MỘNG
TUYẾT
(1918-2007)
Nguyễn Tấn Long - Nguyễn Hữu Trọng
Mộng
Tuyết tên thật là Lâm Thái Úc (lẽ ra tên Út vì nữ
sĩ có sáu người anh, nên sau này có bút hiệu Thất
Tiểu Muội); sinh ngày 9 tháng 1 năm 1918 tại làng
Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên.
Năm 1926, sau khi học hết
bực Sơ đẳng, nữ sĩ bắt đầu
luyện văn ở Trí Đức Học Xá, (do thi sĩ
Đông Hồ điều khiển) và sáng tác những bài văn
ngắn dưới bút hiệu Thái Nữ Mộng Tuyết,
góp lại thành tập Bông Hoa Đua Nở, đăng
ở Nam Phong tạp chí năm 1930.
Năm 1935, Mộng Tuyết
thường xuyên viết truyện ngắn đăng trên
tuần báo Sống (Sài Gòn).
Nhưng năm kế tiếp, nữ
sĩ tập làm thơ và gởi dự cuộc thi thơ do
tự Lực văn đoàn tổ chức . Tập thơ
Phấn Hương Rừng được giải
khuyến khích năm 1939 ( Ban Giám khảo gồm nhất
Linh, Khái Hưng, Thế Lữ , Hoàng Đạo, Thạch
Lam Tú Mỡ ).
Năm 1943, Cùng với nữ sĩ Vân
Đài, Hằng Phương, Anh Thơ in chung một
tập thi tuyển Hương Xuân do nhà Nguyễn Du ở
Hà Nội xuất bản.
Sáng tác của Mộng Tuyết đã
đăng trên các báo: Tiểu Thuyết Thứ Năm , Hà
Nội báo, Con Ong, Đông Tây, Trung Bắc Chủ Nhật,
Trí Tân, Gió Mùa, Ánh sáng, Nhân Loại Tập San, Bách Khoa, Văn,
Văn Học. Nữ sĩ có nhiều bút hiệu: Mộng
Tuyết, Hà Tiên Cô, Thất Tiểu Muội, Nàng Út, Bách
Thảo Sương, Bân Bân nữ sĩ…
Nữ sĩ Mộng Tuyết đã
từ giã cõi đời vào lúc 8giờ05 ngày 1-7-2007, tại
bệnh viện Đa Khoa Kiên Giang, hưởng thọ 89
tuổi.
Đã
xuất bản :
·
Đường
Vào Hà Tiên ( tùy bút, Bốn phương, Sàigòn, 1960 )
·
Nàng
Ái Cơ Trong Chậu Úp (Ký sự lịch sử, Bốn
phương, Sàigòn, 1961)
·
Truyện
Cổ Đông Tây (1969)
·
Dưới
Mái Trăng Non (thơ, 1969)
·
Núi
Mộng Giang Hồ (hồi ký, Nxb Trẻ, Tp HCM)
Em bị cười
Mơ
màng nghe có tiếng người yêu
Réo rắt bên hè thổi khúc tiêu,
Nhanh nhẹn tung chăn , em nhổm dậy
Bàng hoàng ngái ngủ, vội em kêu :
-
Anh ơi ! Anh đợi tí! Cho em
Còn sửa sang qua nếp áo xiêm.
Vuốt lại tóc em buông bối rối,
Điểm qua lượt phấn, chút hồng thêm…
Cửa
mở. Em tìm chẳng thấy ai
Người yêu em đã phới xa rồi;
Bên rào còn để đôi hoa thắm
Hờ hững cười em mê ngủ thôi !
(Hà Nội báo, số 2, 3-6-36)
Em trả thù
-
Anh ơi ! Em thích đời thi sĩ
Vui lòng, anh dạy em làm thơ?
- Em đừng chúng chứng, cười anh bảo,
Thơ thẩn gì em? Khéo ngẩn ngơ !…
…Một
nàng tiên nữ đẹp như em,
Là một bài thơ, một quả tim.
Là áng hồng son, là gió lướt,
Là hoa xuân thắm, bóng trăng đêm…
…Thi
sĩ, em ơi ! đó lại là,
Người đi theo dõi bóng thiên nga,
Ước mơ, yêu thích và ca ngợi,
Những cái mà em đã có thừa !
-
Nhưng không, em muốn học làm thơ
Để trả thù anh đã hững hờ :
Rồi phút say sưa anh có lại,
Hôn em…Em sẽ đẩy anh ra.
Bấy
giờ, em cũng bảo anh rằng :
"Em bận làm thơ", anh nhớ chăng?
Hôm nọ; bên anh, em nũng nịu,
Lạnh lùng anh cứ mãi nhìn trăng.
(Hà Nội báo,số 7, 29-4-36)
Dương liễu tân Thanh
(Trân trọng mạ giao hành khách thủ.
Đoản
trường tình tự kỷ ân cần
Lê
Bích Ngô)
"Dương
liễu mười bài" chép gửi anh.
Ly hoài ai khéo gởi cho mình.
Bích ngô âu cũng lòng thôn nữ
Chung với nghìn xưa một mối tình.
"Bên
đừơng, qua lại bao nhiêu khách;
"Riêng bẻ cành xuân đưa tặng nhau.
"Sung sướng Giang-nam chàng phới ngựa,
"Tháng ngày bóng liễu rủ tơ sầu…
“Lả
lướt đợi ngày xuân trở lại :
" Ngày xuân trở lại, hỏi bao ngày!
“ Năm canh lạnh lẽo kinh sương gió,
" Ngùi ngậm tàn xuân hoa rụng đầy…"
Nét
mực vừa khô, lệ ướt dầm,
Lời xưa thêm gợi nỗi từ tâm.
Biệt ly còn bận đời thi-sĩ;
Huống chốn buồng the khách chỉ kim.
(Phấn Hương Rừng)
Vì anh Thọ Xuân
(Để tặng anh Đông Hồ
bộ Việt Pháp Tự điển)
Vì
ai, đề tặng sách cho ai:
Rồi lại vì ai cảm tạ người ;
Bởi sợ nhà thơ nghèo đến chữ,
Yêu nhau , đưa tặng mấy muôn lời
Tiếng nhà , của sẵn kho vô tận,
Mặc sức tiêu hoang , mặc sức chơi:
Mưa bốn phương trời mây nước
đẹp,
Mua nghìn năm cảnh cỏ hoa tươi.
Hãy còn thừa thải, tiêu chưa hết,
Mua lấy , trần gian, tiếng khóc cười .
Trước hết , đã mua rồi một món:
Thành Phương – hương điểm mối tình dài
(Phấn Hương Rừng)
MƯỜI KHÚC ĐOẠN TRƯỜNG
1. Giá gạo Tràng An
Nghe
nói Trường An giá gạo cao
Đói cơm cửu hạn khát mưa đào
Bà con ta ở miền Trung Bắc
Thóc gạo Đồng Nai những ước ao
Tổ quốc bâng khuâng hồn nghệ sĩ
Cô em rủ chị học làm thơ
Em vui bẻ mực dầm ngòi thỏ
Chị mãi rừng văn xây lối mơ
Cấp báo về đây tự nẻo xa
Người đang ngoắc ngoải đợi chờ ta
Vốn nghèo biết giúp gì em nhỉ
Ngã mại Kỳ văn nhĩ mại hoa
2. Tin miền Bắc
Quốc
vận bình minh hằng nắng vàng
Mừng vui chưa dứt tiếng reo vang
Xa xăm những đợi tin miền Bắc
Cơ cẩn kìa đâu tin bỗng sang
Khắp lòng vui lại để lo âu
Đói khát bao nhiêu nỗi thảm sầu
Trời đất chửa tan màu khói lửa
Anh em đang gặp cảnh thương đau
Máu mủ tình kia đã bảo ta
Đưa tay nâng đỡ chị em nhà
Giống nòi chưa chết lòng chưa chết
Non nước hồn vang tiếng thiết tha
3. Hồng Hà không phải sông vô địch
Con
cháu Rồng Tiên họ một nhà
Ai làm non nước chuyện chia ba
Cho hồn Tổ Quốc bâng khuâng lắm
Tai biến nhìn nhau thêm xót xa
Êm ái Nhà Bè nước chảy chia hai
Gạo cơm Cần đước nước
Đồng Nai
Hồng Hà không phải sông vô địch
Mà vẫn bờ sông xương trắng phơi
No ấm miền Nam trong lúc nầy
Bát cơm bữa bữa được bưng đầy
Ai ơi nghĩ nhớ người đang đói
Muỗng cháo cầm hơi đợi phút giây
4. Những linh hồn bơ vơ
Trạm
Bắc đưa về tin xót xa
Lang thang thê thảm kẻ không nhà
Đồng quê khốn khó tìm ra chợ
Bồng bế con thơ dắt díu già
5. Xẻ cháo nhường cơm
Hồng
Lạc nguời chung một giống nòi
Có đâu Nam Bắc đất chia hai
Xót tình máu mủ cơn nguy biến
Xẻ cháo nhường cơm ai hỡi ai
Máu chảy ruột mềm đau xót lắm
Rách lành đùm bọc lấy cho nhau
Trong nhà đang có người kêu đói
Xẻ cháo nhường cơm mau hãy mau
Nạn đất tai trời đành đã vậy
Nhưng mà chị ngã hãy còn em
Có rồi nhưng cũng chưa là đủ
Xẻ cháo nhường cơm thêm lại thêm
6. Hấp hối đợi chờ
Tai
mới nghe qua lòng thổn thức
Xác người xe nhặt mỗi ban mai
Còn bao nhiêu nữa đang quằn quại
Hấp hối chờ cơm hơi mỏn hơi
Gốc rạ cọng rơm vơ mót sạch
Dây khoai củ chuối món cao lương
Vỏ cây dây lá không còn nữa
Đất trụi đồng trơ nuốt thảm
thương
Thoi thóp tàn chơ cứu tế
Hột cơm khi đói khi no
Giàu nghéo ai cũng thừa tâm huyết
Nhiều ít nài chi hãy cứu cho
7. Cấm yên
Vật
uống món ăn đành đã hết
Có tiền không gạo biết đâu mua
Ruộng vườn trống trải đồng không
cỏ
Không vụ chiêm không vụ mùa
Mạ mới gieo xong đã gặt liền
Mái tranh không sợi khói vươn lên
Thử thì bất tỉ thanh minh tiết
Để sự trù trung đã cấm yên
8. Ai đắp điếm
Làng
mạc đìu hiu cảnh não nùng
Bờ ao lặng ngắt tiếng côn trùng
Sân vườn vắng bóng loài gia súc
Cửa ngỏ lều không ôi lạnh lùng
Nhan nhản ngoài đồng xác chết phơi
Xôn xao đàn quạ liệng đen trời
Mùi tanh theo gió bay lan khắp
Hơi sức ai còn đắp điếm ai
Đồng loại còn thương huống ruột rà
Bà con nhau đó có ai xa
Đem lòng ta đói thương người đói
Thì thấy lòng ta bao thiết tha
9. Đúc chuông
Nhớ
chuyện đời xưa lễ đúc chuông
Xa gần góp lại của thiên môn
Có người sốt sắng mua âm đức
Bạc nén vàng thoi cũng góp luôn
Lửa đỏ nung tan cả vạc đồng
Người quăng đôi xuyến kẻ đôi vòng
Muốn vo quả phúc cho tròn trặn
Gửi cả vào đây vạn ước mong
Nay đã gặp rồi mùa Cứu khổ
Đúc chuông ngày trước phước về đâu
Ai ơi hãy nhớ câu nhà Phật
Một mạng người hơn chín nhịp cầu
10. Nạn đói nước Ngô
Nước
Việt ngày xưa muốn phục thù
Đem toàn lúa hấp trả về Ngô
Thấy là lúa tốt cho gieo giống
Năm ấy bên Ngô bị mất mùa
Nạn đói làm bại nước Ngô
Gương kia
Còn để tự bao giờ
Nay không hấp giống cho mùa mất
Đốt thóc thay vì đốt củi khô
Giặc đói xâm lăng nước mình
Hột cơm cứu đói ; đạo tinh binh
Ngày đêm hãy gấp đường ra Bắc
Tiếng khải triền vang khúc thái bình
Mười khúc đoạn trường
(Mùa đói năm 1945)