CHỜ ĐỢI NHỮNG MÙA TÔM
Nguyễn Ngọc Tư
Cứ mỗi lần
gặp, bác lại nhắc ba, hỏi thăm ông bạn già
ra đi từ mùa chuyển dịch. Ba bỏ phố về
đồng, đào vuông, nuôi tôm. Con thưa, Ba con khỏe,
nhưng ốm nhom, đen thui thùi lùi, cằn cỗi
người đi. Như cây dừa Xiêm đầu
liếp, khi nước bắt đầu thấm vào
thớ đất mặn mòi, con người cũng khác.
Khi nào rảnh, con
mời bác về thăm ba con chơi.
Chỗ ba con ở không
xa nhà mấy, qua cây cầu có con đường nhỏ
dẫn xuống mé sông, qua chuyến đò ngang, men theo cái
bờ đã lở như cá chốt rỉa sẽ
đến đập Bộ Phát. Lần theo mé kinh nhỏ,
bác sẽ gặp ba con. Không biết bây giờ ba con đang
làm gì. Nắng này, chắc ba con đi trồng cỏ
nước mặn cho cỏ bò che phủ mặt
nước, để nước đừng nóng lên.
Chắc ba đang đóng lại cái cống tháo nước
bằng gỗ. Chắc ba đang hì hụp xúc sình bồi
lên cái bờ vuông vừa lở chiều qua… Mà có thể, bây
giờ ba con đang ngồi uống trà, má con nấu
bữa cơm chiều, con cá phi kho khô tỏa mùi mặn
nồng trên bếp, má kể sáng này thấy được
con tôm rồi, nó bằng ngón tay cái vầy nè. Hai ông bà
cười, mơ về những giấc mơ xa xôi
lắm.
Con tin rằng, bác sẽ giật mình khi
nhìn thấy ba má con như chính con giật mình khi nửa
tháng, mười bữa mới gặp. Ông bà già đi nhanh,
cái già tranh thủ từng ngày, từng giờ, mót máy từng
khoảnh khắc của cuộc đời. Chỉ
mới một mùa tôm thôi, bác à, nhưng đó là mùa tôm
người nông dân vùng chuyển dịch vắt kiệt
mình ra trước bao nỗi cực nhọc, buồn vui.
Con vẫn tin rằng, làm vuông nuôi tôm làm cho
người ta sống cùng, sống tận với cảm
xúc của mình nhất.
Vui thôi là vui cái hồi bắt đầu
cất căn chòi nhỏ. Mỗi chuyến đi về, ba
má con xách theo nào nồi niêu xoong chảo, nào là mùng mền
chiếu gối. Ba con nói vui “cảnh nầy y chang tui
với bà vừa mới cưới, được ra
riêng”. Một mái ấm dựng lên trên góc đất,
nằm cặp mé kinh. Một chiếc xuồng nho nhỏ
buộc đằng trước nhà. Dưới ruộng,
đất đang cắt, đang đào, bờ bao ngạn
lờ mờ hiện ra trong làn nước. Dọc theo xóm,
nhà nào, người nào cũng hồ hởi. Nửa đêm,
gió thổi hiu hút, trở mình nhớ nhà, nhớ đám con
cháu ở nhà, tụi nó lúc nào cũng cười giỡn,
cãi vả eo xèo, cãi cũng vui thiệt là vui. Rồi ba
hỏi má, mình bỏ nhà, lặn lội vô đây để
làm cái gì bà ha? Má không nói vì cái gì, má chỉ an ủi, cùng
lắm hai mùa tôm, có chút vốn kha khá rồi mình sẽ
về. Cái hồi đó sao mà hy vọng tràn đầy, hy
vọng lênh láng.
Phải chăng vì niềm hy vọng khao
khát vươn lên nên khổ cực tới đâu ba má con
cũng chịu. Một đêm vài ba lần, ba má con thức
dậy, đi rảo một vòng vuông, canh con nước ...
Mức nước ngoài sông không cao, kinh cạn, đón con nước
nửa đêm, hai ông bà ì ạch khiêng máy ra tát vô đầm
nuôi. Chập chờn một chút, má choàng thức, rủ ba
hì hụi đem máy vô chòi. Bác cũng biết, chuyện tiếp
nước cho tôm từ cơ sở hạ tầng
trồng lúa cũ đang là một trong nhiều khó khăn
của chương trình chuyển dịch ở tỉnh
mình. Nên chuyện nước ra nước vào ở chỗ
ba con như một tiểu tiết, một chấm nhỏ
mờ mịt trong 200ha chuyển từ đất trồng
lúa sang nuôi tôm trong tỉnh. Không ai bảo ai, bà con ở xóm
kinh tự lo, tự xoay xở riêng mình như hồi nào
giờ vậy, nhà nước lo được bao thì hay
bấy nhiêu. Có tủi thân, tủi phận thì lủi
thủi than thở với nhau chơi, vậy thôi. Nhà
nước còn phải lo tỉ tỉ chuyện lớn, chuyện
mất còn khác.
Những đêm mưa, sợ nước
dâng ngập bờ, dầm mình đi tháo nước,
những ngày nắng, lặn lội xúc từng gàu sình
từ đáy đầm lên… Ba má con an ủi nhau, hồi
trước giờ có khi nào nhà mình hỏng cực. Nào là
trồng cải, trồng ngò đội đi chợ, nào là
mua so đũa về làm nấm rơm, nào là đi mua lúa
hàng xáo, rồi làm hai ba vụ lúa… Có làm gì mà không cực
khổ, dậy sớm thức khuya.
Nhưng không làm nghề gì khắc
nghiệt như nuôi tôm, y như trên chiến trường,
“thắng làm vua, thua làm giặc”, mà là giặc nghèo, giặc
đói mới chết. Ba tháng nhọc nhằn, ba tháng rót vào
lòng đầy hy vọng, tôm chết. Lúc đầu còn
chết từng vuông, từng chòm, sau chết cả vạt
đồng, cả xóm, cả vùng. Tôm chết như
người ta trở một bàn tay. Lẹ ghê, ngủ
một đêm sáng dậy thấy tôm lụi vô bờ, nằm
dại khờ trên gờ đất, ngọn cỏ,
ngọn rong. Vớt từng con tôm nhỏ bằng ngón tay út
lên lòng rưng rức, đứt ruột. Tở phở
hỏi nhau làm sao mà tôm nó chết vậy kìa? Có ai làm gì nó
đâu mà nó chết, mình quý nó còn hơn mạng mình nữa
mà? Tôm chết rồi làm sao cứu đây? Cho nó uống
thuốc gì, chích thuốc gì? Ý trời, Anh là cán bộ ngoài
tỉnh vô làm vuông, bộ không biết sao? Làm sao biết
được. Bụng xót như xát muối, te tái chạy
đầu trên đầu dưới hỏi nhau những
câu ngớ ngẩn mắc cười.
Tôm chết rồi, cũng hệt như
bà con ở xứ mình, ba má con mới biết mình hỏng
nặng về kỷ thuật. Lăn lộn cuộc
đời nông dân ngót năm mươi năm không có chút
kinh nghiệm nào có thể đem vào chuyện này, má con
nằm gác tay trên trán, thở dài, rút ra kết luận. Má tá
hỏa khi biết hầu hết tôm giống trên thị
trường không hề được kiểm dịch,
đúng quy trình phải quăng cả trăm ký vôi bột
mà mình xài có hai ba chục ký… Báo chí than bà con mình thiếu thông
tin, thiếu hiểu biết rầm trời, các chú “ở
trên” nhằn, bà con mình nóng vội quá. Nhưng bà con họ
chờ bao lâu rồi hở bác, lâu quá là lâu rồi, từ
đời cày cấy này qua đời trồng tỉa khác,
họ kỳ vọng cái ngày vươn lên. Tôm chết,
giống như một luồng nước lạnh tạt
vào ngọn lửa trong lòng của mỗi người.
Nhưng ngọn lửa ấy không tàn lụi, nó vẫn
rạo rực cao ngọn từ tro ướt. Đã
tắt hy vọng đổi đời từ cây lúa,
người ta chờ đợi những mùa tôm.
Ba má con chắc là bị “sốc”, bác
cũng biết, gì thì má con làm ruộng cũng giỏi có
tiếng tăm mà. Bà cảm thấy buồn lắm. Hai ông
bà gầy rộc, sọp người đi. Ba con thôi làm
thơ. Con không biết tại sao. Con vẫn thầm mong ba
làm thơ lại. Trời đất ơi, bây giờ ba mà
làm thơ được chắc là hay lắm. Những bài
thơ không chỉ có tình yêu nam nữ, không chỉ có bức
bách đời thường, mà nó còn mang nặng những
niềm vui nỗi buồn lớn lao, đông đúc của
người nông dân.
Ba con kể chuyện vui. Ba nói có chú nào
ở đầu kinh dưới hồi thả tôm tới
giờ không thấy nó nổi lên chơi chơi như
bầy cá mẹ ròng ròng hay cá chép, cá mè, dượng vái
đất nước ông bà cho chú thấy bầy tôm, cúng gì
chú cũng chịu. Ai dè, bầy tôm nổi thiệt,
nhưng mà lúc nó nổi lên tức là đã nhiễm bệnh
rồi, và tôm chết đỏ đầm. Chú mới vái
lại, ông bà phò hộ dùm con, khỏi thấy cũng
được. Ông bà nào phò hộ nổi hả bác?
Trước những hiểu biết mịt mờ về
con tôm, người nông dân cũng biết mếu máo
cười mình.
Ba con nói chuyện vui. Ba nói nuôi tôm
trước sau gì cũng giàu, hỏng giàu cái nầy mình giàu
cái khác. Chẳng hạn như không có tôm thì mình múc
nước dưới đầm lên nấu lại thành
muối, muối bây giờ bán cũng có tiền lắm
chớ, giỡn sao. Nghe cứ buồn cười không
chịu được, đau lòng không chịu
được.
Tôm lại thử lòng chịu đựng
của nông dân, tụi nó mở đợt chết thêm vài ba
đợt nữa. Đó là lý do tại sao lúc bác hỏi ba
con giờ giàu chưa, con phì cười. Đợt tôm
đầu, bán lai rai lấy lại được chút
vốn mua con giống, ba má con đã là quán quân xóm kinh
rồi. Má con bắt tép bạc lấy tiền mua
đồ ăn mắm muối. Má nói, làm gì làm cũng
đừng đụng vô mớ tiền bán tôm, đó là
tiền gối đầu cho vụ sau, mùa sau. Bác cũng
biết tài tháo vát của má con hồi chiến tranh, bây
giờ cũng vậy. Má định ra kế hoạch
sản xuất, má đi học hỏi kinh nghiệm
của những người nuôi tôm đi trước. Má
luôn luôn vực cả nhà khỏi chán nản, tuyệt
vọng. Má con có nhiều “bài” lắm, má nói tổ tiên
họ Mạc của má linh thiêng lắm, hỏng lẽ nào
ông bà để mình khổ hoài, má nói, một ký tép bạc,
tép đất cũng ăn đứt giạ lúa theo giá bây
giờ. Với ba, để thắp hy vọng như
ngọn đèn không tắt, má nói về tụi con.
Con bắt đầu biết vì lẽ gì
mà ông bà dầm dãi. Không có cái gì riêng cho ba má con đâu, bác à,
như bác, như hàng vạn người cha, người
mẹ khác vậy thôi một lòng lo cho đám con. Nên có hai
người già trên đồng trống hốc, gió giật
mái chòi. Nắng đỏ ngầu. Mưa trắng xóa. Bà tóc
bạc như nhuộm ở tuổi 50, sáng sáng xách nhúm tép
đất ra đầu kinh xáng bán rồi về ngoài nhà,
bơi vài xuồng gạo bỏ mối có, bán lẻ có.
Chiều vô vuông đặt lú, nấu cơm. Ông già gầy
gò, đen đúa mỗi tháng một lần về họp
chi bộ, sẵn thăm nhà luôn. Thời gian còn lại
lặn ngụp dưới ao đầm, vớt rong,
trồng cỏ, vét bùn, đắp bờ. Sáng sáng, chiều
chiều, đi xách nước ngọt bên kinh, hai tay
lặc lè hai thùng qua cầu khỉ. Không ti vi, không sách báo,
chỉ cái đài con con. Có họp hành gì người ta
mời ba, má đốc ba đi, ba nói “Chân tui đóng phèn quá
bà à”, má năn nỉ, “ông mà chịu đi tui cạo bớt
cho”. Đêm, người canh chòi trên, người chèo queo
chòi dưới. May mà còn những giấc ngủ nhọc
nhằn sau khi đã trằn trọc thỏa thuê.
“Thượng đế ban cho chúng ta hy vọng và giấc
ngủ để đền bù cho những nỗi lo
lắng của cuộc đời”.
Mà, bác đừng nghe con kể lể
rồi thương xót ba con, rồi nghĩ “tội
nghiệp, cái thằng hồi đó làm cán bộ oanh
liệt vậy mà bây giờ sống khổ quá (nói cho
văn vẻ chớ có oanh liệt khỉ khô gì)”. Nếu có
thương xin bác thương nhiều bà con khác, họ
nghèo, chan chát chỉ chờ có con tôm, tôm càng chết
nhiều, họ càng khổ. Má con còn ở nhà mảnh
ruộng lúa đang xanh, còn cái quán nhỏ bán buôn cám gạo
sống cũng được. Ba con thì giàu lắm, giàu gió
giàu trăng, giàu bạn bè. Cái chòi lá của ba con vô cửa
phải cúi người vậy mà không lúc nào ngớt khách. Bà
con ở xóm kinh đi qua ghé uống ly trà, đi lại ghé
ăn miếng bánh. Không có thông tin báo chí ba thôi buồn lòng vì
vụ tham nhũng này, vụ tiêu cực kia, thôi buồn vì
nhìn thấy cảnh gay mắt, chướng tai. Đôi lúc
người ta thèm sống một cuộc sống như
thế. Thèm sống với những lo lắng, ước
mơ rất thường tình. Thèm ngồi trong một
căn chòi thấp sũng nhưng đầy gió, vây quanh ly
trà đượm khói, những người nông dân áo phèn,
nước rõ long tong từ ống quần đầy bùn
đất, nghe trên đài tiếng nói Việt Nam đang
tường thuật trực tiếp trận bóng đá
chung kết cúp quốc gia mà tức mình, “vụ tôm này mà suôn
sẻ, thu hoạch xong, tui chạy ra chợ rinh liền cái
ti vi tổ chảng về xúm lại coi cho đã”. Nhắc
tôm là rôm rả chuyện con tôm, chuyện kỷ thuật
mới, chuyện con nước, con giống, chuyện sáng
nay giá tôm sụt mất năm ngàn đồng một ký. Má
con góp chuyện “Chỉ sợ tôm nhiều, giá cả đi
vô con đường rẻ bèo như giá lúa, lúa ế mình
còn để ăn được, chớ mấy ông
‘ở trển’ lo không nổi đầu ra cho tôm,
để dồn đống đó ăn ngán chịu gì
thấu”.
Má và con tin rằng, dù lần lữa
rồi thì những mùa tôm sẽ tới, bác à. Nó sẽ
tới để thay đổi số phận, cuộc
đời mỗi người, nó tới để
đỉnh đạc báo rằng, chủ trương
của nhà nước mình là đúng đắn, rằng
cổ tích ngày xưa là có thật. Những con người
lam lũ cực nhọc cả đời xứng đáng
được trả công.
Hồi nhỏ tới giờ con
được dạy là phải biết hy vọng,
lạc quan nhìn cuộc đời, bác à.
[31/07/2007 - Vietnam Review]