Những Người
Năm Cũ
Dư
Thị Diễm Buồn
Bọn
nữ sinh chúng tôi thường đi học sớm. Kẻ
đứng, người ngồi rải rác trong sân cỏ
xanh để chờ ông cai trường mở cửa vào
lớp. Chúng tôi đồng phục áo dài trắng, quần
đen, hoặc quần trắng thướt tha
lượn qua lượn lại nhởn nhơ như
đàn bươm bướm trắng. Có đứa đùa
giỡn, rược bắt, có đứa nói chuyện
ồn ào, có đứa kể chuyện tào lao, có đứa
chọc bạn, phá thầy. Và có đứa tư lự nh́n
trời xanh mây trắng mà mộng, mà mơ ở tuổi
xuân hồng.
Tôi
là học sinh chuyển trường. Trung hoc Đệ
nhứt cấp tôi học ở trường khác. Sang Đệ
nhị cấp tôi được vào trường Trung
học Đoàn Thị Điểm Cần Thơ. Lúc đó
bà Trần Thị Nhơn quyền Hiệu trưởng. Dù
được vào trường nữ trung hoc lớn nổi
tiếng ở Tây Đô của miền Hậu Giang. Nhưng
tôi vẫn nhớ về trường xưa, thầy cũ
và bè bạn vui buồn có nhau, cùng lớp chung trường
mà đă bao năm mài thủng ghế nhà trường
đễ trau giồi kinh sử…
Ngôi
trường mà bốn năm, từ lớp Đệ
thất đến Đệ tứ tôi hai buổi đi
về, nắng gội mưa chan đă cho tôi biết bao là
kỷ niệm lúc thiếu thời. Trước sân
trường cũ của tôi có khoảng sân đất
rộng trồng nhiều cây anh đào. Mỗi năm vào mùa
hoa anh đào nở, cả sân trường rợp màu
hồng nhạt trên nền cỏ xanh mướt,
dưới bầu trời quang đăng ngập nắng mai,
và gió xuân phơi phới. Giờ ra chơi, chúng tôi
thường ngồi dưới cội anh đào, tụm
năm, tụm ba tán gẫu, đùa giỡn tung tăng.
Tôi
vẫn nhớ rơ vào năm Đệ tứ niên, nhằm cuối
mùa hoa anh đào nở. Một hôm đang đứng ở
hiên trường nói chuyện với bạn bè, th́ cô thư
kư đến cho biết Hiệu trưởng gọi. Tôi
lật đật vuốt lại mái tóc, sửa lại tà
áo, nếp quần cho ngay thẳng rồi e dè đi theo sau
cô.
Hiệu
trưởng của chúng tôi là ông giáo già người
miền Bắc. Ông đă làm Hiệu trưởng nhiều
năm ở Tiểu học. Vợ ông là cô Như Mai cũng
dạy học tṛ như chồng. Ông Hiệu trưởng nổi
tiếng khó trời đất! Đứa nào vô
phước được ổng gọi th́ coi như
khổ dài dài. Không bị “con-sin” v́ dưới điểm
trung b́nh hàng tháng, hay trong các lần thi Tam cá nguyệt, Lục
cá nguyệt, th́ cũng bị rầy về phạm kỷ
luật, hay chuyện ǵ đó chớ hiếm thấy người
nào “bị” gọi lên mà gặp chuyện tốt lành.
Nhưng phải công nhận rằng, trường nào được
ông hướng dẫn, và nhứt là các lớp của ông
dạy. Chỉ số hàng năm học sinh thi đậu rất
cao, cao hơn hẳn nhiều trường khác.
Mặt
tôi nhăn nhó như con khỉ ăn phải ớt,
nặng trĩu và dài ra như cái bị chín quai! Bởi tôi vừa
sợ, lại vừa lo không biết việc ǵ sẽ
xảy đến đây? Tôi tự trấn an cho ḿnh “Phải
b́nh tĩnh! Phải b́nh tĩnh!” Tôi làm động tác thở
ra một hơi thật dài, rồi hít vào buồng phổi
không khí mát mẻ trong lành để lấy b́nh tĩnh.
Nhưng
tội nghiệp lắm! Thật sự, tôi không b́nh tĩnh
chút nào hết! Vừa bước vào cửa pḥng Hiệu
trưởng, thấy ông trễ cặp mắt kiếng lăo
nh́n tôi từ đầu đến chân. Sợ quá, tôi
vội chụp ngay vào thành cái ghế dựa trước
mặt, lí nhí trong miệng:
- Dạ thưa, Hiệu
trường gọi con?
Ông
không trả lời ngay, nh́n thẳng vào mặt tôi, hỏi:
- Chị là Minh Thu học lớp
Đệ tứ 1 đấy à?
Tôi
run giọng, trả lời:
- Dạ thưa Hiệu trưởng,
con là Minh Thu, hoc lớp tứ 1.
Đôi
mắt nghiêm khắc và sắc bén của ông làm tôi lính quính:
- Chị có biết tại sao tôi
gọi chị lên đây không? Chị năm nay bao nhiêu
tuổi rồi?
Tôi
lập bập trả lời:
- Dạ thưa Hiệu
trưởng, con 17 tuổi. Con không biết tai sao Hiệu
trưởng gọi con?
Ông
thẳng thừng nói một hơi:
- Phải lo học hành, để
sau nầy được vào các ngành nghề ḿnh muốn. Có
công ăn việc làm để trả ơn cho cha mẹ,
và bản thân chị cũng được khỏe, không
phải vất vả v́ cày sâu, cuốc bẩm hay buôn gánh
bán bưng… Mới nứt mắt mà chị đă bày
đặt “có bồ có
bịch” rồi phải không? Nếu có bồ th́
nghỉ học ở nhà, để chỗ cho những
người khác chuyên tâm vào học hành. Vả lại,
luật của nhà trường không nhận thư t́nh,
chị có biết không?
Tôi
chới với, như trên trời mới rớt xuống!
Ông nện luôn mấy câu:
- Tôi có đỗ oan cho chị
đâu. Chị hăy xem đi. Bức thư t́nh của
chị đó!
Ông
Hiệu trưởng lấy ra bức thư từ hộc
tủ, có đóng con dấu bưu điện và đă
mở ra rồi. Ông thảy trước mặt tôi. Mặc
dù lúc đó tôi chưa có bồ, và tôi cũng không biết
ất giáp ǵ về bức thư nầy! Nhưng tôi sượng
sùng và sợ hăi đến nỗi đứng không muốn
vững. May mà nhờ vịn vào cái ghế trước
mặt, nếu không th́ chắc tôi ngă quỵ rồi. Ông
Hiệu trưởng không để cho tôi nói, hay phân bua lấy
nửa lời. Ông đẩy lá thư đến gần
tôi hơn, dằn từng tiếng:
- Chị cầm về xem đi
để mà hối lỗi. Lần nầy chị may
mắn được tha, nhưng không có lần sau! Từ
rày nếu ai gởi thư đến cho chị nữa th́
chị sẽ bị đuổi học!
Tôi
cầm lá thư, riu ríu đi trở về lớp mà
nước mắt chảy ṛng ṛng!
Trong
lớp học, thầy giáo vẫn đứng trên bục
giảng bài. H́nh như thầy không biết, và không
đếm xỉa ǵ đến những chuyện lẩm
cẩm của đám học tṛ. Các bạn trong lớp,
đứa ưa th́ nh́n tôi ái ngại, xót thương.
Mấy đứa không ưa th́ nh́n tôi với ánh mắt hả
hê ra điều đắc ư. Mặc dù chúng không biết nguyên
nhân ǵ tôi bị gọi lên gặp Hiệu trưởng.
Rồi
cuối năm đó, lớp chúng tôi lo gạo bài để
thi lấy bằng Trung học Đệ nhứt cấp. Và
trước khi thi chúng tôi c̣n phải lo làm đơn
chuyển trường. V́ trường chúng tôi không có Đệ
nhị cấp. Bận rộn quá, tôi cũng đă quên
mất bức thư ai đă gởi đến cho ḿnh không
đề tên người gởi, mà Hiệu trưởng
cho đó là bức thư t́nh.
Cuộc
chiến Quốc Cộng trên quê hương ngày càng sôi
động. Cha, mẹ, anh, chị… không ngại gian lao ngoài
việc xả thân chống giặc, c̣n lo cơm áo
để cho con em ḿnh an tâm cắp sách đến
trường giồi mài kinh sử. Thời gian qua mau,
học hết năm Đệ nhứt, chúng tôi rời
trường như bầy chim ĺa tổ. Xoăi đôi cánh mềm
bay vào bầu trời bao la có đầy hương thơm,
cỏ lạ, có cây lành cho trái ngọt. Dưới không gian
bát ngát, thân thiện nồng ấm t́nh người của
vùng đất tự do miền Nam rộng mở và chào đón
chúng tôi.
Chúng
tôi được người đi trước ươm
mầm, uốn nắn diều dắt, chăm sóc dạy dỗ,
tôi luyện trong ṿng tay nhân ái, lễ nghĩa… Để chúng
tôi có đủ khả năng trong các ngành, các nghề. Khi có
thể đương đầu với băo táp chung quanh, th́
chúng tôi rời ngành nghề chuyên môn ra tạo dựng vững
chắc đời ḿnh và giúp người.
Sau
khi học xong nghề, tôi được về nhận
việc ở Trung Tâm Y Tế Toàn Khoa Mỹ Tho. Đầu
năm 1968 (sau Tết Mậu Thân). Thuở đó, Bác Sĩ
Vơ Văn Cẩn quyền Trưởng Ty Y Tế.
Trong
dịp t́nh cờ tôi gặp lại thầy Hiệu Trưởng
năm xưa đi khám bịnh. Ông vẫn điềm
đạm, ít nói, dáng gầy gầy, tóc trắng nhiều
hơn tóc đen và cặp mắt kiếng vẫn trễ
xuống. Khi tôi chào, ông hỏi:
- Xin lỗi, chị là ai tôi không
nhớ?
Tôi
không c̣n run sợ như xưa nữa, mà mỉm
cười lễ phép trả lời ông:
- Dạ thưa Hiệu
Trưởng, con là Minh Thu học lớp Tứ 1.
Ông
châu mày, mắt nh́n trời xa xăm như cố t́m nhớ
lại. Bỗng ông “à” một tiếng! Nhưng ánh mắt
ông vẫn nghiêm khắc và pha nỗi u buồn, nh́n sâu vào
mắt tôi dịu giọng:
- Tôi nhớ ra rồi, phải Minh
Thu bị tôi rầy về bức thư nặc danh không? Lúc
đó tôi cố t́nh rầy chị. Thật ra chị có tôi
vạ chi đâu? Chắc chị giận tôi lắm phải
không? Lâu quá rồi, chị c̣n nhớ nội dung bức
thư đó không?
Tôi
không ngần ngại, lanh lẹ đọc một hơi như
đang trả bài thuộc long. Tôi đọc không sót
một chữ:
“Em đứng nghiêng ḿnh
dưới nắng mai
Vịnh ngành sương
đọng lệ hoa rơi
Cười nâng tà áo
đưa lên gió
Em bảo hoa kia khóc hộ
người”
- Dạ thưa Hiệu Trưởng,
trong thư chỉ vỏn ven có 4 câu thơ của Thế
Lữ thôi, không c̣n một chữ nào khác. Con không có giận
Hiệu trưởng, nhưng lúc đó con thấy thiệt
là oan cho ḿnh quá! Nay th́ chuyện cũng đă qua rồi. Con
nghĩ Hiệu trưởng rầy như vậy là có
chủ tâm? Thưa Hiệu trưởng, cho đến bây
giờ con cũng không biết thư đó của ai
gởi cho con? Hiệu trưởng có biết không?
Ông
thở dài:
- Của Nguyễn Khương
Tịnh lớp tứ 2. Chị c̣n nhớ Tịnh không? Đậu
phần hai xong, nó vào trường Vơ Bị Đà Lạt. Sau
khi tốt nghiệp, Khương Tịnh được bổ
nhiệm về binh chủng SĐ7/BB. Tổng hành dinh
của Sư đoàn 7 ở đối diện cửa chánh
bệnh viện nầy. Chị biết chứ?
Ông
có vẻ xúc động ngừng nói. Tôi nhớ ra:
- Da thưa Hiệu trưởng, có
phải Khương Tịnh mà lần nào lễ lộc, hay
băi trường có mục văn nghệ, anh ưa hát bài “Mỗi Độ Thu Về”, hoặc bài “Đường Xưa Lối Cũ” không?
Ông
Hiệu trưởng gật đầu, tiếp:
- Ờ, thằng đó th́ nghệ
sĩ lắm, nó ưa hát ḥ, và cũng thích viết lách. Khương
Tịnh gọi tôi bằng bác ruột. Tôi biết, dạo
đó thấy đám nữ sinh ngồi dưới cội
anh đào nở rộ trước sân trường, nó chạnh
ḷng mượn thơ của Thế lữ để tỏ
t́nh với chị. Nhưng hai người lúc đó c̣n quá
trẻ, lại học giỏi. Thật t́nh tôi ngại
chuyện t́nh cảm nam nữ dây dưa làm hỏng
đường học vấn của hai người. Nên
một mặt rầy chị và mặt khác ngăn cấm
nó. Tội nghiệp! Một thanh niên ưu tú như vậy
mà vắn số! Nó đă qua đời 6 tháng trước,
trong lúc dẫn quân về truy lùng địch ở trận
Bà Bèo (một địa danh nằm trong tỉnh
Định Tường).
Tôi
rời trường Trung học Đệ nhất cấp
tính đến nay đă mười mấy năm rồi.
Thật sự tôi không biết ǵ về việc nầy! Nay
nghe thầy Hiểu trưởng kể lại tôi cảm
thấy ḷng ḿnh xao động! Bùi ngùi thương tiếc thuở
học tṛ và người bạn năm xưa.
Tôi
chép miệng thở dài nh́n mưa bay bay trong bầu trời
xám đục. Mưa lê thê cùng gió lành lạnh đầu
xuân của vùng Hoa Thịnh Đốn, đă làm tan tác
những cánh hoa anh đào tức tưởi tàn mau. Ḷng tôi đang
bồi hồi xúc động nhớ đến những chuyện
ngày xưa dưới mái trường.
-
Mưa thế nầy,
người ta cũng muốn bịnh, nói chi hoa anh đào
không rụng hết sao được!
Tiếng
nói bâng quơ, khi mắt vẫn không rời những
hạt mưa rơi lác đác của chị Lành (hiền
thê anh Hiền, nhóm TX), làm tôi quay về thực tế. Tôi
hỏi chị:
- Ủa anh Hiền đâu, mà
chị ở đây?
Chị
cười, nhưng mắt vẫn nh́n bầu trời mông
lung ảm đạm:
-
Ổng lạc đâu mất tiêu rồi. Tôi lạnh quá,
thấy chị nên đến nhập bọn để cùng
đi về.
Lúc
khởi hành du ngoạn, chúng tôi có từng nhóm hẳn hoi, có
người dẫn đầu cầm cờ nhiều màu
sắc khác nhau cho phân biệt. Tôi từ vùng Sacramento
đến (chỉ một người) nên tôi tự
nhập vào toán cờ vàng. Bởi màu cờ vàng hợp
với tôi hơn.
Sau
khi mỗi người nhận phần ăn trưa,
giấy xe ra vào cửa để đi từ trạm xe
ngừng gần nhứt của khách sạn. Nơi mà đồng
môn và thầy cô tạm trú trong thời gian mấy ngày về
dự đại hội. Hôm nay, chúng tôi đi thăm bảo
tàng viện, ṭa nhà Quốc Hội, xem diễn hành, và ngắm
hoa anh đào ở vùng Hoa Thịnh Đốn đẹp nổi
tiếng trên nước Mỹ nầy.
Trời
chẳng chiều ḷng người! Mưa rơi lách tách
cả đêm rồi. Vậy mà sáng, mây đen phủ cả
vùng trời Washington và mưa lại rơi nữa. Mưa rơi
đều đều. Đoàn người du ngoạn
của chúng tôi vẫn lên đường, không ngại ǵ
mưa gió. Mưa vẫn tiếp tục rơi! Mưa rơi
càng ngày càng nặng hột. Những người có dù, có áo
che mưa cũng bị ướt loi ngoi th́ nói chi
người không đem theo dù che, áo phủ…
Chúng
tôi đến bảo tàng viện th́ coi như ră hàng v́
đông người, và v́ có rất nhiều vật trưng
bày để cho du khách thưởng lăm. Trong toán, người
thích xem thứ nầy, kẻ thích ngắm thứ kia…
hoặc người muốn chụp h́nh lưu niệm nên
không thể cứ chờ đợi nhau măi. Chị hướng
dẫn để mọi người đi riêng và dặn phải
đến chỗ hẹn đúng giờ. Tôi biết thân,
bởi ḿnh vừa quê mùa lại vừa dốt, giống
như Tư Ếch đi Sài G̣n. Tôi sợ lạc không
biết đường về, cho nên bám sát đuôi vợ
chồng sư huynh sư tỷ Thanh Bạch, Thầy
Đàm, anh chị Chín (thầy và những đồng môn này
từ Arizona qua)… cùng người hướng dẫn
đoàn. Thế mà khi lên xe trở về khách sạn chỉ
c̣n có mấy người: Thầy Đàm, chị Lành,
một anh ở Atlanta, tôi, và hai vợ chồng anh chị
(không nhớ tên) và người hướng dẫn thôi.
Tôi
mừng vui và xúc động khi về đến khách
sạn th́ gặp lại cô Hiệu trưởng Trần
Thị Nhơn. Cô ngồi giữa và học tṛ vây quanh
nơi pḥng tiếp tân của khách sạn.
Tôi
không làm sao quên được, thuở đó cô dạy tôi
môn Anh văn. Tôi đă rời trường từ năm
1965. Thời gian qua như chớp mắt. Cuộc đời
theo ṿng quay của kim đồng hồ và đổi thay
theo vận nước nổi trôi! Mới đó, mà nay
đă hơn 40 năm rồi c̣n ǵ? Tóc cô trắng phau phau.
Chợt nhớ lại, tôi mỉm cười! Bây giờ
ḿnh cũng đă hai màu tóc, cũng là bà ngoại rồi
chớ bộ!
Mỗi
năm về dự Đại hội của đại
gia đ́nh cựu học sinh Trung học Phan Thanh Giản và
Đoàn Thị Điểm (Cần Thơ), tôi
được gặp lại những bạn cũ,
thầy xưa, những nhân viên hành chánh có thời làm
việc ở trường. Mặc dù những bạn không
cùng lớp, những thầy không trực tiếp dạy
lớp ḿnh. Cho dù những h́nh ảnh đó, dáng dấp
đó có thay đổi theo thời gian, theo năm tháng…
Nhưng đă cho tôi sống lại những kỷ niệm
ngọt ngào thân thương của thời son trẻ.
Năm
nay, ngay vừa đến phi trường Washington Dullas, th́
tôi gặp một số anh chị đến trước,
trong đó có Thúy con chị Huệ (ở TX), và nàng Bé Xíu. “Nàng Bé Xíu thân mến của tôi
ơi! Tôi không ngại ngùng hay mắc cỡ khi thú thật
với các đồng môn của chúng ta rằng: Ngày xưa ở
trường tôi sợ nhứt v́ tánh liếng khỉ
chọc bạn phá thầy của nàng. Một trong những
tác phẩm đă phát hành, có đoạn nói về
trường cũ, tôi không quên nhắc về nàng đó”.
Thuở
c̣n là nữ sinh Đoàn Thị Điểm, nàng Bé Xíu của
chúng ta tṛn trịa, người thấp, nước da
mịn màng, trắng hồng, tánh t́nh hồn nhiên, miệng
cười xinh xắn, rất dễ thương. Tôi ngại
và sợ nhứt là mỗi lần đi ngang qua mặt nàng.
Không phải ḿnh tôi ngại, mà gần như những
đồng môn thuở đó hay bị nàng Bé Xíu khều,
nắm áo dài, cột đuôi áo, hay nói câu chọc ghẹo…
Tôi
nhớ không lầm có lần nàng Bé Xíu của chúng ta ghẹo
chị bạn học (ở Sóc Trăng hay Cà Mau lên học
ở trương ĐTĐ. Tôi không nhớ tên chị). Bọn
nữ sinh chúng tôi thuở đó đi học đứa nào
cũng đội nón lá, hoặc nón vải (rất ít). C̣n
chị bạn nầy th́ luôn che cây dù màu đen, cán ngoéo. Vóc
người chị ốm, cao, lưng hơi cong cong,
miệng hơi hô, tướng đi hơi lom thom. Nhưng
chị học giỏi lắm (về sau h́nh như chị được
học bổng du học ở Mỹ?). Nàng Bé Xíu thân
mến của chúng ta đứng trên lầu nh́n xuống
thấy chị, bèn rống họng lên hát lớn: “Cái đít Ba Tàu thằng nào
cũng như thằng nấy, bà già Tư Ếch đi
đâu cũng xách cây dù”.
Nàng
Bé Xíu hát xong th́ nhanh chân “vọt” mất! Bà Mừng (Giám
Thị) từ đâu trờ tới. Thế là những
đứa vỗ tay cười phụ họa, và những
đứa lớ ngớ vô tội vạ như tôi đang đứng
gần đó bị ghi tên và có giấy mời “cấm túc”
thứ bảy phải vào trường làm bài, học bài và
lượm rác, làm vệ sinh…
Trong
chuyến đi dự đại hội của
trường, ở Washington năm nay. Tôi có dịp
được gặp những nhà văn, nhà thơ, nhà báo
kỳ cựu, đă thành danh lúc c̣n ở trong nước và
hải ngoại: Nguyễn Thị Ngọc Dung, Lê Thị
Nhị, Tạ Quang Khôi, Uyên Thao, Hoàng Song Liêm, Vương
Đức Lệ… Ông bà chủ nhiệm kiêm chủ bút, và
ban biên tập tạp chí Thời Đại. Vợ
chồng bác sĩ Cường, Yến (cặp vợ
chồng nầy làm ở BV Chợ Rẫy và Từ Vũ
ngày xưa). Sư huynh Hồ Thanh Sơn, sư huynh Cao Thanh
Tùng và sư tẩu Phượng … C̣n sư huynh Nguyễn
Văn Thùy của chúng ta mấy năm rồi vắng bóng,
có lẽ sư huynh đă lên núi rừng thâm sâu luyện bí
kiếp. Để năm nay tái xuất ở đại
hội với tập sách dầy mới xuất bản hơn
700 trang.
Tôi
gặp những người năm cũ, luôn về dự
đại hội hàng năm của trường. Cũng
có những người năm cũ, mới đi dự
đại hội lần đầu tiên… Những
đồng môn ở phương trời xa xứ lạ
từ: Úc, Pháp, Canada, Anh… Ở cố quốc Việt Nam
năm nay cũng có 2 đồng môn qua tham dự (trong
thời gian các anh đến Mỹ thăm gia đ́nh). Cùng
các đồng môn ở rải rác các tiểu bang trên
nước Mỹ như: Texas, Atlanta, Seattle, Arizona, Nam
Bắc California, và lẻ tẻ từ nhiều tiểu bang
khác…
Đại
hội năm nào cũng vậy, có cái vui và cũng có cái
không vui. Nó tùy thuộc vào góc độ và cảm nhận
của mỗi cá nhân. Nhưng trong chúng ta ai cũng biết,
tự cổ chí kim đời vốn không có ǵ là tuyệt
đối cả!
Hành
trang tôi nhận được khi trở lại nhà sau
mỗi lần đi dự đại hội là: Đặc
san của trường, những tác phẩm của
đồng môn mới phát hành, một vài tạp chí ở
địa phương… Có khi c̣n được gói bánh
phồng tôm, gói bánh tráng dừa, gói kẹo chuối… Của
các đồng môn trong dịp về thăm quê hương
mang qua để dành tặng. Trước khi lên xe ra phi
trường, tôi c̣n đươc gói sôi lá cẩm, ly
giấy tạm đựng cơm nhét vào giỏ xách để
pḥng hờ trên quăng đường xa cho tôi đỡ
đói ḷng của cô bạn học, của rể con anh
bạn đồng môn, của bà chị dâu tặng. Cùng đầy
ắp những lời thăm hỏi chân t́nh, những
lời chúc phúc chúc lành của thầy cô và các đồng
môn…
Đối
với riêng tôi, những t́nh cảm đó trong những
lần đại hội đă qua, thật sự quá
đủ và trân quư vô cùng!
Tệ
xá Diễm Diễm Khánh An
Dư
Thị Diễm Buồn