XÓM CŨ
Nguyễn
Ngọc Tư
Những gương mặt người.
Những nóc nhà thưa. Những cây cầu khỉ. Mỗi
khi nhớ về xóm cũ, hiện lên ngay trong đầu
cái phác họa giản dị đó, cùng những cánh
đồng, mảnh vườn xanh xanh đậm nhạt
bọc quanh. Một con đường khấp khểnh
băng qua xóm, bên lối đi lau sậy chập chờn.
Và hai cái ti vi trắng đen, niềm vui,
nỗi xao xuyến không tan của đám trẻ con nghèo, khi
những rạ rơm, ao đìa, những trò nghịch trèo
cây hái trái đã tạm khép cùng ánh sáng mặt trời.
Chỉ còn đêm dài lắm. Nhiều lúc ngó mưa sụt
sùi nhớ cũng mưa vầy, cũng những tối
nhão ướt như vầy, mình ngoi ngóp trùm cao su
đi coi ti vi. Lội bộ cũng xa, mò mẫm trong màu
trời nhập nhoạng mà hớn hở như đi
hội. Tối nào tụi trẻ con trong xóm tối nào
cũng xúm lại hai nhà giàu sang nhất xóm (vì có… ti vi), dán
mặt vào cái ánh sáng trắng lung linh kỳ ảo. Có
đứa cứ hết chương trình hoạt họa
là ngủ khò, ngáy pho pho mà không đêm nào vắng. Vài
đứa khác mơ mộng thật thà, cứ khóc òa khi
vở cải lương tới khúc đoạn
trường, cô Nguyệt bồng con tới nhà
người yêu cũ. Đường về khuya lơ
khuya lắc, bạn bè lần lượt tới nhà, cứ
qua mỗi ánh đèn là vắng đi đôi bước chân.
Rồi chỉ còn lại một mình, đi qua những lùm
trâm bầu, lùm tre hình thù kỳ dị bên đường,
tưởng tượng bao nhiêu chuyện ma quái, đêm nào
cũng quắn đuôi bỏ chạy. Vậy rồi
chiều lại, vẫn xao xuyến lặn lội đi
hẹn hò với cái… ti vi.
Nên xóm thêm một nóc nhà, trẻ con mừng
hơn cả. Đường bớt vắng, thêm một
ngọn đèn, thêm bạn, cùng những điều lạ
lẫm. Dì Tư sinh tố quảy thùng kem về xóm, với
bảy đứa con gái môi đỏ tóc dài, mớ
tiếng Huế rặt của nhà dì như mở ra một
chân trời mới, cả xóm mừng rơn khi biết o
đi mô, có nghĩ cô đi đâu vậy. Trưa nào dì
Tư cũng quảy thùng kem ngang qua xóm, dì gầy, đi hai
hàng, cảm giác nếu chân dì mà thẳng thớm, thì sức
nặng của thùng kem sẽ khiến dì té nghiêng té
ngửa. Cứ xà bát hai hàng, dì rung chuông , sau tiếng chuông
rung là tiếng chó sủa giòn tan, tiếng người
lớn nạt mấy con chó, tiếng trẻ con xin
tiền. Nghe như tiếng chuông của dì chọc
nguậy vào một cái chảo âm thanh, khuấy nó lên,
đảo đều rộn rã cho tới khi dì đi
khuất.
Thêm một tiếng cười, lau
sậy cũng bớt dày, đi vắng ba ngày đã
thấy bên đường cặm một ngôi nhà mới,
thấp tủn. Đất ven đường chỉ
cỏ hoang mọc chen trong đá, bỗng thành cái rẫy
dưa, bắp xanh rì. Ông Sáu Rẫy lại mở ra chân
trời khác, làm bọn trẻ xóm nghèo há hốc với
Bến Te, con cá zô bỏ vô zổ, nó
nhảy nghe zột zẹt. Bà Sáu thì điếc
đát, hỏi chiều nay ăn cơm với gì, bà nói zẫy
không trồng khoai mì. Hỏi bà ơi bồ ngót bao nhiêu
một bó, bà nói ừ, nhà có nuôi bốn con chó. Ông Sáu cuốc
đất ngoài hè, nói vọng vô, “cái bà này, điếc mà hay
nói…”, bà ngỏn ngoẻn cười, “tối đâu mà
tối, còn mặt tời mà…”.
Ngày ông Sáu tới, rồi lại nhổ
chòi tha vợ con về xứ, cả xóm vẫn chỉ
gọi ông, nhớ ông vận theo nghề rẫy mà gia
đình ông gắn bó. Như tên dì Tư gắn với thùng
sinh tố, cà rem. Như quên luôn tên thật của bà Tám Bánh
Cam, ông Mười Cốm Bắp. Gọi tên một
người xóm cũ là gọi cả hình ảnh bàn chân
chai, vết sẹo dài, bàn tay khô, màu da sạm… và tên
những đứa trẻ đã theo cha mẹ đến
đây, kết bạn kết bè. Bỗng một sáng vài
đứa đi mất, mù mịt như chưa từng có
ở trên đời.
Cuộc đời lại cặm vào
mảnh đất bỏ trống một ngôi nhà mới,
những đứa trẻ mới, một số phận
mới. Người đàn ông đi chân giả lúc nào
cũng bước cắm cúi, thằng bé con chú vác cái
bụng to vèo đằng trước, chắc là nó ăn
đất quá nhiều. Chiều đi ngang qua gặp nó
đang gặm mớ rễ tranh - ba má nó đào bật lên
để lên giồng gieo cải. Nó chìa tay ra, khoe “ngọt
lắm!”, sau này nhớ lại, mắc cười, trẻ
con có thể tiệc tùng kết bạn từ mớ…
rễ cây.
Người lớn chậm rãi hơn,
họ sẽ rề lại hỏi cư dân mới của
xóm, anh thứ mấy, quê quán ở đâu mà tới đây,
và ngó cái chân giả cứng đờ, hỏi anh bị
thương ở trận nào. Phước Long hả ? Tui
cũng bị cái thẹo bự này, ngay trận đó. Câu
chuyện bỗng trở nên ngượng ngập, họ
đã từng cầm súng đối mặt nhau, cùng nhau mang
về những vết thương, vết thấy
được đã lành, vết lòng vẫn rịn máu.
Nhưng người lớn biết cách
chữa lành, bằng những điều đơn
giản. Đem cho tô chè đậu xanh, nửa mục
măng tre, phụ giúp nhau lợp mái nhà, cất chòi vó,
sẻ nhau vài gánh nước mưa uống trong mùa
nắng, mớ củi chụm qua mùa mưa. Ba của
thằng Rễ Tranh đã thôi giấu mình trong lầm lũi,
ánh mắt không còn ủ dột cặm xuống chân.
Chiều chiều, ông còn vui vẻ tấp tểnh qua bên xóm
uống trà.
Con đường xóm lông chông đá,
lổn nhổn những ổ gà, hai mươi năm qua
với tôi, vẫn là con đường đẹp
nhất. Nó đưa đón những bàn chân tần tảo,
nó chứng kiến những tấm lòng thơm thảo.
Thỉnh thoảng tôi vẫn để nhớ dắt tay
về chỗ ngồi yêu thích, vắt vẻo trên ngọn cây
cao, ở đó, tôi thấy cô bé bưng dĩa bánh lá mít chan
nước cốt dừa đang đi dưới mưa
lất phất, tay nó cầm cái nón nhỏ lóng ngóng che
đầu thì sợ bánh ướt, che bánh thì ướt
đầu, cuối cùng, nó che nửa này nửa kia. Đi
một đỗi đường, cô gặp một
thằng bé khác đang đứng chơi, cô sượng
sùng nói, “má tao cho má mầy bánh”. Ở đó, tôi nhìn thấy
chị hai mình, lúp xúp đội thúng rau muống, ngò gai
đi chợ sớm mai, tôi nhận biết từng
người quen trong xóm, qua nón, áo, qua cái dáng đi cắm
cúi, xấp xãi, hớt hãi, tất tả, hay thong thả…
Họ mới là linh hồn của
xóm. Sau này đi đây đó, đôi khi gặp lại vài
khung cảnh y hệt như xóm-của-mình, nhưng xúc
động chỉ thoáng qua rồi tạnh, bởi không có
những gương mặt, dáng đi quen.
Bây giờ, xóm còn nguyên chỗ cũ,
nhà tôi vẫn còn chỗ cũ, chỉ láng giềng không còn.
Người đã dời đi tản mác. Người
vẫn ở đó nhưng không phải là người
của những năm xưa. Đôi lúc trên đường
về, qua những ngôi nhà cao tầng kín cửa, qua
những cãi cọ đôi co từng tấc đất, qua
những bon chen háy nguýt, bỗng nghĩ, nơi đây
từng có những người đàn bà, lúc xay bột làm
bánh, họ không quên đong thêm vùa gạo để thơm
thảo với láng giềng.
Bây giờ họ đã về đâu?!
(Nguồn: http://www.viet-studies.info/NNTu)