NGUYỄN NGỌC
TƯ – NHÀ VĂN TRẺ NAM BỘ
Huỳnh Công Tín
Tôi bắt đầu
đọc tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư cách nay vài năm. Lúc
đó, chị Nguyễn Ngọc Tư, nhà văn Nam Bộ
sinh trưởng ở đất Đầm Dơi - Cà Mau,
đă tạo được tiếng vang nhất định
trong ḷng người đọc với tác phẩm "Giao
thừa". Lúc ấy, tôi đă khởi công làm quyển
"Từ điển từ ngữ Nam Bộ". Tôi quan
tâm tới sáng tác của chị nhiều là v́ để làm
quyển từ điển ấy, tôi rất cần
những dẫn liệu của các nhà văn Nam Bộ. Các
sáng tác của nhà văn Nam Bộ lớp trước th́
dễ t́m, dễ lấy dẫn liệu, v́ ngôn ngữ
của họ c̣n thuần chất Nam Bộ; c̣n sáng tác
của các nhà văn Nam Bộ hiện nay th́ không dễ có.
Mà hiện nay, có là nhà văn Nam Bộ đi nữa th́
liệu những dẫn liệu trong sáng tác của họ
có phải là lời ăn tiếng nói của người
dân Nam Bộ hay không? V́ trong thời buổi giao lưu
hiện đại này, giữ được những cái
ǵ là bản sắc của riêng ḿnh không phải là dễ.
Hơn nữa, ở lĩnh vực viết văn, có
nhiều người nghĩ rằng, Nam Bộ không
phải là xứ sở của văn chương, nên c̣n có
nhiều người "ngại" sợ thiên hạ
biết ḿnh là người Nam Bộ nữa hổng
chừng. Bởi đó, có đôi khi họ cố sửa
giọng, nắn giọng, thay đổi thói quen dùng từ
để sao trong tác phẩm của ḿnh, người
đọc cảm thấy có tính toàn dân, hiện đại
hơn. Cá nhân tôi khi làm quyển "Từ điển
từ ngữ Nam Bộ", lại có một suy nghĩ
khác: có được văn phong Nam Bộ của chị
làm dẫn liệu, nói có thể người ta cho là hơi
quá, như "vớ được vàng". Cũng
phải cám ơn người bạn tôi, anh làm ở báo nên
có nhiều thông tin, đă có công giới thiệu về
chị, và cho tôi một bản in photocopy khi chị cho
xuất bản tập truyện ngắn "Giao
thừa", mà thật ra lúc đó chị đă có tên
tuổi khi giành được "giải
nhất" cuộc thi sáng tác văn học Tuổi Hai
Mươi toàn quốc lần thứ hai kết thúc vào ngày
30/ 4/ 2000, với tập truyện "Ngọn đèn không tắt".
Cho đến nay, ngoài
những truyện đăng chung với các tác giả khác
trong những tuyển tập chung, chị đă có
được các tập truyện ngắn riêng sau: Tập
truyện "Ngọn đèn
không tắt" (Nxb. Trẻ 2000), Tập truyện
thiếu nhi "Ông
ngoại" (Nxb. Trẻ 2001), Tập truyện "Biển trời mênh mông"
(Nxb. Kim Đồng 2003), Tập truyện"Giao thừa" (Nxb. Trẻ 2003), Tập
truyện và kí "Nước chảy mây trôi" (Nxb.
Văn nghệ Tp. HCM 2004), "Truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tư" (Nxb. Văn hóa Sài G̣n
2005) và gần đây tác phẩm "Cánh đồng bất
tận" (Nxb. Trẻ 2005) của chị được
phát hành gây nên một tiếng vang mới khen chê đều
có, nhưng dù ǵ th́ hiện nay tên tuổi của chị
không những đă được biết đến
ở cả nước mà h́nh như ở nước ngoài
có nhiều bạn đọc cũng quan tâm. Trong các tập
sách này, có nhiều truyện được chọn in
ở nhiều tập, có lẽ v́ nó thu hút người
đọc, như truyện: "Ḍng nhớ, Nhớ sông, Chuyện của Điệp, Hiu hiu gió bấc, Huệ lấy chồng, Cái nh́n khắc khoải, Nhà cổ, Ngổn ngang...".
Đọc truyện
của chị, người đọc sẽ cảm
nhận được chất Nam Bộ thể hiện
khái quát ở nhiều phương diện của tác phẩm.
Bối cảnh trong các truyện ngắn của chị
phần lớn là vùng đất U Minh. Đó là mảnh
đất cuối trời quê hương, mà nhiều
người chỉ nghe nói tới, chớ cũng không có
lần được đặt chân đến,
đừng nói chi đến việc đi hết vùng
đất Mũi. Trong tác phẩm của chị có một
không gian Nam Bộ với những loại cây, tên gọi
nghe quen, dân dă: "mắm, đước, sú, vẹt,
bần, tra, tràm, choại, quao, ô rô, dừa
nước...", với những vàm, kinh, rạch,
xẻo, tắt chằng chịt, mà tên gọi cũng
gợi trí ṭ ṃ, t́m hiểu ở người đọc:
"vàm Cỏ Xước, Vàm Mắm, kinh Cỏ Chác, kinh
Mười Hai, kinh Thợ Rèn, Rạch Mũi, Rạch Ráng,
Rạch Ruộng, Xẻo Mê, Xẻo Rô, Lung Lớn, G̣ Cây
Quao...", hay những tên ấp, tên làng, tên chợ
nhiều chất Nam Bộ: "xóm Xẻo, xóm Rạch, xóm
Kinh Cụt, xóm Miễu, chợ Ba Bảy Chín, Cái
Nước, Trảng C̣, Đất Cháy, Mút Cà Tha...". Nhân
vật trong tác phẩm của chị là những con người
Nam Bộ với những cái tên cũng hết sức b́nh
dị, chân chất kiểu Nam Bộ: cách đặt tên theo
thứ, và cách xưng gọi thứ kết hợp với
tên: "Hai, Ba, Tư, Chín, Út...; Tư Nhớ, Năm
Nhỏ, Sáu Đèo..." mang những tâm tư, nguyện
vọng cũng hết sức nhỏ bé, đời
thường. Đó là những con người sinh sống
bằng những ngành nghề cũng gắn liền
với quê hương sông nước Nam Bộ, như:
"nghề sông nước, nghề nuôi vịt chạy
đồng, nghề theo gánh hát...", ngoài những ngành
nghề truyền thống làm ruộng, làm rẫy, đan
lát... Đặc biệt, vùng đất và con người
Nam Bộ trong các sáng tác của chị được
dựng lại bằng chính chất liệu của nó là
ngôn từ và văn phong nhiều chất Nam Bộ của
chị.
Truyện của
chị đa phần dừng lại ở những t́nh
cảnh gia đ́nh nghèo, đề cập đến số
phận buồn của những con người nhỏ bé,
những nông dân chân chất với những ước
mơ và cuộc sống hết sức b́nh dị
đời thường rất đáng cảm thông, trân
trọng, nhưng đôi khi cuộc đời nghiệt ngă
cũng không cho họ được như ư,
được toại nguyện, như: "Chuyện của Điệp", "Nhớ
sông", "Đau ǵ như thể...", .
Truyện "Chuyện của
Điệp" nói về một cô bé lớn lên với
ngoại, nhưng có tâm hồn đa cảm, bao dung: "Má
à, sáng này má kêu con Giàu theo con ra đoàn, mấy bộ
đồ của bé Bơ c̣n nguyên một giỏ y thinh, con
gởi nó đem về cho má, mai mốt má sanh cho em bé
mặc, nghen má.".
Hay truyện "Nhớ sông", nói về
cảnh bất hạnh của gia đ́nh ông Chín, vợ
mất sớm v́ một tai nạn bất ngờ trên sông
nước, để ông phải lâm vào cảnh "gà
trống nuôi con". Dù nghèo, nhưng ba cha con vẫn gắn
bó với nhau bằng một t́nh thương yêu hết
sức thiêng liêng, cảm động. Đọc truyện
này nhiều người phải rơi nước mắt
v́ cảnh gia đ́nh ông Chín: "Gia đ́nh ông Chín sống
hẳn trên ghe. Cảnh của ông cũng buồn lắm.
Nhà nghèo, ra riêng, gia đ́nh chỉ cho hai công đất.
Năm Giang ba tuổi, Giang lên sởi. Ông chín bán đất
cứu con. Số tiền con dư lại, ông mua chiếc
ghe nhỏ đi bán hàng bông. Cả nhà dắt díu nhau linh
đinh sông nước.". Cảm động nhiều là
đoạn nói về t́nh cảnh trong quá khứ, khi mỗi
lần ghe ông ghé lại, đứa trẻ con ông lại lên
bờ chạy như điên dại, và lúc ấy, nó như
t́m lại được khoảng trời tuổi thơ
đầy mơ ước, mà điều này khiến
vợ chồng ông đau xót qua tâm sự: "Có lúc, vừa
ghé lại bờ, chưa kịp buộc dây ghe vô gốc
mắm, do quẩn chân lâu ngày, Giang đă chạy lên bờ,
chạy cuống chạy cuồng như vui như điên
trên đất, má Giang rớt nước mắt, "Con nó
thiệt tḥi...". Ông Chín an ủi, "v́ miếng ăn
mà, ḿnh ơi.".".
Cuộc sống nghèo
khổ tạo cho con người một nghị lực,
lâu dần trở thành thói quen, mà thói quen dễ làm con
người nhớ. Dù nỗi nhớ của những con người
nghèo khổ này "lạ quá!", mấy ai "thông
cảm" được: "Ghé Đập Sậy, Giang
đ̣i ông Chín ở lại một đêm, cho Giang xuống
ghe ngủ với con Thủy. Giang than nức nở,
"Trời ới, con nhớ ghe quá trời đất
đi". Xuống ghe, Giang ṃ mẩm từng món hàng,
từng miếng sạp." (Nhớ sông).
Đọc truyện
của chị người đọc có băn khoăn:
ở vùng đất đồng bằng này, c̣n bao nhiêu gia
đ́nh đang ở vào t́nh cảnh như gia đ́nh ông
Chín, gia đ́nh của Điệp, gia đ́nh của cha con
Tư Nhớ?!
Truyện của
chị c̣n đề cao nhân phẩm của những con
người lao động nghèo. Họ thiếu thốn
tiền bạc, nhưng không nghèo t́nh nghĩa mà lại giàu
nhân cách, trách nhiệm. Truyện "Đau ǵ như
thể..." lại là một bi kịch của 3 thế
hệ: ông, mẹ, cháu. Cả ba nương tựa vào nhau
bằng niềm vui sống mong manh, nhưng cũng hết
sức mănh liệt, bền bĩ. Tư Nhớ bị hàm
oan v́ "sự loạn luân". Thiên hạ đồn
đại dai dẵng, trong đó có người của
chính quyền xă Xẻo Mê cũng cho rằng, con của Nga
cũng chính là con của Tư Nhớ - cha của Nga, và ông
đă bị nhốt mấy ngày ở Ủy ban v́ chuyện
này. Đoạn viết về t́nh cảnh này của cha con
chú Tư hết sức xúc động: "Đứa
trẻ ngày xưa bây giờ đă làm mẹ một
đứa trẻ khác, cũng môi đỏ, mắt đen.
Hôm ở trạm xá về, ở xóm người ta lại
thăm nườm nượp, không kịp nh́n đứa
trẻ, nắc nẻ khen liền: "Trời ơi
thiệt là giống chú Tư quá he". Có người
chưa đi quá cái miễu ông Tà đă cười cợt
bàn với nhau, hỏng biết thằng nhỏ kêu ông Tư
Nhớ là ǵ ha, là ngoại hay cha. Ông đang quạt mẻ than,
nghe câu ấy thảng thốt nh́n tro bụi tơi bời,
con gái nỉ non, ba ơi, kệ con, coi chừng
người ta thấy, nói tới nói lui. Ông già nổi
quạu đùng đùng, "Thiên hạ để tôi
sống đàng hoàng như một con người
chớ". Tiếng kêu nghe thấu đến trời, sao
đồng loại con người không học cách hiểu
nhau." (Đau ǵ như thể...)
Chuyện oan khuất
của một đời người là nỗi đau âm
ĩ, dữ dội của chính họ, nhưng
người khác vô tâm th́ sao có thể chia xẻ cho họ
được. Ông đă nhiều lần dành dụm
tiền, viết lại đơn để lên các cấp
Ủy ban xin được minh oan, xă th́ bảo ông lên
huyện, "rồi huyện chỉ lên tỉnh, tỉnh
hứa để từ từ coi lại", "Lâu lâu,
ông tới để nhắc chừng, mỗi khi hay có
sự thay đổi, luân chuyển lănh đạo, ông
đến nộp thêm bộ đơn nữa.",
nhưng người ta xem chuyện đó đơn
giản, khi nghe ông tŕnh bày sự việc: "-Ủa,
đơn giản vậy thôi hả?" làm ông quá thất
vọng. Khi "chính quyền sai" ông không khiếu
kiện, chỉ xin hai chữ "minh oan", nhưng
họ trả lời ông cũng hết sức "vô tâm,
cửa quyền": "Biết chú bị oan là tụi tui
thả liền, chú c̣n đ̣i ǵ nữa?", hay:
"Chuyện của chú thấy vậy mà căng lắm,
hồi trước giờ chính quyền chưa xin lỗi
trước dân lần nào, tôi đâu có dám phá lệ, hay chú
lên huyện hỏi thử coi...". Ngày xưa nói,
"chính quyền là công bộc của dân". Bây giờ
nói, "cán bộ là đây tớ của dân", nhưng
xem ra câu nói ấy chỉ dừng lại ở cửa
miệng.
Truyện "Cải
ơi!" cũng đề cập tới t́nh cảnh
của ông già Năm Nhỏ phải chịu tiếng oan là
"giết con" khi nhỏ Cải (con của vợ
ông), làm mất đôi trâu, sợ đ̣n, bỏ trốn.
Cuộc hành tŕnh dài lặn lội đi t́m đứa con,
với nhiều "phương kế" của ông,
của một người "cha ghẻ" (bố
dượng) để mong t́m được con Cải, có
nhiều chi tiết hết sức t́nh người, rất
xúc động. Những chi tiết này là cuộc sống
sinh hoạt đời thường, b́nh dị, giàu
chất Nam Bộ và cũng thấm đượm t́nh
người: "Ông già Năm Nhỏ lặng đi, tự
hỏi, bây giờ ông lên ti vi, con Cải có nhận ra ông
không. Câu trả lời là có, ông đă dắt con nhỏ
đi hái xoài chín trong vườn hoang, đă chặt
chuối làm bè dạy cho nó lội, thả trâu, chơi
diều, ông đă cơng con nhỏ đi tắt mấy
vạt đồng đến khám bệnh chỗ ông bác
sĩ già, mỗi khi nó nhức đầu, sổ mũi. Cây
kẹp nhỏ, mớ dây thun khoanh, mấy cục kẹo
dừa vung vinh trong túi áo mỗi khi ông đi chợ
về... Tất cả những thứ đó, ông nhớ
mồn một th́ nhỏ Cải chắc chưa quên. Ông già
muốn lên ti vi để nhắn đứa trẻ bỏ
nhà rằng, về đi con ơi, đôi trâu có sá
ǵ!".
Nhân vật trong
truyện của chị phần lớn là những con người
ít phản kháng trước những ngang trái, bất công,
nhưng giỏi sự chịu đựng. Cụ thể
như gia đ́nh Tư Nhớ trong truyện "Đau ǵ
như thể...", hoặc một nhóm người nông
dân nghèo ở Trảng C̣, trong truyện "Lỡ mùa":
Người nông dân khổ v́ không có đất canh tác do những
quy hoạch treo. Họ mất đất, nên luôn ao
ước được cày bừa trên mảnh
đất của chính ḿnh, mỗi khi thấy mưa
về, nhưng giờ đây cũng không được:
"Trời vẫn trĩu đầy nước, tối
âm u, ông Ba thấy núi mây đen thẫm dựng lên một
mảng trời phía Trảng C̣, ông chắc lưỡi
như xót xa lắm, điệu này dưới ḿnh mưa
lớn dữ, đất chắc ch́m hết rồi,
đồng chỉ chắc c̣n loi ngoi cỏ, muốn cày,
bừa cũng khó lắm đây. Ông Ba già nghe ruột ḿnh nôn
lên, từng khúc, từng khúc, nghẹn ứ đến
mức ông không lên tiếng được." (Lỡ
mùa).
Trong những sáng tác
của chị, có rất nhiều truyện chị
đề cập tới t́nh yêu đôi lứa ở nông
thôn, với những ước mơ, đơn giản,
b́nh dị. Có những t́nh yêu đi đến kết
cục nhưng phải qua bao nhiêu thăng trầm, sóng gió,
như truyện: "Bến đ̣ xóm Miễu", nhưng
có rất nhiều t́nh yêu dang dở, xót xa, v́ nhiều
lẽ: nghèo, thiếu học, không dám mở lời, ngang
trái gia đ́nh, hoàn cảnh... Đó là những mảnh t́nh
yêu đẹp, góp phần điểm xuyết thêm cho
mảng hiện thực buồn của nông thôn vốn yên
tĩnh trở nên "xao động". Có các truyện:
"Lí con sáo sang sông", "Ngổn ngang", "Nửa
mùa", "Chiều vắng", "Huệ lấy
chồng", "Hiu hiu gió bấc", "Nhà
cổ"...
Truyện "Hiu hiu gió
bấc" là một t́nh cảm đẹp nhưng bất
thành đă để lại nỗi đau ở hai con
người tha thiết yêu nhau: "Hôm đám, anh hết
c̣n tỉnh bơ ngồi ngoài bờ, dưới gốc
c̣ng, hào hứng bày cờ ra chơi với mấy
đứa nhỏ. Đám bạn gái ai cũng x́ xầm,
chắc thằng Hết không thương thiệt con Hoài
nên mới dửng dưng vậy. Chị Hoài nghe mà khóc không
thôi, bảo với chị Hảo, có cái tiếng bạc
t́nh ảnh cũng gánh cho em rồi.".
Có khi t́nh yêu đến
bất ngờ, rồi vội đi, để lại
một khoảng trống cho thực tại và một
kỉ niệm đẹp trong quá khứ, như ở truyện
"Cái nh́n khắc khoải", chị viết:
"Chị bật khóc, con Cộc điềm đạm
lại cái mẻ lúa, nó ăn chậm răi. Ư nói sao mà tội
nghiệp hai người quá đi, làm người mà
khổ vậy, làm vịt c̣n sướng hơn. Đêm
đó, ngoài nhà xuồng, nó nghe ông thở dài. Tự ḿnh làm
ḿnh chịu, ai biểu...".
Chủ đề tha
hóa cũng được chị đề cập trong
một số truyện, như truyện: "Nỗi
buồn rất lạ", "Cánh đồng bất
tận"... Có thể nói, truyện "Cánh đồng
bất tận" là một cảnh báo về sự tha hóa
ở một lớp người v́ sự nghèo túng và
thất học gây nên, cần phải được
ngăn chặn bằng cách tổ chức một xă hội
tốt hơn nó hiện có. Đọc truyện này,
người đọc có những khen chê trái ngược
nhau. Tôi nghĩ, dù thế nào, đă là nhà văn, viết
được một tác phẩm mà tạo được
sự tranh luận rộng răi ở người
đọc, như hiện tượng Nguyễn Huy
Thiệp trước đây, xét ở một khía cạnh
nào đó th́ thành công lắm rồi. C̣n sự tha hóa th́
ở thời ḱ nào không có, xă hội nào không có, tầng
lớp nào không có. Mỗi tầng lớp có một kiểu
tha hóa khác nhau. Tầng lớp lănh đạo th́ có
người hủ quá, tham ô, quan liêu, cửa quyền,
tắc trách; tầng lớp công chức trung lưu, trí
thức th́ có người vô tâm, mặc kệ, "sống
chết mặc bây", tầng lớp nghèo th́ có
người vướng vào chuyện hút sách, yêu
đương lộn xộn, trộm cắp lặt
vặt... Thành thị tha hóa kiểu thành thị; nông thôn tha
hóa kiểu nông thôn. Có điều, một số
người đọc cảm thấy liều
lượng "hư đốn" trong "Cánh
đồng bất tận" lớn quá, như
"bất tận", đâm ra không tin và phê phán chị v́
có cái nh́n "bôi đen" hiện thực. (Tôi đă
đọc được nhiều ư kiến chê bai của
nhiều người, thậm chí, có người c̣n
nhận xét văn của chị với những lời
lẽ hết sức nặng nề; có cả những
lời đề nghị như muốn "kết
tội" chị mà bản thân tôi cho rằng, ư kiến
ấy là quá đáng.); nhưng số người khác th́ cho
rằng, hiện thực mà chị phản ánh, tuy là hư
cấu nhưng nó phản ánh chân thực đời
sống nông thôn. Có người cho rằng, chị viết
"t́nh dục (sex) nông thôn" nhưng tôi không nghĩ
vậy. Tôi cho rằng sự khen chê th́ tùy bạn, thói
thường miêu tả hiện thực đẹp như
một lời khen; đề cập tới hiện
thực xấu như một lời chê, mà "lời khen
th́ dễ nghe, lời chê th́ khó chịu", nhưng thế
nào th́ cũng xin bạn đọc "cẩn thận"
để tránh nặng lời, qui chụp cho tác giả và
những người có ư kiến phê b́nh khác ḿnh. Cá nhân tôi
thích truyện này ở quan cảnh nông thôn mà qua vài nét
chấm phá của chị, hiện ra một nông thôn Nam
Bộ đặc thù, ai đă từng sống ở nông thôn
cũng thấy thích bức tranh đồng quê ấy.
Chị viết: "Lần đầu tiên hai chị em tôi
lạc giữa đồng. Cơn mưa buổi xế
chiều làm tắt rụi ánh mặt trời, và đêm
tối nhanh chóng ập xuống. Mưa giăng bốn
bề, những rặng vườn trở nên xa vời,
mờ mịt, căn liều và chiếc ghe của ḿnh
nằm ở phía nào vậy ta, Điền hoang mang hỏi.
Chúng tôi lội xom xom xuống một mé vườn và ră
rời tuyệt vọng xua bầy vịt quay ra...".
Ở một đoạn khác chị viết: "Bây
giờ, gió chướng non xập x̣e trên khắp cánh
đồng Bất Tận (tên nầy tôi tự dưng
nghĩ ra). Ven các bờ ruộng, bông cỏ mực như
những đường viền nhỏ liu riu làm dịu
lại mảng rực vàng của lúa. Rất thính nhạy,
(như kên kên ngửi được mùi xác chết), đám
thợ gặt đánh hơi kéo đến, nhưng
người nuôi vịt chạy đồng lục tục
ở đằng sau...".
Trong nhiều truyện
ngắn, khả năng miêu tả tâm lí ở người
và vật của chị tỏ ra khá sắc sảo. Đó
là đoạn viết về lăo nông nuôi vịt chạy
đồng và người phụ nữ t́nh cờ
được ông "cưu mang" với con vịt xiêm
tên Cộc thường ngày vẫn là bầu bạn của
ông. Những chi tiết trong đoạn truyện "Cái
nh́n khắc khoải" cho thấy sự am hiểu
của chị hết sức tường tận về
vùng đất đồng bằng và tâm lí của con
người Nam Bộ từng trải này:
"Tháng chín. Gió
chướng non xập x̣e trên ngọn dừa. Ông trở
về kinh Mười Hai, quê ruột của ông. Chèo gần
tới nhà ông thấy một người phụ nữ
ngồi dưới bực cỏ đợi tàu. Chiều
rồi, tàu cuối chạy lúc ba giờ rưỡi đi
qua đă lâu lắm. Dưới ghe ngó lên, mặt
người phụ nữ buồn so, buồn như
sắp đâm đầu xuống sông mà chết. Ông
khập khựng cho ghe đi tới. Qua khỏi đám lá,
ông quạt chèo trở lại. Ông hỏi chị nọ
đi đâu, chị khóc như mưa bấc, "Tôi
cũng không biết ḿnh đi đâu". Lăng xẹt
vậy đó. Ông ngại ngần ngó những tia nắng
đỏ cuối cùng đậu phía đám dừa
nước:
- Cô có sao không?
Người phụ
nữ lắc đầu. Ông biểu chị xuống ghe cho
quá giang. Chị vẫn khóc.
- Tôi biết đi
đâu mà quá giang bây giờ. Hay... làm ơn cho tôi theo anh
đêm nay nghen.
Ông suy nghĩ rất
lâu và trả lời một câu nhỏ xíu trong khi tụi
vịt đạp đầu chen nhau dưới sạp
bằng tre đóng thưa thớt rộ lên lạc cạc
inh ỏi. Đôi chân đàn bà dè dặt bỏ xuống
đầu ghe, con Cộc cúi đầu không nói không rằng
lùi lũi lại tính mổ một cái vô chân chị mừng
chơi nhưng ông la: "Cộc! Bị đ̣n nghen
mậy". Nó dừng lại, đủng đỉnh quay
đi. Chị khịt mũi cái sột, lau nước
mắt kêu: "Trời, vịt ǵ mà khôn quá vậy?". Con
vịt ngoắc ngoắc cái đầu lại, ư nói,
vịt xiêm chớ vịt ǵ, thiệt t́nh.".
Một đoạn khác
trong truyện "Nhà cổ" có những chi tiết
chắt lọc kèm với những phân tích, nhận xét
ngắn gọn, đủ cho người đọc nhận
diện tâm lí, tính cách của từng con người ở
trong "Nhân Phủ" tại làng cổ Phương
Điền:
"Năm tôi
mười sáu tuổi, qua bên đó chơi, biết hai anh
đều lặng lẽ để bụng thương
chị Thể mất rồi. Chị Thể mồ côi, từ
nhỏ về ở nhờ trong "Nhân Phủ",
đẹp nết, đẹp người. Sinh thời, má
anh Hải hay nắm tay tŕu mến, "Má có hai thằng con
trai, chừng nào lớn, bây chọn một đứa, làm
con dâu má nghen". Chị Thể chỉ cười
cười, không nói. Chị hiền, dịu dàng như
chiếc lá me, con trai xóm khác gặp một lần c̣n
nhớ, huống chi ba người họ lớn lên cùng
nhau... nhưng nhường qua nhường lại hoài, măi
không ai mở lời. Chú em nhịn ăn sáng, ốm ṛm,
mặt mày xanh ẻo cắc củm dành tiền tha về
cho chị Thể nào kẹp tóc, ṿng bạc, dép, giày... Ông anh
chẳng mua ǵ, nhưng thấy chị vo cơm th́ nhảy
vào thổi lửa, thấy chị sắp giặt
đồ, anh xách nước để sẵn mấy
thùng. Những buổi sớm mai, hai người cùng nhau xào
nhân, nhồi bột, hấp bánh bao. Khói quây lấy cả
hai, khói thơm ngây dại mùi lá dứa. Người em
thức sớm học bài, thấy cảnh đó,
đọc lung tung những câu chẳng có nghĩa ǵ.".
Đoạn tâm sự
của ông già Sáu Đèo, làm nghề bán vé số, về con
b́m bịp và cuộc đời của ông, trong truyện
ngắn "Biển người mênh mông", khắc
họa được h́nh ảnh một con người
Nam Bộ với nghề sông nước đă trở thành
cái "nghiệp chướng" mà dù không c̣n khả
năng phải lên bờ, ông vẫn có rán giữ một
kỉ niệm của vùng sông nước là "con b́m
bịp". Những nhận xét của ông già Nam Bộ này
khiến cho ta phải suy nghĩ lâu hơn về nhiều
lẽ của cuộc đời, về một lớp
người Nam Bộ có tính cách "giang hồ, phóng khoáng,
nặng ân nghĩa": "Đừng nuôi sáo, nuôi sáo
kết cục rồi cũng chia li hà, nó hay sổ lồng,
chết yểu. Kiếm thứ dân dă mà nuôi, để
nhớ quê, nhớ gốc rễ ḿnh, để đi
đâu cũng muốn về nhà. Như qua, nhiều lúc pḥ
con b́m bịp nầy như pḥ bà già vợ vậy mà vui.
Đi bán ở đâu, lâu lâu ông cũng tạt về nhà,
quăng mấy con cá ươn cho "con quỷ
sứ", xong rồi từ giă, "Tía đi nghen".
Trời mưa dầm, ông già đội áo đi kiếm
cóc, rắn mối cho nó ăn. Vui buồn ǵ cũng tía tía
con con. Có đêm con b́m bịp kêu suốt, những tiếng
bịp bịp ngắn ngủn buồn thiu thỉu, ông
bảo với Phi, nó nhớ sông đó. "Lúc nào qua
thấy nhớ sông nó đều kêu như vậy". Ông
kể, hồi trẻ, ông toàn sống trên sông, ông có
chiếc ghe, hai vợ chồng lang thang xứ này xứ
nọ. Gặp mùa lúa th́ gặt mướn, gặp vịt
bầy đổi đồng th́ chở thuê, gặp
rẫy bí, rẫy khóm th́ mua về bán lại chợ nổi
Cà Mau, nước ngược cắm sào đậu lại
thổi cơm, b́m bịp kêu, nước ḅ lên băi ông cho ghe
ra bến. Cuộc sống nghèo vậy mà vui lắm.".
Ngôn từ trong tất
cả truyện ngắn của chị, từ ngôn ngữ
dẫn truyện đến ngôn ngữ nhân vật, nhất
là ngôn ngữ nhân vật, đều khá thuần chất Nam
Bộ. Số lượng từ ngữ Nam Bộ
được dùng trong tác phẩm của chị khá
lớn. Đặc điểm này tạo nên ở
truyện của chị một văn phong riêng mà nhiều
người cảm thấy yêu thích. Trong các truyện
của chị có rất nhiều từ ngữ địa
phương Nam Bộ được chị sử
dụng khá thích hợp, thậm chí có những từ dùng
rất đắc phản ánh được đặc
trưng của một vùng quê Nam Bộ. Đó là những từ
chỉ địa h́nh, sản vật gắn với
một vùng sông nước: "áo bà bà, bà chằn, b́nh bát,
bông, bông súng, bông trang, cà ràng, cải lương, cây c̣ng, cây
tra, chàng tắm, chợ nổi, c̣ c̣, dây thun, dừa
nước, đất nẻ, đậu hũ,
đậu phộng, đèn chong, đờn, đùng
đ́nh, hàng bông, hàng lơn, hột, kinh, lồng đèn,
lức dại, mẻ ung, mền, miệt, mồng gà, mùng,
nạng thun, nước ḅ, nước kém, nước
miếng, nước rong, ô rô, rạch, rạp, rẫy khóm,
sao nhái, sạp ghe, số đề, tà lỏn, tép
đất, thằn lằn, thớt thịt, thương
hồ, trái, trự, tủ kiếng, tum...". Đó là
những hoạt động, sinh hoạt: "bắn
đạn, biên thư, biểu, búng thun, chào sân, coi
kiếng, cự, day, dùa, đá banh, đánh lộn,
đơm nút, giăng mùng, lặn đất, lục,
mằn nắn, nhậu nhẹt, thiến heo, thường,
tợp, vô...". Đó là những trạng thái, tính
chất: "bằn bặt, bịnh, buồn hiu, cà
chớn, chảnh, đong đưa, giả bộ, lai rai,
lăng xẹt, lanh, lẫm lẫm, lỉnh lảng, long chong,
lông bông, lừ lừ, im re, ngộ, nhẹ hều, ốm,
quớt, ră gánh, rớt nhịp, sương sương,
tạnh hột, tém tẻ, tệ hệ, thong dong, tṛn d́nh,
trớt he, trùng tŕnh, xà quần, xỉn, xửng
vửng...". Đó là những cách xưng gọi mang
sắc thái Nam Bộ: "bây, má, tía, qua, chế, ư...".
Đó là những từ biến âm và biến âm có rút
gọn: "bi nhiêu, hông, hổng dè, hy sanh, kinh, mơi
mốt, Tết nhứt, thiệt, thí mồ...; ảnh, ban
nẩy, bển, chỉ, con mẻ, cổ, hổng,
ổng...". Đó là cách diễn đạt kiểu Nam
Bộ: "bảnh thiệt, cà lơ phất phơ, cá
chốt rỉa, chành miệng, chợ ba bảy chín, coi gị
coi cẳng, đă thiệt, đánh lô tô, điệu này, đưa chốt
qua sông, mát trời ông địa, mắc mớ, mần chi,
miệng cá sặc, mùi rụng rún, mừng húm, quá giang,
thử coi, vá chằng vá đụp...". Đó là
những t́nh thái từ có màu sắc Nam Bộ: "hen, nghen,
vậy ta, khỉ khô...".
Nh́n từ phương
diện nghệ thuật, chị đă sử dụng ngôn
từ của phương ngữ Nam Bộ khá thành công trong
sáng tác của ḿnh. Điều này, góp phần làm nên một
văn phong riêng ở chị. Tất nhiên, có thể có
người không đồng t́nh với những nhận
định này v́ cho rằng, trong tác phẩm văn
chương mà sử dụng quá nhiều tự địa
phương th́ sẽ gây trở ngại cho người
đọc, hạn chế độc giả. Nhưng,
để có được những sáng tác phản ánh sinh
động thực tại, không ǵ tốt hơn là phải
dùng được chất liệu ngôn từ của
thực tại cần phản ánh.
Nguyễn Ngọc
Tư mới bước vào làng văn, lại chỉ
mới dừng lại ở địa hạt truyện
ngắn, và những vấn đề đặt ra trong tác
phẩm của chị thường là những vấn
đề gia đ́nh, xă hội đương thời,
gắn với không gian của một vài làng xă, huyện,
nên chúng ta chưa thể đ̣i hỏi điều ǵ hơn
một tầm vóc bao quát những vấn đề văn
hóa, lịch sử, xă hội trong những sáng tác của
chị. Nhưng với chừng ấy năm viết
văn, lại ở một địa bàn mà điều
kiện tiếp xúc với tri thức sách vở c̣n
nhiều trở ngại, cũng phải khách quan nh́n
nhận rằng, chị có một năng lực tốt
mới có thể khái quát được những vấn
đề gia đ́nh, xă hội để cô đọng nó
vào trong một truyện ngắn. Và những truyện
ngắn của chị càng về sau càng có chiều sâu
của sự nhận thức trí tuệ hơn. Có
điều, ở góc nh́n của một người Nam
Bộ vốn quan tâm tới lĩnh vực từ ngữ
Nam Bộ dùng trong sáng tác văn chương hiện nay, th́
tôi vẫn nghĩ chị là nhà văn hiếm, v́ c̣n giữ
được cái cốt cách diễn đạt của
một người Nam Bộ trong sáng tác văn
chương. Tôi chúc chị ngày càng có nhiều nghị
lực, năng lực để đi tiếp con
đường viết văn mà chị đă chọn.
Chỉ mong chị giữ được chất Nam Bộ
trong sáng tác của ḿnh và ngày càng có điều kiện nghiên
cứu, học tập những vấn đề rộng
lớn hơn để có được những tác
phẩm lớn thể hiện được tầm quan
sát, nắm bắt của ḿnh ở nhiều lĩnh vực
lớn như: lịch sử, văn hóa, xă hội, ít ra là
của vùng đất Nam Bộ mà chị đă
sống.
Hùynh Công Tín
13-4-2006
Nguồn: Văn Chương Việt