
Định (một nhánh của sông Cửu Long) thành một
cộng đồng dân cư đa số sống bằng
nghề làm rẩy và chài lưới ven sông và họ đă
lập nên một làng lấy tên là làng Điều Ḥa.
Chữ Điều Ḥa được lấy ra từ bốn chữ Hán: “Phong
Điều Vơ Thuận” ư nghĩa là cầu cho mưa
thuận gió ḥa.
Để có nơi sinh
hoạt tín ngưỡng và
thờ cúng các vị thần linh như thần Nông ,
thần Thành hoàng, thần sông, thần biển v.v... cùng
thờ những vị Tiền Hiền Liệt Nữ có
công lập làng lập ấp. Nên người dân nơi nay
đă cùng nhau lập nên một ngôi Đ́nh Thần và
được lấy tên là Đ́nh Điều Ḥa. Tên
gọi này được giữ luôn từ đó cho
đến ngày hôm nay.
Cổng đ́nh ngày nay
được kiến trúc theo lối cổng tam quan, có
rồng chầu trên cổng và trên nóc đ́nh. Bước
vào cổng hai bên sân đ́nh
làbàn thờ Thần Nông, vách bệ thờ có tô nổi h́nh
Bạch hổ ở mặt
chánh diện, và bàn thờ Nam hải mặt
trước tô nổi h́nh Thanh long.
Vào trong đ́nh qua bậc
tam cấp, ở bên trái là chánh điện gồm ba gian có
khuôn trang chạm trổ hoành tráng sơn son thếp vàng trông
thật công phu phiá bên phải là cái “Vỏ Ca” giống
như cái rạp hát dùng để hát bội. Gian chánh
điện ở giửa từ ngoài vào là bàn thờ
Thần có cặp hạt đứng trên con qui cao khỏi
đầu người chầu hai bên, bên trong là bàn thờ
Sắc Thần , vách có thếp vàng chữ Thần theo
lối chữ Nho thật to và các sắc Thần
được đặt trong một ḥm bằng gỏ có
chạm h́nh rồng được sơn son thếp vàng
để trên bàn Thần và được che bằng
một mảnh vải điều. Sắc Thần
Điều Ḥa là chiếu chỉ của vua, tức
bảng phong sắc của 2 vua triều Nguyễn là vua
Thiệu Trị và vua Tự Đức ban cho vị quan có
công khai lập và an dân tại làng Điều Ḥa, trong đó
có ấn của vua.Các sắc thần theo thứ tự sau:
·
2 sắc của vua Thiệu Trị năm Ất Tỵ 1845
·
1 sắc của vua Tự Đức năm Canh Tuất 1850
·
1 sắc của vua Tự Đức năm Nhâm Tư 1852
·
2 sắc của vua Tự Đức
năm Bính Dần 1864
Khoảng giửa từ
bàn thờ Thần và bàn
Sắc Thần là cái bàn bằng gỏ đỏ thật
dầy độ một tấc bề ngang một mét , dài
khoảng ba mét , mỗi khi thỉnh Sắc Thần th́
Sắc được mang ra để trên một cái ngai
cũng sơn son thếp vàng đặt trên bàn này .
Trên bàn để
đồ cúng thần gồm một con heo quay, một cái
đầu heo, một đuôi heo và một bộ ḷng heo
gồm tim gan phèo phổi đều được luộc
chính, một mâm xôi và một mâm trái cây cũng đặt
trên bàn này trước cái ngai
đựng Sắc Thần
vừa được thỉnh ra trong mỗi khi có
cúng lệ Kỳ Yên.
Gian bên trái bàn Thần là bàn thờ Tả Thần, gian
bên phải bàn Thần là bàn thờ Hữu Thần. Phiá sau
chánh điện là hậu liêu nơi đặt bàn thờ
Tiền Văng, trên bàn thờ cũng có khắc danh sách tên của
những vị Tiền bốiø, những hương
chức có công với đ́nh
thần đă quá văng, đặt trong một khuông trang
cũng được sơn son thếp vàng.
CÁC
VỊ TIỀN HIỀN CÓ CÔNG THÀNH LẬP Đ̀NH
Căn cứ vào bảng
khắc Tiền Hiền ở
bàn thờ Tiền Văng, Hậu Văng và các Hoành phi ,câu
đối c̣n lưu lại nơi các cột chạm
trổ khắc bằng chữ Hán th́ các vị tiền nhân
đă có công trong việc thành lập Đ́nh Điều Ḥa
có tên như sau:
1
- Ông Đinh văn Vị :
Đốc Thị
Học sĩ
2
- Ông Đinh văn Mùi : Tổng Đốc
3
- Ông Ngô phước Hội : Hộ Bộ Tả Thị
Lang
4
- Ông Lê Du : Tri Phủ
5
- Ông Vơ tự Nghi : Đội trưởng
6
- Ông Bùi Hương : Hội Đồng Quản
Hạt
7
- Ông Lê Lực : Phó
Tổng
8
- Ông Phạm văn Lược :
Bá Hộ
9
- Ông Nguyễn tự Trúc : Tiền Hiền Khai Khẩn
10 - Ông Trương tự Ân :
Tiền Hiền Khai
Khẩn
11 - Ông nguyễn tự Kiên :
Tiền Hiền Khai
Khẩn
Ngôi Đ́nh Điều Ḥa
có được ngày hôm nay, chúng ta xin nguyện ǵn giữ
coi như đây là một khu Di Tích Văn Hóa Lịch Sử
cần được bảo tồn và phát triển.Xin
thấp một nén tâm hương với tất cả
tấm ḷng ngưỡng mộ, kính trọng và biết
ơn.
Lệ Kỳ Yên của
Đ́nh Điều Ḥa được tổ chức
một năm 2 lần vào rằm tháng 2 và rằm tháng 10
AL.Ngoài ra c̣n có lễ cúng Tiên Sư c̣n gọi là Lệ Chánh
Tiên Sư và ngày 17 tháng 6 AL , Lễ
Tống Thánh vào đêm 24 tháng Chạp và lễ Thỉnh Thánh
Nghinh Thần vào đêm Giao Thừa
Chương tŕnh Lệ
Kỳ Yên cho 3 ngày gồm có:
Ngày 16-02 AL:
15:00PM : Lễ Khai mạc, Tế lễ thỉnh Sắc
Thần
16:30PM : Lễ cúng Thần, Tiền Văng, Hậu Văng.
22:00PM : Lễ Tạ Tịch
Ngày 17-02 AL:
01:00AM : Lễ Tế Thần
02:30AM : Lễ Xây Chầu
10:00AM : Lễ cúng Thần, Tiền Văng, Hậu Văng.
10:30AM : Hát bội tuồng “Thàn Nữ dâng Ngũ Linh
Kỳ”
16:00PM : Lễ cúng Thần
18:00PM : Hát bội “Lưu Kim Đính giả giá Thọ Châu”
23:00PM : Lễ Tạ Tịch
Ngày
18-02AL:
02:00AM : Lễ Tế Thần
03:30AM : Lễ Tế Thần Nông
10:00AM : Lễ cúng Thần. Tiền Văng, Hậu Văng.
10:30AM : Hát bội tuồng “San Hậu thứ ba” tức
Tôn Vương
15:00PM : Lễ đưa Sắc Thần ( An vị Sắc
Thần )
Lễ Tất , coi như
xong một Lệ Kỳ Yên của Đ́nh Điều Ḥa.
Tôi xin căm tạ các bác và các
anh các chú trong ban Hương Hội đă giúp đở và
cho tôi có cơ hội thực hiện bộ đồ Gia lễ
của Học Tṛ lễ cùng tài liệu lịch sử quí
báu này để lưu truyền cho thế hệ tuổi
trẻ ở hải ngoại,
cũng xin dành một nén tâm hương để
nhớ ơn cha tôi Ông Chánh Bái Trần thoại C̣n, cùng bác
Tám Cần, chánh niệm hương, bác Chín Danh và bác Sáu
Thêm... cùng các cựu Hương
chứùc (nay gọi ban
Hương chức là Hội Hương) của đ́nh
Điều Ḥa trước 1975. Tôi học hỏi nơi cha tôi những nghi thức
tế lễ, những lời xướng trong những
buổi cúng tế , những bước lễ bộ của
“học tṛ lễ”. Những h́nh thức tế lễ
cổ truyền này chính là những sắc thái độc
đáo của nền Văn
hóa Dân tộc dù biết rằng tế lễ có nhiều
h́nh thức khác nhau của mỗi miền, miền bắc
có thể có những h́nh thức tế lễ khác với
miền Trung hay miền Nam
điều đó nói lên tính đa dạng và phong phú của
nền Văn hóa Dân tộc
nhưng dù miền nào đi nữa nhưng chúng ta
vẫn luôn có một mẫu số chung đó là Truyền
Thống Văn hóa Dân tộc Việt nam, chúng ta phải có
nhiệm vụ bảo tồn và phát huy cái hay cái đẹp
của nền Văn hóa Dân tộc. Chúng ta là những
người mang kiếp sống ly hương, chúng ta xa quê
hương nhưng chúng ta không mất quê hương, trong
ḷng mỗi chúng ta vẫn mang theo quê hương v́ chúng ta có
nhiệm vụ phải bảo tồn và phát huy truyền
thống văn hóa cổ truyền của dân tộc nơi
hải ngoại này.
Với ước nguyện
đó, tôi và anh Nguyễn văn Nở, là Gia trưởng
của Gia Đ́nh Phật Tử Chánh Pháp, hiện cùng nhau
sinh hoạt tại Nam Cali vào mỗi chủ nhật
cuối tuần với số đoàn sinh khoảng 180 em
từ 7 tuổi đến 17 tuổi với khoảng trên
dưới 20 anh chị em huynh trưởng đa số là sinh viên đại
học có số đă ra trường, họ là những
mầm non của thế hệ thứ 2, thứ 3, họ
là những hậu duệ mà
chúng ta cần nuôi dưỡng và trao truyền lại
những cái hay cái đẹp của truyền thống
văn hóa dân tộc để nền Văn hóa Việt nam
măi măi trường tồn dù bất cứ nơi đâu. Do
vậy hiện nay trong GĐPT Chánh Pháp tôi có hướng dẫn
, tập luyệïn và thành lập một đội thao
diễn quốc kỳ đi diễn hành với cờ
kiếm và một ban gia lễ (tế lễ) gồm
một số phụ huynh và đoàn sinh khoảng 15
người làm học tṛ lễ.
Chúng tôi đă tổ
chức một buổi tế lễ quốc tổ trong
đêm đón giao thừa năm Bính Tuất 2006 tại chùa Dược Sư với trên 2000
đồng bào và đồng
hương phật tử tham dự được
trực tiếp truyền h́nh trên toàn nước Mỹ.
Ngoài ra trong ngày Giỗ Tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 năm Bính Tuất,
chúng tôi ban tế lễ và toán quốc kỳ cũng đă
được Hội Cao Niên Á Mỹ tại Nam Cali mời
tế lễ Quốc Tổ trong ngày giỗ Tổ. Sau
đó chúng tôi cũng được Hội Bảo tồn
Lịch sử và Phát huy Truyền thống Văn hóa Dân
tộc Việt mời tế lễ trong cuộc triển
lăm Cổ vật của triều đ́nh Huế tại chùa
Bảo Quang Nam Cali ngày 26-08-2006. Trong đêm Giao thừa
năm Đinh Hợi 2007, chúng tôi cũng tổ chức
tế lễ cổ truyền đón giao thừa với
chủ đề “Mừng Xuân Dân Tộc , Hướng
Vọng Quê Hương” với hoạt cảnh “Quan
trạng về làng, Vinh Quy Bái Tổ”
Ngày xưa tại Việt
Nam, quan trạng sau khi thi đậu Trạng Nguyên trong các
kỳ thi Hương,thi Hội hoặc thi
Đ́nh,được nhà vua ban cho sắc chỉ và áo măo
cân đai và khi trở về làng thăm cha mẹ và
thầy dạy học được dân làng ra đón
tiếp niềm nở “ngựa anh đi trước vơng
nàng theo sau”. Đám rước có cờ ngủ linh, kèn
trống , bát bửu, long đ́nh, lộng tàng... và
được vị tiên chỉ cùng các chức sắc
trong làng ra đón rước.
Trên đường về
làng, mỗi khi đi ngang qua đ́nh làng hoặc chùa miếu
có lân múa pháo nổ và dân chúng ra chào đón vị Tân khoa
về làng, quan Trạng được vị Tiên chỉ
hướng dẫn vào trong
chánh điện để
lạy Thần hoàng hay lạy Phật , đoạn đi
về đến nhà Từ đường là nhà thờ ḍng
họ để Lễ tạ
Gia tiên, sau đó có khi vị Tân khoa phải đến nhà
Thầy dạy học để bái tạ sư phụ.
Sự lễ tạ này nói
lên sự tri ơn sâu xa đối với công lao của
những người cưu mang nuôi nấng dạy dổ
và đào tạo nên con người thành danh giúp ích cho
đời, đó là ơn Cha mẹ, ơn chúng sanh, ơn
đất nước và ơn Tam bảo (Tứ trọng
ân).
Sự thành công của người
Việt nam ở hải ngoại nói chung và thế hệ
trẻ Việt nam tại Hoa kỳ nói riêng đă chứng
tỏ người Việt nam dù chỉ mới tṛn 32
năm lưu lạc nhưng rất thành công trong mọi lảnh
vực từ lảnh vực học vấn đến y
tế, khoa học kỷ thuật, văn học nghệ
thuật, kinh tế thương mại,chính trị xă hội
cho đến truyền thông báo chí... tất cả hiện
nay đều có chỗ đứng trang trọng trong ḍng
chính của Hoa kỳ và được cả thế
giới khâm phục cũng như ngưởng mộ
sự thành công của giới trẻ Việt nam hải
ngoại. Sự thành công này
cũng giống như sự đổ đạt thành
tài của các vị Trạng
nguyên ngày xưa, đó là nhờ sự chịu khó học
hỏi, sự chuyên cần kiên nhẩn và ḷng biết ơn
đối với những người và những nơi
đă cưu mang, nuôi dạy và tạo phương tiện
cho chúng ta có được hôm nay.
Sự đổ
đạt của quan trạng
cũng như sự thành công của tuổi trẻ
ở hải ngoại đều có một mẫu số
chung đó là ḷng biết ơn cội nguồn Dân tộc.
Hoạt cảnh “Vinh Quy Bái Tổ” không ngoài mục đích
giúp cho thế hệ trẻ thấy được ḷng
biết ơn từ ngàn xưa đến giờ là không
thể thiếu khi ta đă được thành công v́ đó
là nét đặc thù của nền Văn hóa Việt nam.
Ước mong những
h́nh ảnh các buổi tế lễ cổ truyền trong các
Lệ Kỳ Yên từ Đ́nh Điều Ḥa , Mỹtho
Việt nam, đến Lệ Kỳ Yên Đức Tả
Quân Lê văn Duyệt, ( một bậc “Đệ nhất
công Thần”, một người con ưu tú của làng Ḥa
Khánh, quận Cái Bè, Tỉnh Định Tường ,
Mỹtho) được tổ chức tại Nam Cali vào
Rằm tháng giêng năm Đinh Hợi 2007, cùng những
buổi giỗ tổ Hùng Vương, tế lễ cổ
truyền khác trong các dịp lễ Dân tộc tại
hải ngoại này vẫn c̣n tiếp tục lưu
truyền lại cho các thế hệ mai sau để
nền Văn hóa truyền thống Dân tộc măi măi
trường tồn với thời gian v́ c̣n giữ
truyền thống Văn hóa Việt là chúng ta vẫn c̣n Dân
tộc Việt. Mong lắm thay!
Vơ
thiện Hiếu
Xuân
Đinh Hợi 2007