Nguyễn
Ngọc Tư, đặc sản miền nam
Trần Hữu
Dũng
Nếu bạn theo dơi văn chương Việt Nam
mấy năm gần đây, và nhất là nếu bạn
sinh trưởng ở miền Nam, hẳn bạn đă
biết Nguyễn Ngọc Tư. Cô là một nhà văn
nữ, c̣n trẻ (sinh năm 1976), quê quán ở Cà Mau và
hiện vẫn sống ở vùng đất Mũi. Năm
2000, tập truyện đầu tay Ngọn Đèn Không
Tắt của cô được giải Sáng tác văn
học tuổi 20 lần II của Hội Nhà văn TP HCM,
và năm 2003 tập truyện Giao Thừa của cô cũng
được một giải thưởng của Hội
Văn học – Nghệ thuật Việt Nam. Ngoài ra cô c̣n là
một khuôn mặt quen thuộc trên các tạp chí qua
nhiều tạp văn, tạp bút.
♦
Nguyễn Ngọc Tư, ng̣i bút trẻ ấy, rơ ràng
đă tạo được một chỗ đứng khu
biệt cho ḿnh. Nhiều người cho rằng cái
độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư là sự
chân chất mộc mạc tươm ra từ mỗi
truyện cô viết. Đúng, và dưới đây sẽ nói
thêm. Song, trước hết, cái đầu tiên làm
người đọc choáng váng (cách thích thú), là nồng
độ phương ngữ miền Nam trong truyện
của Nguyễn Ngọc Tư. Nếu bạn là
người Nam, và nhất là nếu bạn đă xa quê
hương lâu năm, th́ chỉ những chữ mà
Nguyễn Ngọc Tư dùng cũng đủ làm bạn
sống lại những ngày thơ ấu xa xôi ấy.
Từ vựng của Nguyễn Ngọc Tư không quư phái
hay độc sáng (như của Mai Ninh chẳng hạn)
nhưng, đối nghịch, đó là một từ
vựng dân dă, lấy thẳng từ cuộc sống chung
quanh. Sự phong phú của phương ngữ trong tác phẩm
của Nguyễn Ngọc Tư là tích tụ của một
thính giác tinh nhạy và trọn vẹn: nghe và nhớ.
Nhiều người nghĩ rằng, nói chung, văn
chương miền Nam (dù ǵ cũng là vùng đất
mới) không thể so được với sự
chỉn chu truyền thống của văn chương
miền Trung, miền Bắc. Nguyễn Ngọc Tư
sẽ làm những người đó phải nghĩ
lại. Đọc truyện của Nguyễn Ngọc
Tư, họ sẽ khám phá rằng nếu dùng đúng
chỗ, trong tay một tác giả cẩn trọng,
phương ngữ mộc mạc miền Nam, giọng
điệu dân dă miền Nam hoàn toàn có khả năng
cấu tạo một nhánh văn chương đặc
biệt, không giống, nhưng chuẩn mực không kém
những miền khác Mỗi truyện viết của
Nguyễn Ngọc Tư là một bửa ăn văn
chương thịnh soạn, dọn bày chu đáo, gồm
toàn đặc sản miệt vườn, với những
vật liệu hảo hạng, tươi sống.
Đàng khác, hiển nhiên, cái bất lợi của
một tác phẩm nhiều phương ngữ là nó khó
được những người không quen với
phương ngữ ấy cảm nhận hoàn toàn (và
tất nhiên c̣n là thử thách khó hơn cho người
muốn chuyển nó sang một ngôn ngữ khác). Đối
với những độc giả này, tác phẩm ấy
chỉ là một công tŕnh gợi ṭ ṃ, hoặc hấp
dẫn v́ lư do khác, mà phương ngữ là một
chướng ngại cảm nhận.
Song, nh́n kỹ, sự hấp dẫn của truyện
Nguyễn Ngọc Tư không phải ở kho từ
vựng miền Nam dồi dào của cô, nhưng ở
chỗ sử dụng phương ngữ tối đa và
đúng chỗ vào những câu chuyện thật “miền
Nam”. Đó là miền Nam của tỉnh lẻ, của
ruộng vườn, và nhất là của sông, của
mưa (Ḍng Nhớ, Chợ nổi Cà mau- chút t́nh sông
nuớc, Qua cầu nhớ người, Nhớ sông,
Nước chảy mây trôi). Đó là miền Nam đă thái
b́nh nhưng vẫn c̣n dấu chiến tranh -- không ở
sự điêu tàn v́ bom đạn mà ở những vết
thương trong đời người (Ngọn đèn
không tắt, Mối t́nh năm cũ).
Trong cách chọn lựa t́nh tiết, cốt truyên,
Nguyễn Ngọc Tư đă trung thành (một cách khó
giải thích) với cái “t́nh tự” Nam bộ của quê
hương cô. Chỉ những người sống và
lớn lên ở một địa phương, thật
sự mến yêu họ hàng làng xóm của ḿnh, mới
thể hiện t́nh tự với quê hương ḿnh
được như thế. Và, bởi ở đâu
cũng có cái đặc thù, chính tính đặc thù lại là
cái phổ quát nhất. Sự cá biệt của
phương ngữ, khi được sử dụng
để diễn đạt những t́nh tự phổ
quát của con người, có khả năng vạch ra cái
chung của cái riêng.
Câu nói của Vũ Hạnh về kịch miền Nam
“Sự giản dị, thoải mái và hồn nhiên của
kịch miền Nam đều hướng về
đạo nghĩa” (khi ông phê b́nh Kim Cương), cũng có
thể áp dụng cho văn xuôi miền Nam. Nguyển
Ngọc Tư rất Nam như thế đó.
♦
Văn của Nguyễn Ngọc Tư nghe như
nhạc. Nhiều câu trong trẻo và buồn (nhưng không
nghẹn ngào) như một bản vọng cổ hoài lang.
Như cô viết: “tự dưng nghe buồn, nghe thất
vọng quá trời đất” (Một mái nhà), nhưng h́nh
như cô không muốn người khác buồn theo cô .
Giọng buồn của Nguyễn Ngọc Tư không là tiếng
than văn th́ thầm của một người lớn
tuổi, nhưng là một lời thốt, lửng lơ,
đứt ngang, nhưng rất đủ, của một
người trẻ bổng nhiên phát giác những bất
hạnh của cuộc đời, mà vẫn hi vọng.
Văn Nguyễn Ngọc Tư là văn của lời nói.
Cách ngắt câu của cô là cách ngắt của âm
điệu. Cái tài của Nguyễn Ngọc Tư là đem
những cảnh tượng rất b́nh thường,
khoanh lại, biến nó thành châu báu “Căi qua căi lại, hai má
con ngă ngửa ra, ủa, hơi đâu mà nói chuyện
của người ta.” (Nhà cỗ)
Hồ Anh Thái, và vài người nữa, đă có khen “cách
dẫn chuyện gọn gàng, sự cắt cảnh
chuyển lớp chính xác” của Nguyễn Ngọc Tư,
nhưng chưa thấy ai nói đến cấu trúc câu
của cô. Mới và độc đáo. Lối bắt
đầu với chữ Mà, rồi một dấu
phẩy. Hoặc lối chen vào giữa câu một chi
tiết trong ngoặc đơn: “Hai đứa tôi ngồi
đâu đó (chỗ mà ai cũng nh́n thấy) nói chuyện
chơi, có lúc, chẳng cần nói ǵ” (Nhà cỗ). Hoặc
lối dứt câu bằng một thán từ có âm bổng:
“Sao tự nhiên em qua đây lăng xẹt vậy không biết?”
(Lư con sáo sang sông)
Nhân vật trong truyện của Nguyễn Ngọc
Tư hay khóc, và nhiều lúc cô khuyến khích nhân vật
của ḿnh khóc.
“Măi d́ Thấm không mở lời nói được,
chỉ khóc là khóc, nức nở ồ ồ, nh́n cảnh
mọi người xúc động, hỉ mũi rột
rẹt nhưng không ai bước ra dỗ cho d́ nín. Cho
đến khi ông Mười xuất hiện, ông bảo,
“mấy chú làm ơn dừng lại một chút” rồi
cầm cái khăn rằn lau nước mắt cho d́
Thấm, d́ như trẻ con, lau khô rồi nước
mắt lại trào ra. Ông Mười vẫn nhẫn nại
chậm chiếc khăn lên khuôn mặt chớm già của
d́, không nói ǵ hết, khuôn mặt b́ ś của ông hơi dúm
lại, dường như ông cũng đau lắm, xót
lắm” (Mối t́nh năm cũ)
Hay là:
“Nhưng không phải buồn Phương lấy
vợ, tôi buồn là v́ chiều nay, Nhân Phủ đă
sụp đổ trong ḷng.
Rồi họ, và cả má tôi đều bảo tôi khóc
đi.” (Nhà cỗ)
Nhưng, để ư: cái khóc của Nguyễn Ngọc Tư
là v́ thương yêu, không v́ oán giận. Không phải là cái
khóc nghẹn ngào, day dứt, ủ rũ. Đây là cái khóc ào
ào như cơn mưa miền Nam, và người
đọc biết (hay mong mỏi) chỉ khoảnh khác th́
mưa sẽ tạnh, nắng sẽ lên và nhân vật
của Nguyễn Ngọc Tư sẽ quẹt nước mắt
xông vai trở lại cuộc sống bận rộn
của ḿnh.
Chính v́ Nguyễn Ngọc Tư c̣n trẻ, cô nh́n
cuộc sống bằng cặp mắt trong sáng (khác với
lạc quan) và trung thực. Cô không giả vờ dằn
vặt nội tâm như nhiều nhà văn (không chỉ
ở Việt Nam) ham đ̣i thời thượng. Nhưng
Nguyễn Ngọc Tư không ngây thơ “chuyện
đời”. Cô nh́n, cô nghe, cô biết hết. Nguyễn
Ngọc Tư là một chứng nhân trung thực và tinh
nhạy. Không phải chứng nhân cho những vụ
việc hung hăng, thô bạo, nhưng cho những mảnh
đời đơn dị, b́nh thường. (Truyện
Nguyễn Ngọc Tư không có người lừa đăo,
không có kẻ sát nhân. Có lẽ trong truyện của cô cái
tội lớn nhất là tội ... ngoại t́nh.) Nếu
lúc gần đây truyện của Nguyễn Ngọc Tư
có “buồn” hơn, ấy không phải v́ mắt cô đă
nhạt đi màu hồng (hăy mong thế), nhưng v́ tầm
nh́n của nó xa hơn và, trong quăng không gian mở rộng
đó, cô thấy thêm những chuyện đời dang
dở. Cô không buồn hơn, nhưng lọt vào mắt cô
là những mảng đời buồn hơn.
Nhưng đừng tưởng Ngưyễn Ngọc
Tư là người hời hợt. Quả vậy,
những truyện – nhất là những truyện sau này –
đều là về những mối t́nh không trọn.
Chẳng phải đổ vỡ, nhưng không trọn.
Những mối t́nh đó không phải chỉ của
người già, mà c̣n là những mối t́nh của thế
hệ cô (Ngổn ngang) – hay thứ tự phải
ngược lại?. Nh́n cho kỹ, sự dang dở đó
không phải lỗi của ai. Nguyễn Ngọc Tư
chấp nhận nhưng không than oán, mà cũng không ra vẻ
cứng rắn kiểu anh hùng rơm.
Những cặp “t́nh nhân” (tạm gọi) trong
truyện của Nguyễn Ngọc Tư không bao giờ hôn
nhau (như cô sẽ hỏi: ai làm chuyện kỳ vậy?).
Nhiều lắm, th́ chỉ như:
“Quí mặc áo đứt mất tiêu cái nút trên, lồ
lộ ra mảng ngực ráp nắng. Trong Đậm
nhiều khi dậy lên một cái ǵ rưng rức khó
tả, chỉ mong nép đầu vào đó để quên
nhọc nhằn, để quên nỗi cô độc lùi
lũi trong đời.”(Giao thừa)
Hay là:
“Nó ngồi sau lưng thầy ... mà ḷng nghe dịu
ngọt lạ thường, chợt nghe thèm đến
rớt nước mắt được nép mặt vào
lưng, được choàng tay ôm eo thầy.”(Nước
chảy mây trôi)
Phần nào, sự chuyên biệt của Nguyễn
Ngọc Tư vào những truyện loại này có thể làm
người đọc lo ngại. Chằng lẽ
nghiệp văn của cô sẽ khoanh trong thể loại
những mối t́nh không trọn, những kư sự
đồng quê? Quả là Nguyễn Ngọc Tư có tài thiên
phú, cô viết rất nhanh, rất khoẻ (trong ṿng ba
năm đă ra bốn tập truyện ngắn). Nhưng
cái đáng lo là chỗ đó. Người ta bắt
đầu thấy quá quen thuộc với truyện của
cô. Chúng na ná như nhau, và dù rằng mỗi truyện
vẫn đáng đọc, vẫn cho người
đọc những giờ phút thú vị, nhưng sao
ấy, chúng không c̣n để lại cái ấn tượng
sâu đậm của những truyện mấy năm
đầu. Đến lúc nào đó, nhà văn không thể
chỉ sử dụng cái thiên bẩm của ḿnh. Nhà văn
phải đổ mồ hôi, xót con mắt, lă ngón tay (hay cho
độc giả cảm tưởng ấy). Sự quanh
quẩn trong những không gian, hoàn cảnh quen thuộc có
thể là cái chớp đèn vàng (nhưng chưa đỏ)
trên con đường văn chương của Nguyễn
Ngọc Tư.
♦
Nhiều người so sánh cô với Sơn Nam.
Nhưng Sơn Nam là người viết kư sự giỏi,
hầu như là nhà nghiên cứu, nhà dân giả học chuyên
nghiệp. Nguyễn Ngọc Tư không như vậy, cô là
nhà văn chuyên môn. Những cây bút khác ở miền Nam
liền trước Nguyễn Ngọc Tư (như Lê
Văn Thảo, Nguyễn Quang Sáng) là thế hệ của
chiến tranh dành độc lập. Tuy Nguyễn Ngọc
Tư không phải mang nhiệm vụ (gánh nặng?) đó
nữa, quá khứ ấy được cô đưa vào
truyện một cách rất tự nhiên (Mối t́nh năm
cũ, Ngọn đèn không tắt). Có lẽ Nguyễn
Ngọc Tư không biết là chính cái trẻ của cô, cái
tính “tỉnh nhỏ” của cô đă cho cô một lợi
thế rất lớn. Đó là cô không bị hành trang
của thế hệ trước làm nặng vai, hay bị
ảnh hưởng của những người đi
trước (trong thư riêng gởi một độc
giả, Nguyễn Ngọc Tư cho biết chưa từng
đọc Vơ Phiến, chẳng hạn).
Một đặc điểm của Nguyễn
Ngọc Tư là h́nh như cô đă chớm thấy sự
khác biệt giữa cô – như một nhà văn – và
những người khác (chẳng hạn như trong
Một mái nhà, Nguyệt - người bạn không biết
viết văn). Đây là một điềm tốt
nhưng cũng là một dấu hiệu nguy hiểm.
Tốt v́ cô ư thức trách nhiệm (trong chừng mực nào
đó) của ḿnh, nhưng nguy hiểm v́ nó có thể gây
một tự giác quá độ về chỗ đứng
của cô – như một nhà văn – đối với xă
hội. Nhà văn, theo tôi nghĩ, vừa phải
đứng trong vừa phải đứng ngoài ḍng
cuộc sống. Song Nguyễn Ngọc Tư lại có
vẻ thành thật tiếc nuối cuộc sống b́nh
dị của những người không viết văn.
Đặt vấn đề cách khác, những nhà văn
trẻ Việt Nam như Nguyễn Ngọc Tư, từ
trước đến giờ vẫn sống với cái
bẩm sinh của ḿnh, sẽ ra sao khi biết
được nhiều hơn về văn đàn (thế
giới), khi ư thức hơn “nghề văn” của nhà
văn? Đó là những câu hỏi lớn, định
đoạt chỗ đứng tương lai của nhà
văn đó trong khu vườn văn học.
Một cái “bệnh” của những người
viết trẻ bây giờ là mặc cảm (hay đua
đ̣i) phải dùng một bút pháp mới, mô tả xă
hội tân thời (thường được xem như
đồng nghĩa với lối sống thị thành),
đôi khi phải làm ra vẻ biết nhiều, học
rộng. Nguyễn Ngọc Tư không cần “làm dáng”
kiểu ấy. Cái mới trong văn Nguyễn Ngọc
Tư chính là cái cũ, cái lạ ở cô là tài khui mở
những sinh hoạt thân thuộc trước mắt.
Nguyễn Ngọc Tư không “vén màn” cho người
đọc thấy cái chưa từng thấy, cô không
dẫn dắt ta khám phá những ngơ ngách của nội tâm
mà ta chưa từng biết (một điều cũng
rất cần, nhưng để những nhà văn khác).
Cô chỉ đưa ra một tấm gương rất
trong, thật sáng, để chúng ta nh́n thấy những sinh
hoạt, t́nh tự rất thường. Và qua đó, lạ
thay, như một tiếng đàn cộng hưởng, ta
khám phá cái phong phú của chính đời ta.
Tuổi trẻ của Nguyễn Ngọc Tư làm
người đoc vừa mong đợi, vừa âu lo. Mong
rằng tài năng của cô sẽ chín ra, sẽ lớn
thêm. Nhưng lo rằng, với tuổi đời,
giọng văn tươi mát đó sẽ không c̣n thích
hơp với những đề tài có gam màu sậm hơn.
(Nhưng khoảng cách hai năm, từ Ngọn Đèn
Chưa Tắt sang Giao Thừa, sự tiến bộ của
cô – đúng ra là sự thích ứng với kinh nghiệm
sống của cô, buồn hơn, thâm thúy hơn – làm
người đọc hi vọng.)
Chúng ta mong sự trưởng thành của Nguyễn
Ngọc Tư sẽ là sự trưởng thành của
thế hệ trẻ Việt Nam. Ta mong cô sẽ tiếp
tục là một người ghi chép chân thật những
chuyển biến của đời sống dân tộc.
Nếu cô làm được điều đó th́ chúng ta
thật cám ơn cô. Tài năng của cô đúng là thiên phú.
Nguyễn Ngọc Tư là một đặc sản của
miền nam.
Tiểu Hằng Ngôn
Dayton 25 - 1- 2004
Diễn Đàn Tháng 2, 2004