T́nh… Bạn Học
Duyên… Hàng Xóm
(Chuyện Sân Tŕnh Cửa Khổng)
Mặc Nhân
Trưa hè, từ một gian nhà lá ba gian hai
chái, nằm mép bên vườn dừa, nh́n ra cánh đồng
nắng cháy, phát ra một giai điệu vang vang, trầm
buồn, ngả ngớn như có thể tắt lịm
bất cứ lúc nào, nếu không có tiếng gà gáy trưa
cầm canh, khơi động cho cảnh vật thêm
phần khởi sắc: gia nhà,
quốc nước, tiền trước, hậu sau,
lục sáu, tam ba….
Chúng tôi, năm trai một gái, suưt sóat
tuổi nhau, giữa năm, sáu, bảy. Trai gái đều
mặt quần áo vải thô, màu vỏ măng cụt, nút áo
bằng vỏ ốc trắng lại kết khuy bằng
chỉ đen bỏ ḷng tḥng nhủng nhẳng, luôn đi
chân trần. Có điều khác là chúng tôi, con trai, đầu
chừa ba vá bánh bèo, vừa mát mẻ, vừa ấm mỏ
ác v́ cái bánh bèo ngay mỏ ác lớn nhứt có nhiều tóc
nhứt. C̣n học tṛ gái để tóc dài bỏ đàng sau
ót, lưa thưa, sắp sải, cọng ngắn cọng
dài, kẹp lại bằng cái nẹp tre, dính dầu dừa
lâu ngày đen ḷm.
Chúng tôi đến trường tức là
nhà Thầy từ sáng sớm, mang theo một mo cơm
vắt, một ít miếng cá khô bé tó teo, hoặc một ít
cá kho mặn chát.
Chúng tôi ở lại trường, học
cho đến ngọ mới mới ăn cơm, cơm
xong ra vườn làm cỏ, trở vào trường học
cho đến xế mới về. Vậy đó, thời
dụng biểu của chúng tôi là canh một, canh hai…gà gáy
sáng, gáy trưa, mặt trời lên được hai
tầm, đúng ngọ, xế chiều, chạng vạng,
thu không…mà dườmg như tất cả chúng tôi
đều đúng giờ đúng khắc, không đến
đổi như bây giờ, nào là đồng hồ tự
động, điện tử, kỹ thuật số, đeo
tay, bỏ túi, treo tường,,,vậy mà…
Những câu nghêu ngao khi năy, là chúng tôi đang
đọc chung bài học vỡ ḷng Tam Thiên Tự khi vào học chữ Nho. Chúng tôi
ngồi xếp bằng quanh một cái bàn thấp h́nh
chữ nhựt, c̣n gọi là quả đường,
đặt trên một bộ ván ngựa khá rộng.
Thầy tôi ốm tong ốm teo trông già
lắm, dưới con mắt trẻ thơ của chúng
tôi, thường mặc áo dài bằng lănh đen, một cái
quần vải trắng bạc màu và mang một đôi
guốc vông do chính Thầy tôi đẽo lấy. Một cái
đầu tóc nhỏ xíu gần như trên đỉnh
đầu, mà người ta thường gọi là củ
tỏi, một cặp mắt kiếng trắng găy mất
một gọng được thay bằng một sợi
kẽm, tất cả những thứ đó càng làm tăng
thêm phần khắc khổ cho Thầy tôi.
C̣n hơn vậy, khuôn mặt dài má hóp cùng
với hàm răng trên, cḥm râu dưới càm thưa
rỉnh, nếu Thầy cho phép, tụi học tṛ chúng tôi có
thể đếm chính xác số râu của Thầy.
Thầy cũng ngồi trên bộ ván, ở
đầu quả đường, tựa lưng vào cái
gối ôm lớn, hai đầu có kết vải xanh, vàng,
trắng, đỏ…lâu ngày không giặt – làm sao giặt
được – nên nham nhúa màu thời gian. Thầy ngồi
ở đầu bàn, số học tṛ chỉ có năm, sáu
nên Thầy kiểm soát rất chặt chẽ, chỉ
trừ những lúc Thầy mệt mỏi ngủ quên,
ngoẻo đầu trên chiếc gối ôm.
Trong giờ lên lớp, trước khi vào bài học,
Thầy ra linh: Gia nhà…vừa
xong là “ông roi mây” nhịp xuống quả đường
một cái “cốp” để bắt nhịp cho một
tiết đọc bài, hay nói đúng hơn là một khúc ḥa
ca không có đoạn kết: Gia
nhà, quốc nước, tiền trước. hậu sau,
lục sáu, tam ba…Chúng tôi d0ọc như một cái máy,
không cần biết từ đó nghĩa là ǵ. Giọng ngân
nga thét rồi thành đơn điệu, nhuể nhoải,
nhạt nḥa…
Cứ thế. Giữa trưa hè bặt gió,
nơi một cánh đồng chứa chan ánh nắng,
một gốc vườn tịch mịch không xao
động…âm thanh của chúng tôi phát ra ru ngủ mọi
vật, từ động vật đến thực vật.
Thật vậy, con Mướp nằm lim dim bên xó bếp,
lũ chuột nhắt chắc cũng đang ngủ trong
hang, con Đốm cũng khoanh tṛn, mắt nhắm hít,
kể cả mất cây cau trước nhà cũng không phe
phẩy tàu lá.
C̣n chúng tôi cũng đang trong t́nh trạng
thiêm thiếp. Tiếng ê a của chúng tôi phát ra, có kẽ do
từ tiềm thức mà thôi, kể cái ngă đầu qua ngă
đầu lại của chúng tôi, cũng là do quán tính.
Thầy lúc bấy giờ cũng trong trạng thái đó
chăng, nên không c̣n ôm gối ôm nữa, mà Thầy ngă
đầu vào gối, mắt nhắm, ngủ một
giấc ngủ ngon lành trời cho. Tiếng ngái của
Thầy làm cho bộ râu ít ỏi của Thầy nhịp lên
nhịp xuống, và ít ra nhờ vậy, mà cái trường
học nhỏ bé của chúng tôi c̣n phần nào sinh khí.
Thầy tôi, một nhà Nho lỡ vận,
từ đâu ngoài Trung, ngoài Bắc vào cái đất xó
xỉnh nầy lập nghiệp. Thật ra, những
bậc sĩ phu tiên phong nầy, sau khi đỗ
đạt ở các khoa Thi Hương, hoặc lận
đận trong các khoa Thi Hội, một ḿnh một thân vào
Nam sinh sống. Nơi đây với cái vốn trí thức,
các bậc tiền hiền nầy thường làm những
nghề nghiệp như thầy thuốc, thầy
địa lư, thầy dạy học…Cũng vậy,
Thầy tôi vào định cư nơi một vùng mà phong
thổ, khí hậu, tập quán, giọng nói đều xa
lạ, chỉ mang theo ḿnh bộ áo the, một cây dù, một
cây bút lông, một nghiên mực, một thỏi mực tàu…với
một pho kinh sử trong… óc và một tấm ḷng đôn
hậu trong… tim, ngoài ra không c̣n ǵ cả.
Trường của Thầy tôi, thực
sự cũng chính là ngôi nhà ba gian hai chái bắt vần mà
Thầy tôi đang ở, có lẽ được xây cất
từ xa xưa lắm rồi. Ngôi nhà lợp lá chằm đóp, tức là lá
dừa nước, nhưng phải róc lá ra chằm lại
nên gọn gàng, nhẹ nhàng, vén khéo, đẹp
đẽ…Trái lại, có nhà lợp lá xé, cũng là lá dừa nước đốn
về, xé hai ra, đem lên nóc.
Đâu sóng lá với nhau, rồi kết chặc lại,
nhanh chóng, tuy nặng nề hơn, không thanh thoát bằng,
nhưng được cái mát mẻ hơn nhiều.
Thầy tôi dạy hết khóa nầy
đến khóa khác, học tṛ chỉ từ năm
đến mười, không có niên khóa, không có chương
trinh, không có dụng cụ. Thời khóa biểu do Thầy
tôi ban hành bằng miệng. Vậy mà trường lớp
kỷ cưng, giáo tŕnh sát sao, nhứt là kỷ luật
nghiêm minh, giữ vững lề xưa nếp cũ: Quân,
Sư, Phụ.
Mỗi lần học tṛ phạm lỗi (
không biết cơ man nào là lỗi như ngủ gục,
chào Thầy không chắp tay, nấu nước chưa sôi
đă châm, quạt Thầy không đủ mát, lỡ nói
một lời mà trong sách vỡ không cho phép…) là bị
phạt. H́nh phạt th́ đa dạng, từ quỳ
gối nh́n váo vách hàng canh giờ, quét sân quét vườn cho
đến khi nào không c̣n một cọng rác nào mới thôi,
xách nước từ ao đổ đầy mấy cái mái
vú, đến khẻ tay, hoặc thông thường là
nằm dài xuống đưa đít cho thầy đánh
từ ba, bốn, năm…roi tùy theo lỗi mà Thầy cho là
nặng hay nhẹ.
Cho nên khi chúng tôi linh cảm là hôm nay có
thể ăn đ̣n, th́ thủ trước một
miếng mo cau lót đít. Thầy vẫn biết
điều nầy, tuy nhiên Thầy giả bộ làm
ngơ. Chúng tôi cũng biết như vậy, v́ nh́n đôi mắt
của Thầy qua mấy mươi năm dạy học,
làm sao Thầy không biết học tṛ ranh mảnh, nhưng…giơ cao đánh khẽ. Tinh thầy
tṛ Việt Nam mà, muôn đời vẫn vậy.
Trong số các môn sinh của Thầy có
một nữ sinh, một học tṛ gái duy nhứt, tên Thu
Cúc, cũng là cháu nội của Thầy. Thu Cúc hiền
hậu, thuần lương, nết na, chăm chỉ…con
chim đầu đàn của trường. Dường
như Thu Cúc là trợ lư của Thầy cũng nên. Chả
thế mà mỗi lần Thầy ra lịnh xong, là Thu Cúc
cất giọng đầu tiên cho chúng tôi bắt nhịp.
Chẳng han, Thầy ra lịnh: Quyển
Một, Chương Hai, Tam
Tự Kinh là lập tức
Thu Cúc cất cao giọng: Nhơn
chi sơ… là chúng tôi đọc to lên: Nhơn chi sơ, Tánh
bổn thiện, Tập tương viễn,Tánh
tương cần…Và khi chấm dứt thiên nào là Thu Cúc
chậm lại, giống như trong bản trường ca
đến trường canh chót vậy. Chúng tôi nhứt
nhứt hợp xướng, c̣n Thu Cúc trong vai thủ
xướng.
Trong vai học tṛ Thu Cúc là chim đầu
đàn. Trong vai giảng dạy Thu Cúc là trợ giảng, c̣n
trong gia đ́nh, Thu Cúc là cháu nội cua Thầy. Nhưng không
v́ vậy mà Thu Cúc không chịu h́nh phạt theo trường
qui. Lẽ tất nhiên là Thu Cúc ít bị phạt hơn v́ là
một học tṛ gương mẫu trong mọi lănh
vực, tuy vậy không có nghĩa là không bao giờ.
Vốn là, khi khởi đầu tập
viết. chúng tôi chưa được viết thẳng
trên giấy bạch hay giấy bưởi mà phải
viết trên lá chuối phơi khô, ép lại, trổ màu vàng
sậm, cũng chưa phải bằng mực tàu, mà
bằng mực nước của gạch mài ra giống
như màu son hay chu vậy.
Một hôm đến giờ tập
viết, Thầy bảo Thu Cúc phát những tờ giấy
lá chuối cho học tṛ. Thu Cúc có phận sự róc lá chuôi
tươi, phơi khô để phát cho chúng tôi, nhưng
lần nầy số giấy lá chuối không đủ cho
học tṛ. Thế là Thu Cúc bị phạt. Thầy bảo
Thu Cúc cúi xuống và phạt Thu Cúc ba roi về hai tội,
một là phạm kỷ luật trường qui, hai là
về tội không chấp hành tốt gia qui.
Nh́n người bạn đồng môn gái mà
chúng tôi quí mến nhận ba roi không nương tay của
Thầy, mà cũng là ông nội, chúng tôi bàng hoàng
thương cảm, lại trộm nghĩ, giá mà Thu Cúc lót
mo cau vào đít th́ đỡ biết bao. Thu Cúc đứng
lên, khoanh tay cúi đầu thưa: Cám ơn Thầy đă dạy con! Một cảm
xúc bùi ngùi, mà măi tới giờ nầy, ḷng tôi c̣n bồi
hồi cảm kích và hảnh diện cho một nền giáo
dục lên đến tuyệt đỉnh như vậy.
Tôi có ngờ đâu những nét chữ
nguệch ngoạc tho thiển bằng màu gạch
nước, trên những tấm lá chuối xác xơ đó,
cùng những bài đọc thuộc ḷng u ơ tưởng
chừng vô thức đó, đă dẫn đưa chúng tôi
trở thành những con người, suốt đời
lấy Tấm Gương Minh
Tâm soi rọi cho một cuộc sống thanh cao.
Chúng tôi đă học qua Tam Tự Kinh giờ đây chúng tôi bắt
đầu nghe nghĩa. Thầy luôn khởi
đầu bằng Tử
viết. Những câu sau đây chẳng những khắc
sâu vào trong kư ức chúng tôi, mà c̣n ghi đậm trong trái tim: Vi thiện giả, thiên báo chi
dĩ phước. Vi bất thiện giả, thiên báo chi
dĩ họa. Từ ngàn xưa, Thánh Hiền đă
để lại khuôn vàng thước ngọc cho hậu
thế noi theo, nhất là xoay quanh Chân – Thiện – Mỹ.
Thu Cúc giờ đây đă là cô gái
đẹp, cái đẹp đoan trang thùy mị, cái
đẹp của đồng lúa, vườn tược.
Trong gia đ́nh, Thu Cúc là một người con hiền
thục, nơi trường là một môn sinh gương
mẫu. Chúng tôi ở trường được phân công
rạch rọi. Sáng sớm đến trường, tṛ nào
quét sân, tṛ nào thu dọn lớp lang, tṛ nào quạt lửa
nấu nước pha trà. Riêng tôi có lẻ được
Thầy yêu v́ hơn, nên được giao trách nhiệm lau
chùi bộ văn pḥng tứ bảo gồm có giấy, bút,
mực và nghiên mực.
Thu Cúc không được giao công việc
nào, nhưng h́nh như trong bất cứ công việc nào
cũng có mặt của Thu Cúc. Tiếng là anh Đinh
phụ trách công việc trường lớp, nhưng Thu Cúc
đă làm việc đó từ sáng sớm. Cũng như anh
Lành lo việc nấu nước pha trà, thực sự
lửa củi đă có sẵn, b́nh tách đă rửa xong.
Phần sắp xếp bộ văn pḥng
tứ bảo, nghe qua là nhẹ nhàng, nhưng là công việc
khá tế nhị mà Thầy quan tâm nhứt. Tôi loay hoay măi
mới để được tập sách của
Thầy cho đúng chỗ, vào góc bàn bên mặt, khoảng
cách giữa mép bàn và b́a sách phải một lóng tay.Xấp
giấy bạch để Thầy viết được
vuốt thẳng nếp, đặt bên góc trái của bàn,
ngang tầm với tập sách, một thanh tre láng bóng
dằn lên trên. Nghiên mực lau chùi xong cho vào một ít
nước, cầm thỏi mực lên mài sao cho vừa
đủ sánh để viết. Tuy nhiên độ
đậm đặc th́ chính Thu Cúc cố vấn cho tôi.
Xong việc, tôi đứng ra xa nh́n thành quả của ḿnh
có đúng chuẩn mực chưa, lau lại một lần
nữa mặt bàn đạ sạch bóng.
Vậy mà vẫn c̣n một động tác
cuối cùng, là đặt “ông roi mây” vào đúng chỗ.
Nắm lấy cây roi mây lành lạnh, tôi kính cẩn và
trịnh trọng đặt nhẹ bên tập sách, không gây
một tiếng vang nhỏ nào. Đặt xong, tôi đi
thụt lùi mắt vẫn c̣n nh́n lại, sao thấy “ổng”
lạnh lùng và vô cảm đến như vậy.
Thầy ra trường, leo lên bộ ván,
ngồi trước quả đường, chúng tôi
đứng xếp hàng ngang chắp tay cúi đầu chào
Thầy bằng một câu: Chúng
con xin vưng lời thầy. Thầy nh́n chúng tôi có
vẻ hài ḷng, bảo: Vào
trường.
Trẻ con chỉ có hai chữ Vưng lời là mọi
việc sẽ đi đúng hướng cho một
đời hữu ích. Chỉ có vậy.
* * *
Giọng Thầy
tôi đă khàn v́ tuổi già, nhưng mắt Thầy tôi
vẫn c̣n sáng rực một niềm tin tưởng,
một niềm hy vọng vào chúng tôi, để lưu truyền
chữ nghĩa hay ít ra là ư tưởng thánh hiền mà chúng
tôi đă thọ giáo. Cuối năm đó, sức khỏe
không cho phép Thầy tôi mỗi buổi sáng lên lớp,
tựa lưng vào gối ôm để giảng dạy cho
chúng tôi nữa. Cái Tết Thầy năm nay cũng là cái
Tết Thầy cuối cùng của chúng tôi, và cũng là cái
Tết Thầy dạy chữ Nho cuối cùng tại làng
tôi.
Một thúng nếp, một con gà mang
đến nhà Thầy, chúng tôi chắp tay trước
ngực đứng nghe những lời giảng dạy lần
chót của Thầy, với một ḷng kính yêu sâu
đậm. Công Thầy là
ơn khó trả. T́nh Thầy là nghĩa không quên.
Từ đấy trong làng tôi, không c̣n vang
vang những âm thanh đọc bài trầm bổng của
lủ trẻ ba vá miếng vùa, với tiếng gà gáy
trưa cầm canh trong các bụi tre trên bờ ruộng
nữa.
Bạn tôi và tôi phân tán ra đi học ở
các trường dạy Quốc ngữ trong làng, rồi lên
tỉnh hoọc ở bậc Trung học. Trong khi đó, Thu
Cúc chỉ học hết bậc Sơ đẳng Tiểu
học ở làng rồi nghỉ học, ở nhà phụ cha
mẹ với công việc ruộng vườn đồng
áng, dệt vải trồng bông….Gái
th́ giữ việc trong nhà. Khi vào canh cửi khi ra thêu thùa…
Thầy của chúng tôi cũng đă qua
đời.
Phần tôi, học xong khóa sư phạm,
được bổ đi dạy tại một
trường Tiểu hoc thuộc một tỉnh khá xa với
tỉnh nhà. Một hôm về quê thăm nhà, ba má toi bảo
là trước đay, ông nội tôi và ông nội Thu Cúc
vốn là bằng hữu thâm giao, đă có hẹn
ước gá nghĩa vợ chồng cho tôi và Thu Cúc. Vâng
lời ông nội nên ba má tôi đă có cuộc trao đổi
với ba má Thu Cúc, và đă chọn ngày đưa tôi đi coi vợ.
Trước khi được phép
đến nhà gái, gia đ́nh chúng tôi được thông báo
trước, là tôi không được mặc đồ
tây, có nghĩa là phải mặc áo dài khăn đóng. Giờ
vào nhà gái cũng được ấn định là
giờ Th́n giờ Dậu ǵ đó, may mà có nói khi mặt
trời lên cỡ hai tầm. Chúng tôi ba người, gồm
ba má tôi và tôi, khăn gói lên đường với trà
rượu bánh trái tươm tất, không quên xem lại y
phục của ḿnh, có làm cho bên đàng gái vui ḷng chưa.
Đến nơi chúng tôi phải
đợi ngoài cổng khá lâu mới được ba má
Thu Cúc áo dài khăn đóng chỉnh tề, ra rước
chúng tôi vào. Ba má tôi được phân ngôi chủ khách
ngồi ở bàn giữa, c̣n tôi được lịnh
đứng dựa góc cột, cạnh bàn thờ. Bất
chợt tôi nh́n lên di ảnh Thầy tôi, một thoáng xúc
cảm đến với tôi, vui mừng có, e thẹn
có…nhưng khi trông thấy “ông roi mây” vẫn c̣n dựng trên
bàn thờ cùng bộ văn pḥng tứ bảo, tôi mỉm
cười tự bảo, chắc là Thầy phạt ḿnh
đứng dựa cột đây.
Trong khi chủ khách nói chuyện, tôi mệt
mỏi nghĩ thầm ḿnh là vai tṛ chánh hôm nay, mà không ai thèm
ngó ngàng ǵ đến ḿnh. Tôi măi lo ra, thậm chí không c̣n
biết ḿnh ở đâu, đang làm ǵ, kể cả nếu
là khách mà cũng không được mời một tách
nước.
Bỗng má Thu Cúc đứng lên đi vào nhà
trong, trở ra theo sau là Thu Cúc, người bạn học
chữ Nho năm xưa của tôi, cháu nội của
Thầy tôi, giờ đây đă là một cô gái xinh
đẹp, nhẹ nhàng, uyển chuyển. Thu Cúc mặc
một chiếc áo dài màu tím hoa cà, một cái quần bạc
soạn trắng màu hạt trai, mang đôi dép dừa. Nh́n
kỹ hơn, thấy cô đeo một cây kiềng cổ
vàng, một đôi bông mù u, tóc được bới cao lên có
thả banh lái, thơm mùi dầu dừa. Thu Cúc khá tự
nhiên, đến chào ba má tôi, rót nước mời ba má tôi,
rồi lại chào lần nữa trước khi trở vào
nhà trong.
Nếu không để ư lắm, có thể
nói là Thu Cúc không thèm đếm xỉa ǵ đến tôi,
nhưng tôi thoáng thấy khi cúi đầu chào ba má tôi, cô
đă cố t́nh dành cho tôi một cái nh́n ấm áp. Tôi
thấy ḷng ḿnh rộn lên một niềm vui, cho bỏ công
từ sáng đến giờ bị bỏ rơi. Tôi c̣n
đưa mắt theo dơi Thu Cúc, th́ bỗng ba tôi bảo tôi
đến thưa hai bác để cáo từ. Ba lại c̣n
lớn tiếng dặn tôi, y hệt như đối
với một đứa trẻ:
- Bỏ dép ra.
Thế là tôi lại được học
thêm ở đây một bài học, không phải Tam Tự kinh mà là Đường Xưa Lối
Cũ.
Sau đó, hai lễ nhỏ ba lễ lớn,
bỏ trầu cau, vấn danh…gia đ́nh tôi mới
được tổ chức Lễ Hỏi chính thức
nh́n nhận Thu Cúc là dâu nhà tôi và tôi là rể của gia
đ́nh Thầy tôi. Nhiêu khê lắm, cuối cùng chúng tôi
nhận được moet65 tấm giấy hoồg
đơn bên đàng gái, thỏa hiệp nhày giờ
rước dâu: Ngày Quư Mẹo,
tháng Mậu Dần, năm Đinh Hợi, giờ Tỵ.
Tôi lại phải xin nghỉ phép một
tuần lễ để đám cưới. Thời gian
nghỉ dài như vậy, theo ba tôi là để tôi tập
cách làm rể cho phải phépv́ bên ấy là gia đ́nh lễ
nghĩa.
Rồi giờ H cũng đến. Đoàn
rước dâu khá đông, ba má tôi, ông mai một nhân vật
quan trọng trong bất cứ lễ cưới nào
của Việt Nam, phải là một người có danh
phận, đạo đức, giỏi ăn nói, am hiểu
lề lối tập tục…, c̣n có các các vị thân
bằng quyến thuộc của gia đ́nh, một số
nam nữ thanh niên cho buổi lễ thêm phần xuân sắc.
Ngoài ra một nhân vật cũng rất quan trọng và
nổi bật, đó chú rể phụ. Tiếng là phụ,
song các chú rể phụ rất sáng giá đối với các
cô đưa dâu và nhứt là cô dâu phụ bên đàng gái. Tôi
chọn chú rể phụ nầy là anh Lành v́ nhiều lư do,
anh là bạn học chữ Nho với Thầy tôi, nhà anh cùng
làng với tôi, anh cùng học sư phạm và cùng làm
thầy giáo như tôi và nhứt là anh rất hiền.
Chúng tôi khởi hành rất sớm. Con
đường quá quen thuộc với tôi từ bụi
cây, đám cỏ, đụn đất, g̣ cao… mà tôi đă
sáng đi chiều về, gợi lại trong tôi biết bao
kỷ niệm thời thơ ấu. Trên đường
đi rước dâu, mà h́nh ảnh cô dâu không có trong tôi, mà
chỉ có h́nh ảnh Thầy tôi với dáng vóc gầy g̣ v́
tuổi đời, tiều tụy v́ miếng ăn
tấm áo.
Thùng th́nh trong cái áo rộng dày cui, cái
quần trắng dài lệt bệt, tôi lê bước chân
đă rát bỏng v́ đôi giày mới mua, trông cho mau
đến nơi. Ông mai đi bên cạnh tôi lẩm
bẩm…ngày…tháng…giờ Tỵ, giờ Tỵ…rồi ông
lại lẩm bẩm…giờ Tỵ là mấy giờ?
Rồi như sành sỏi lắm, ông co tay lên bấm…Tư,
Sửu, Dần, Mẹo…À, giờ Tỵ chắc là…tám
giờ sáng, tám giờ sáng…giờ kiết mà.
Sau gần một tiếng đồng
hồ, nhà Thầy tôi đạ lú dạng sau rặng cây.
Ông mai sợ trễ nên hối thúc đoàn người nhanh
chân. Đến nơi, ông ra lịnh:
- Dừng lai, chỉnh đốn quần áo
chỉnh tề, sắp sửa lại lễ vật, Trầu
rượu nhang đèn xong chưa?
Tất cả răm rắp vưng
lịnh. Ông chạy đến chú rể phụ nói nhỏ
điều ǵ đó, coi bộ khẩn trương lắm.
Đến bên tôi, ngắm lai bộ quần áo thùng th́nh
của tôi, nói:
- Tới rồi nghen! Đàng hoàng nghen!
Ông đảo mắt một ṿng, thấy
đâu vào đấy, nh́n lên mặt trời rồi ra
lịnh:
- Bà con đợi tôi vào xin phép nhập gia,
rồi ḿnh vô. Nghe chưa!
Ông dẫn chú rể phụ mang theo khai
trầu rượu, tiến về phía cổng nhà Thầy
tôi. Đến cổng thấy c̣n khóa, ông nhóng cổ nh́n vô
nhà, con chó mực sủa vang. Ông tằng hắng. Không ai ra.
Ông lớn tiếng gọi. Không ai trả lời. Ông kéo cánh
cửa cổng nghe lộp cộp làm cho con chó mực
gầm gừ hơn. Mất kiên nhẫn, ông mai lớn
tiếng gọi ơi ới, trong nhà có ai đó đi ra nói
ǵ đó, khiến ông tiu nghỉu trở ra, vẻ mặt bí
xị. nói:
- Ở trỏng người ta nói chưa
tới giờ nhập gia.
Có người hỏi:
- Chừng nào?
Ông trả lời xuôi c̣:
- Ai biết!
Thế là đoàn rước dâu chúng tôi
lại phải chờ và chờ,,,chờ cái giờ Tỵ
tốt lành đây. Nắng lên, mọi người không c̣n
giữ ǵn được nữa, ngồi bệt xuống
hai bên lề đường. Các cô gái cũng không c̣n
kiểu cách, t́m mấy gốc cây dựa lưng, phấn
son loang lổ. Chú rể phụ, từ sáng lạc quan bao
nhêu, bây giờ lại uể oải bấy nhiêu. Chú t́m
nơi để khai trầu rượu xuống, rồi
bỏ đi vào mọt lùm cây.
Ông mai lóng ngóng nh́n vào cổng nhà đàng gái,
xem coi có dấu hiệu nào cho biết giờ Tỵ đă
tới chưa. Trời bỗng râm mát. Mọi người
thở dài nhẹ nhơm. Giờ Tỵ chưa tới cũng
được, miễn là trời mát là được
rồi. Ông mai chạy tới chạy lui động viên:
- Giờ khắc quan trọng lắm,
vợ chồng ăn ở với nhau có thuận ḥa hay
không, có con đàn cháu đống hay không là do giờ
tốt, vậy chờ một chút có sao đâu.
Mọi người lại an tâm, nhứt là
tôi, v́ tôi là người trực tiếp chịu ảnh
hưởng mà. Tuy nhiên, nỗi mừng chưa trọn th́
mưa đă lắc rắc rơi. Gió nổi lên, bầu trời
xám xịt. Tiếng mưa càng dồn dập. Ông mai
chạy lại cổng nh́n vào nhà, con chó mực lại
gầm gừ mà vẫn không có ai ra mời vô. Giờ Tỵ
vẫn chưa đến. Cái giờ tốt lành này c̣n xa,
c̣n mưa th́ đă gần, càng ngày càng lớn. Những cây
dù che nắng giờ nầy được giương lên
để chống chọi với những hột mưa
càng ngày càng nặng. Cánh cổng nhà cô dâu vẫn im ỉm.
Thế là cả đoàn rước dâu theo
bản năng, đă tự động chạy vào một
ngôi nhà gần đó để đụt mưa. Tôi cũng
không lạ ǵ đối với ngôi nhà nầy. Chủ nhân
của ngôi nhà cũng là một chức sắc trong làng, cùng
trạc tuổi với ba tôi, lẽ tức nhiên là hàng xóm
của ba má Thu Cúc. Những người khách không mời mà
vô, lúc đầu c̣n e dè nên chen chúc ở hàng ba, hai bên chái.
Chủ nhân từ trong nhà bước ra niềm nở
mời vô nhà. Ông mai ngại sự kiêng cử ǵ chăng, nên
tỏ lời chối từ nhưng chủ nhân cởi
mở:
- Mời tất cả quí ông quí bà vào trong,
cho khô ráo rồi uống nước, chờ đến
giờ rồi ḿnh nhập gia có sao đâu!
Thế là chúng tôi vào trong nhà. Vô t́nh, ba má tôi
ngồi ở bàn giữa cùng các vị cao tuổi, bên kia là
hai ông bà chủ nhà tốt bụng. Các cô các cậu vui
vẻ chiếm lĩnh hai bộ ván hai bên. Chú rể phụ
và chú rể chánh vẫn đứng dựa cột, trên tay
người nầy khai trầu rượu, trên tay
người kia một bó hoa. Thoạt nh́n th́ quả đây
là một lễ rước dâu, chớ không phải là
cảnh đụt mưa. Bà chủ nhà gióng tiếng vào
trong.
- Phụng ơi, đem nước ra con.
Từ trong nhà sau, Phụng đi ra, tay
bưng một mâm b́nh trà, tách uống nước, cúi
đầu chào chung mọi người, nhưng với
riêng tôi, cô nheo mắt một cách ranh mănh, thầm nói với
tôi một điều ǵ, mà tôi nghĩ là cô cố ư chọc
ghẹo tôi. Sau khi đăi nước ở bàn chánh, cô
bưng lại hai tách nước đến bên tôi và chú
rể phụ, với một giọng đùa cợt:
- Mời chú rể chánh và chú rể phụ
uống nước rồi đi rước dâu kẻo
lỡ hội.
Cô Phụng vốn là bạn học sư
phạm với chúng tôi, cùng ra dạy nhưng
được về tỉnh nhà v́ là nữ. Cô dạn
dĩ, vui vẻ, cởi mở nên được mọi
người yêu mến. Trong lúc đó, ba má tôi nói chuyện
ǵ đó với ba má Phụng, coi có vẻ tâm đắc
lắm. Mưa dần dứt hột, trong khi đoàn
người chúng tôi ấm áp trở lại, trong bầu
không khí vui vẻ của gia đ́nh hiếu khách nầy. Trái
lại với lúc mới đến, giờ đây mọi
người lại ngại một việc có vẻ trái
ngang, là phải ra ngoài để nhập gia. Ai cũng
nghĩ với bộ vận như vậy, quần áo
ướt sũng, giầy guốc bùn śnh, đường
lộ lầy lội, mọi người cũng đă ngao
ngán cái cảnh đợi chờ bất tận. Cho nên khi
có một đại diện bên đàng gái, đến xin
phép ông chủ nhà cho vào gặp ba má tôi, để báo tin
giờ Tỵ đă đến, có thể tiến hành
lễ nhập gia. Ba tôi đứng lên từ tốn
thưa lại:
- Xin nhờ tŕnh với anh chị tôi, là tôi
xin phép hoăn lại cuộc rước dâu hôm nay, và xin
được thảo luận sau để định
ngày trở lại. V́ như ông thấy, t́nh cảnh chúng tôi
như vầy mà tiến hành lễ, xem ra bất kính quá.
Thế là lễ rước dâu của tôi
không thành. Đoàn người trên đường về xem
ra c̣n vui vẻ hơn khi đi. Ông mai cụt hứng v́ không
có cơ hội để trổ tài ăn nói, miệng
vẫn lẩm bẩm giờ Tỵ, giờ Tỵ… Ba má tôi
không nói ǵ, nhưng dường như hai ông bà cũng không
buồn v́ đón dâu hụt. Các cô, các cậu đi
rước dâu cứ theo chọc ghẹo chú rể phụ
và tôi. Trông bộ dạng của tôi trên đường
về, áo dài thụng ướt sũng nặng ch́nh
chịch, chiếc khăn đóng lột ra cặp nách,
đôi giày hàm ếch xách trong tay, ống quần be bét bùn
đất, thật tội nghiệp làm sao!
Dù vậy tôi tỉnh bơ, không hụt
hững, không thất vọng, v́ từ lúc tôi cắp dù
đi coi vợ cũng do ba má tôi bảo, lúc đi làm lễ
mấy lượt cũng do ba má tôi bảo, rồi khăn
đóng áo dài đi rước dâu cũng là do ba má tôi
điều động…tôi có làm chủ tôi đâu. Đặt đâu ngồi đó
mà. Hơn nữa Thầy tôi
đă từng ngâm nga: Quân
xử thần tử, thần bất tử bất trung.
Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu.
Cái câu trước, tôi không để ư lắm v́ vua chúa
tôi ở đâu, tôi không biết, mà ổng cũng không
biết tôi. C̣n câu sau th́ gay lắm. Cha ở sát bên ḿnh tôi th́
ổng xử thế nào, ḿnh phải chịu thế
ấy. Hơn nữa ông có xử ǵ nặng cho cam: Đi cưới
vợ, sướng lắm rồi.
Tôi hết phép lại trở về
nhiệm sở dạy học, có điều các bạn
đồng nghiệp được tôi mời về
ăn tiệc cưới, mà không có cô dâu nên khoái chí, lan
truyền thành một vấn đề thời sự nóng
bỏng.
Một năm sau, cũng một đoàn
rước dâu, cũng ba má tôi, cũng ông mai chuyên nghiệp
đó, cũng thân bằng quyến thuộc đó, cũng
các cô cậu thanh niên đó, cũng chú rể đó lên
đường…chỉ có thay đổi một
người, người đó là chú rể phụ, anh Lành,
v́ anh bận không thể giúp tôi được. Con
đường vẫn là con đường cũ,
khoảng cách giữa họ đàng trai và đàng gái cũng
không tay đổi. Chỉ có khác là nhà cô dâu bây giờ không phải là nhà của Thu Cúc, mà là
nhà của cô dâu khác, cô dâu Minh Phụng.
Số là ba má tôi cám cảnh gia đ́nh
của Phung, nhứt là Phụng cũng là bạn học và
là đồng nghiệp của tôi, nên đă trầu
rượu đến nhà ba má Thu Cúc để tạ
tội và từ hôn. Sau đó ba má tôi lại xin làm sui gia
với ba má Minh Phụng.
Lần rước dâu nầy, ông mai không
phải tốn nhiều công sức, mà lễ rước
dâu vẫn được tiến hành theo đúng thông
tục, gọn gàng, nhanh chóng, với sự hài ḷng của
mọi người.
Trên đường về đi bên cô dâu
Minh Phụng, vậy mà tôi thiếu mất sự vui
mừng, ḷng háo hức của một chú rể. Ḷng tôi nao
nao một nỗi buồn, một ray rứt xâm chiếm tâm
hồn tôi. Tôi nhớ đến… Thu Cúc từng giai
đoạn khi c̣n nhỏ. Lúc quây quần đọc bài,
sắp xếp bộ văn pḥng tứ bảo của
Thầy, lúc cùng quét sân đun nước, lúc tôi được
Thầy khuyên đỏ, Thu
Cúc đă nh́n tôi có vẻ tŕu mến, lúc Thu Cúc chịu
đ̣n đau mà không hề khóc, ngày tôi đi coi mắt Thu Cúc, Thu Cúc đă giả vờ cúi
xuống để được nh́n tôi…Tôi c̣n
mường tượng Thu Cúc đă buốn biết bao
nhiêu, khi lễ rước dâu năm ngoái bất thành, và hôm
nay… hôm nay trong khi tôi làm lễ trước từ
đường của gia đ́nh Minh Phụng, trời
ơi! Thu Cúc đă nghĩ ǵ?
Và tôi cũng nhớ đến Thầy tôi,
một nhà Nho lỡ vận, mưu cầu đem chữ
Thánh hiền lưu truyền lại cho đàn con cháu.
Nhớ tới Thầy, khi tṛ nộp bài viết với
tuồng chữ đúng bộ, đúng nét, sổ
đứng, gạch ngang cứng cỏi, Thầy vỗ
đầu khen bảo là sẽ có chí khí. Nhớ tới
Thầy, khi Thầy đánh đ̣n, vẫn biết học
tṛ chơi khăm lót đít mo cau, mà vẫn giả đ̣
như không biết. Nhớ tới Thầy đă cùng ông
nội tôi, giao ước đính hôn cho tôi cùng Thu Cúc…
Thế mà tôi đă phản Thầy, không
giữ tín nghĩa. Tôi lại nhớ Thầy, mỗi
lần học tṛ hư, Thầy lại gánh lấy trách
nhiệm v́ Thầy bảo: Giáo
bất nhiêm sư chi đọa. Đó là Thầy cao
thượng tự trách ḿnh, nhưng trường hợp
của con th́ không như vậy, v́ chính con là đứa
học tṛ bất ngh́ bất nghĩa, hư thân mất
nết, không noi gương Thầy sống cuộc
đời an bần lạc
đạo.
Nhớ đến Thu Cúc, tôi chỉ
thương cảm, ngậm ngùi. Nhớ đến
Thầy, tôi không cầm được nước mắt
lă chă. Tôi nói với tôi: “Thầy ơi, nhứt định
con sẽ chuộc tội trước Thầy.”
* * *
Năm tháng qua, hai mươi năm sau,
cũng một lễ rước dâu, cũng xuất phát từ
nhà tôi, cũng trên con đường mà tôi đă hai lần
đi rước dâu. Có điều là lần nầy chú
rể không phải là tôi, mà là con trai đầu ḷng của
tôi. C̣n tôi và vợ tôi đă lên hàng thông gia. Trên
đường đi đến họ đàng gái, tôi
chợt lại lần rước dâu bất thành với
Thu Cúc, tôi không cảm thấy buồn mà trái lại tôi vui
vẻ hơn bao giờ hết. Tôi mong sao nhanh chóng
đến nhà họ đàng gái để đón cô dâu, cô con
dâu của tôi, có lẽ tôi c̣n nôn nóng hờn thằng con trai
của tôi. Vợ tôi biết ư tôi, nên nh́n tôi mỉm
cười.
Đoàn rước dâu lần nầy
cũng đến ngôi nhà của Thầy tôi, mà giờ
đây là nhà của Thu Cúc hay nói đúng hơn là ngôi nhà
của vợ chồng Thầy giáo Lành, chú rể hụt
của tôi năm xưa. Cũng cổng cũ nhưng
được mở toang tự lúc nào. Chúng tôi vào nhà.
Được phân ngôi chủ khách nơi bàn giữa, bên
đây là vợ chống chúng tôi, bên kia là vợ sui gái,
tức là Thầy giáo Lành và vợ là Thu Cúc. Ông mai
định mở lời để tiến hành nghi
thức, nhưng tôi xin phép thông gia cho tôi được làm
lễ Thầy tôi trước.
Tôi đứng lên cầm khai trầu
rượu, đến bàn thờ Thầy tôi, đốt ba
nén hương, rót ba chung rượu, chắp tay xá Thầy
và thưa rằng:
- Thưa Thầy, thằng học tṛ
bất ngh́ nầy hôm nay đến chuộc trước
Thầy đây. Xin Thầy lấy lượng khoan dung mà
tha tội bất tín, bất nghĩa cho nó. Mặc dầu
Thầy đă từng giảng cho con nghe: Hữu duyên thiên lư năng tương ngộ. Vô duyên
đối diện bất tương phùng. Tuy vậy
trong bất cứ trường hợp nào ở đây, con
cũng là người có tội với Thầy.
Nói đến đây, ḷng tôi xúc động,
cổ họng nghẹn ngào, nước mắt trào ra, tôi
kéo thằng con trai tôi đến trước bàn thờ,
bảo nó khoanh tay lại và tôi thưa tiếp:
- Thưa Thầy, hôm nay con đem đứa
con trưởng của con về nhà Thầy, để nó
được diễm phúc gọi Thầy là ông cố và
cũng được gọi Thu Cúc là má, có như vậy
con mới chuộc được tội của con.
Được vậy ḷng con sẽ nhẹ nhàng hơn. Xin
Thầy nhận ba lạy của con.
Tôi lễ Thầy xong, trở lại bàn
ngồi. Ông mai đứng lên định mở lời
tiến hành nghi lễ, nhưng vợ chồng Giáo Lành
ngăn lại và nói:
- Thôi, anh sui chúng tôi lễ ra mắt ông bà như
vậy đă đủ rồi. Chỉ cần thằng
Trung Nghĩa và con Hiếu Thuận lạy ra mắt ông
cố là xong. Chúng ta dự tiệc.
Tôi vui quá nên có lỡ lời mà sao không ai
bắt lỗi cả:
- Ư, thằng Trung Nghĩa và con Hiếu
Thuận c̣n phải lay ra mắt hai ba hai má nữa chớ.
* * *
Chiều lại về nhà, vợ tôi
thấy tôi vui vẻ, nói cười luôn miệng, nên hỏi
tôi:
- Sao mà ông vui dữ vậy?
Tôi nói:
- Đám cưới mà.
Bà lại tiếp:
- Đám cưới của con chớ
bộ của ông sao?
Chỗ nầy tôi hết căi nên làm thinh.
Vợ tôi mon men lại gần tôi, nói tiếp:
- Gặp chị Thu Cúc coi bộ mừng quá
hén?
Tôi mắc cỡ nh́n chỗ khác. Thật
sự tôi vui, không v́ tôi gặp lại Thu Cúc, mà tôi vui v́ tôi đă nói được với
Thầy tôi, lời tạ lỗi tưởng chừng
như không bao giờ có, nếu trời không giúp tôi.
Bất giác, tôi lẩm bẩm trong miệng:
Gia nhà, quốc nước,
tiền trước, hậu sau, lục sáu, tam ba……