TẾT...HỒI NẪM

Lê Bảo Trân

 

Hồi nẫm...là lối nói thu gọn của bốn tiếng ngày ấy năm nào mà các cụ già miền Nam thường dùng để mở đầu trước khi kể một câu chuyện thuộc về dĩ vãng nhưng không xa lắm. Hồi nẫm rất tổng quát, không nói rõ năm tháng ngày giờ, chỉ mơ hồ quãng thời gian nào đó trong quá khứ . Chẳng hạn những điều trông thấy khi nhỏ hay từng nghe ông bà thuật lại lúc sanh tiền....

Ví dụ: Hồi nẩm, khi bà còn nhỏ....Hồi nẩm, lúc ông cố còn sống....Hồi nẫm, nơi nầy còn là rừng hoang đầy rắn rít hùm beo...v.v.

Hồi nẫm...Nghe xa mà gần, nghe gần mà xa là nét đặc thù của ngôn ngữ miền Nam vậy.

Giờ đây tuổi đã xế chiều, bắt chước các bậc tiền nhân tôi cũng kể chuyện năm xưa, cũng bắt đầu bằng hai tiếng:

Hồi nẫm!....

Má tôi ngước mắt nhìn trời rồi nói vọng vào nhà dặn chị người làm:

-Nỡ à...bữa nay nắng tốt, xúc hai thúng nếp đem ra sân phơi. Nhớ chia hai đệm cho khỏi lộn nếp hột dài hột tròn nghen.

Tôi thắc mắc hỏi:

-Cùng là nếp sao phải phân biệt vậy má.

-Nếp hột dài dành nấu xôi, nếp hột tròn thì gói bánh tét, xay bột bánh ít và quết bánh phồng.

Má tôi vòng qua vựa thóc, rút con dao dâu cán dài thật bén đi ra vườn.Tôi nắm tay chú Lộc quản gia, chạy theo sau lưng. Má dừng lại trước bụi chuối hột chọn những táu lá to xanh mướt chỉ cho chú Lộc rọc về gói bánh tét bánh ít..   

Còn hơn tháng nữa mới Tết mà ba má tôi đã bận rộn suốt ngày. Hết chỉ bảo người làm đánh bóng lư đồng, tủ thờ, ván gõ, đến chuẩn bị trang trí nhà cửa, mâm cỗ cúng ông bà cùng tiệc tùng thết đãi bà con họ hàng từ xa đến trong ba ngày Tết.

Ngoài ngõ nghe có tiếng rao:

-Chiếu....hông....

Ba tôi ngừng tay, nói:

-Mình cần bốn bộ chiếu bông cho bốn bộ ván gõ và bốn đôi chiếu cỗ để dọn mâm cúng và đãi khách đó bà.

Má tôi nheo mắt:

-Chiếu năm ngoái còn xài được mà!

-Cũ hết rồi. Năm nay trúng mùa phải thay chiếu mới coi cho được.

Má tôi bảo chú Lộc:

-Mau chạy theo kêu lái chiếu.

Chú Lộc phóng ra cổng, gọi to:

-Chiếu....chiếu...

Anh lái chiếu dạ một tiếng và hối hả đến. Anh đặt bó chiếu nặng nề đang đội trên đầu xuống bộ ván gõ, ân cần mời:

-Chiếu Long Xuyên vừa đẹp vừa bền, lát nhuyễn màu tươi. Ông bà mua giùm con vài đôi ăn Tết.

Ba tôi cẩn thận chọn mấy đôi vừa ý, trải thử. Má tôi trầm trồ:

-Chiếu dệt thiệt khéo, hình màu rất đẹp. Mua sáu bộ nghen ông?

-Chi nhiều vậy?

-Còn phơi bánh phồng nữa!

-Ờ, chọn luôn chiếu cỗ cho đủ bộ.

Bán được mối to anh lái chiếu mừng rỡ rối rít cám ơn, đoạn bó số chiều còn lại đội lên đầu tiếp tục lên đường đi bán nốt. Bước chân có phần nhẹ nhàng hơn vì số chiếu đã vơi và túi tiền cũng nặng.Tiếng rao mỗi lúc một xa dần:

-Chiếu...hông.... 

Cu kêu ba tiếng cu kêu

Trông mau tới Tết dựng nêu ăn chè.

Tết đến thì hân hoan, nhưng nghĩ tới phải phụ giúp người lớn chuẩn bị Tết là tôi chẳng vui chút nào. Ai ai cũng có nhiệm vụ. Tôi nhỏ nhứt nhà nên được giao phần việc nhẹ nhàng là lựa gạo lộn nếp. Nếp được đổ ra mâm đồng trải mỏng, lựa từng hột gạo bỏ riêng. Hột nếp màu trắng đục, hột gạo trong hơn rất dễ nhận. Công việc dễ dàng nhưng tôi không thích vì rất nhàm chán. Hai ngày nghỉ học, phải chúi mũi vào công việc đàn bà ấy, nên không vui.

Tôi hỏi sao phải lựa riêng thì má tôi giải thích:

-Nếp lộn gạo gói bánh hổng ngon!

Đoạn khuyến khích:

-Làm giỏi, Tết ba má lì xì tiền và bốn phong pháo tiểu.

Là con út, rất được cưng chiều nên ba tôi ngầm giúi cho con Sum cháu nội bà Mười Cứng bên hàng xóm hai đồng xu đỏ mướn nó thay tôi. Được ba chống lưng, tôi mừng rỡ chạy bay ra đồng coi bọn nhỏ thả diều, chơi u bắt mọi. Má tôi biết nhưng lờ đi không nói vì nể ba và sợ tôi lừng.    

Hôm nay là ngày quết bánh phồng. Có hơn mười chị vợ tá điền thân tín tình nguyện đến giúp. Má tôi nấu trã nếp thiệt to trút vào cối đạp lớn. Sở dĩ gọi cối đạp vì chày không dùng tay mà dùng chân đạp. Chày giống con ngựa gỗ có trục ngang dính vào giàn trò. Một người lực lưỡng đạp lên, chày bật cao, lấy chưn ra thì chày rơi xuống phát âm thanh thì thụp. Tiếp tục như thế cho đến khi nếp biến thành bột nhão. Thỉnh thoảng mỏ chày kẹt bột rút không lên, các bà phải bôi dầu dừa trơn cho khỏi kẹt.

Sau khi cối nếp biến thành bột nhão, các bà bèn bắt”từng cục bằng nắm tay đặt lên tấm lá chuối rồi dùng ống tre thoa đầu cán mỏng  đem ra nắng phơi trên chiếu mới, thành bánh phồng.

Nhằm ngày nắng tốt thì xế chiều là bánh “dốt”, vừa ráo, còn dẻo không khô không ướt. Tôi rất thích bóc ăn lén, nhứt là bánh phồng mì, cuộn tròn nhai vừa ngọt vừa dai, thơm ngon đã miệng vô cùng.

Bánh phồng có ba loại: bánh phồng nếp, bánh phồng khoai và bánh phồng mì. Bánh phồng nếp ngoài nước đường không pha trộn món nào khác, nướng bằng lửa rơm cao ngọn, kẹp giữa hai cái kẹp tre cán dài như chiếc quạt nan. Trở qua lại vài lần là bánh “chuồi” to bằng cái sề, bẻ từng miếng ăn giòn xốp ngon đáo để. Bánh phồng khoai và mì thì nướng lửa than, nhai giòn rôm rốp!

Từ rằm tháng chạp trở đi là bắt đầu thấy Tết. Tết thể hiện khắp nơi, từ không gian, thời gian đến tâm hồn người dân quê mộc mạc. Trong gió thoảng cũng có mùi Tết. Trong ngôn từ đàm thoại cũng có chất Tết. Người ta dùng Tết để đánh móc thời gian. Ai cũng nói “hai mươi Tết” chớ không dùng “hai mươi tháng chạp”.

Mọi người đều lo Tết. Giàu tính theo giàu, nghèo lo theo nghèo. Dù gì cũng phải “coi được”. Ngày tư ngày Tết để người ta “quở ” thì tủi vong linh ông bà!

Trẻ con nao nức mong Tết để được đốt pháo, nhận lì xì, mặc đồ mới, chơi bầu cua, ăn mứt dừa, coi hát bội... Các cô gái đang xuân thì mặc áo đẹp làm dáng với người yêu. Chị tôi mở rương lấy mấy bộ đồ đẹp ra hong nắng. Chiếc áo lụa hồng có thêu mấy con bướm đậu cành lan, chiếc khăn đội đầu màu hột gà, chiếc quần mỹ a đen nhánh, đôi giày cườm thêu kim tuyến mua ở Saigon cả làng chưa ai có...lòng lâng lâng nghĩ đến ngày vui.

 Con gà trống điều đậu trên vựa lúa cất tiếng gáy ó o....

Tôi giật mình mở mắt. Sực nhớ hôm nay hăm ba Tết ngày đưa ông Táo về trời nên vội vàng nhảy xuống giường chạy ra sân múc nước mưa rửa mặt. Nhìn xuống bếp thấy mọi người lăn xăn, mùi chè thơm phưng phức, tôi sà đến định bốc một vắt xôi, nhưng mà tôi trừng mắt:

-Khoan đă, chưa cúng, không được ăn hỗn.

Tôi tiu nghỉu đứng nhìn. Má tôi lần lượt đơm xôi múc chè dọn ra bàn, lấy lon sữa bò xúc đầy gạo để cắm nhang, đốt hai cây đèn cầy đỏ rồi lên nhà trên mặc áo dài, trở xuống thắp hương rót trà kính cẩn chấp tay lâm râm khấn vẻ mặt rất thành kính. Xong, má bảo tôi:

-Lên mời ba con xuống cúng.

Ba tôi đang ngồi đọc báo Xuân, ngước mắt nói vọng xuống bếp:

-Bà cúng được rồi, tui đang kẹt.

Má tôi càu nhàu:

-Ông nói lạ lùng. Đưa ông Táo mà không có gia chủ thì thánh thần nào chứng?

Ba tôi cười khà:

-Ủa, tui là gia chủ sao? Lâu nay mọi quyết định trong nhà đều do bà mà.

Mọi người che miệng cười rúc rích. Má tôi lừ mắt:

-Nói hổng sợ bọn nhỏ cười.

Ba tôi lững thững xuống bếp nhìn mâm chè xôi cười tủm tỉm:

-Tui còn thèm nói chi ông Táo.

Má tôi làu nhàu:

-Hổng nể nang thần thánh gì hết. Chọc giận ổng về trời tâu xấu với Ngọc hoàng là mệt đó.

-Vậy là ông Táo ăn hối lộ, phải ăn ngon mới tâu tốt.  Hèn chi nhà giàu thì giàu thêm, nghèo thì suốt đời sặc máu.

Má tôi chấp tay xá lia lịa:

-Một năm một lần, ông làm ơn nhịn một chút ông à.

Cúng xong, tôi tò mò hỏi ba:

-Sao phải cúng  dưới bếp mà hổng dọn lên nhà trên vậy ba?

Ba tôi cạn chung rượu nếp rồi đáp:

-Vì ông Táo là vua bếp. Ông bà từ xưa vốn tin tưởng nhà nào cũng có thần bếp ghi chép từng hành động và tư cách của gia chủ để cuối năm về trời tâu lại. Ngọc Hoàng sẽ đựa vào báo cáo ấy để thưởng phạt. Do đó , gia chủ nào cũng muốn trời thương nên hối lộ ông bà táo.

-Ủa, ông Táo cũng có vợ sao ba?

Ba tôi cười rung râu mép:

-Có chớ. Hổng thấy má con cúng ba chén chè à?

-Tại sao ba chén mà không phải hai hoặc bốn?

-Vì hai ông Táo lấy chung một bà.

Rồi cười tì tì:

-Thời buổi trai thiếu gái thừa mà hai ổng làm vậy ba hoàn toàn không đồng ý.

-Nhưng sao hai ổng lại chịu?

Ba tôi cười khà:

-Mấy cha nội đó cả đời nằm trong bếp, lem luốt đen thui, con gái nào thèm. Hổng xài chung thì kiếm đâu ra?

Má tôi chợt giựt mình kêu lên:

-Chút xíu nữa quên mất! Cũng tại ông.

-Gì đó? Sao lại kéo tui vào?

-Ông cứ trêu ghẹo thần thánh,  mãi giận ông mà quên đốt “cò bay ngựa chạy”.

Đoạn mở tủ thờ lấy xấp giấy màu xanh đỏ cắt hình “ngựa chạy cò bay” trao cho tôi:

-Đây là ngựa chim của ông Táo. Con mang đốt chung với giấy tiền vàng bạc cho ông bả làm chưn và lộ phí đi đường.

Ba tôi tếu:

-Thời đại văn minh sao hổng mua máy bay cho mau? Mấy con ngổng con vịt nầy bay biết chừng nào mới tới trời?

Má tôi năn nỉ:

Tội nghiệp tui mà ông. Một năm một lần ráng nhịn đi mà...

Tôi lấy cái trả đất cho “cò bay ngựa chạy” và giấy tiền vàng bạc vào rồi châm quẹt đốt. Nhìn ánh lửa bập bùng, tôi cảm thấy lòng ấm lại, mường tượng như thần linh đang chứng kiến lòng thành.

Hăm bốnTết! Ngày quét mộ! Hằng năm cứ đến ngày nầy là con cháu xa gần tề tựu về  “quét mộ ông bà. Có lần tôi tò mò hỏi ba:

-Ba à, tại sao mình gọi là “quét mộ”? Ở trường thầy giáo dạy là “tảo mộ” mà!

Ba tôi từ tốn giải thích:

Tảo mộ”  là nói theo văn chương sách vỡ, còn dân quê mình mộc mạc nên nôm na gọi là quét mộ”. Người Nam chân chất thật thà, thấy sao nói vậy. Cầm chổi quét mộ cho sạch thì gọi là quét mộ. Ngoài ra, tảo mộ  là tục lệ của người Tàu vào tháng Ba âm lịch tiết Thanh Minh. Trong Kiều có câu: “Thanh minh trong tiết tháng ba. Lễ là Tảo mộ hội là Đạp thanh” Hằng năm đến ngày nầy thì các chùa Minh, tức Minh hương, cúng rất lớn, các ngĩa địa Quảng Đông Phước Kiến người Tàu tấp nập, khói hương nghi ngút.

Hai cha con vừa đi vừa trò chuyện chẳng mấy chốc đã đến nghĩa trang gia đình. Ba tôi đến trước ngôi mộ lớn xây đá hoa cương bia khắc chi chít chữ Nho. Ba nói:

-Mộ ông nội của con đó.

Ba tôi thắp ba nén nhang thơm, rót bốn chung rựơu đế, má tôi bày hai đĩa mứt gừng và thèo lèo, têm mấy lá trầu cay rồi kính cẩn cùng ba tôi chấp tay lâm râm khấn.Tôi dành phần đốt giấy tiền vàng bacï và dây pháo điển. Con cháu bắt đầu nhổ cỏ hoang, cọ rửa mộ bia, cắm hoa, thắp nhang, cúng rượu...

Mùi hương trầm thoang thoảng, mùi khói cỏ thơm thơm. Cây bông giấy bên cạnh mộ ông nội năm nào cũng trổ hoa đỏ rực. Loài cưởng sáo và tu hú kêu hát vang lừng tạo thành nét nét đặc thù của một năm hồ hết. Làn gió Tết thoáng qua, lá tre già xào xạc, tôi mơ hồ như hồn thiêng ông bà đang phảng phất đâu đây.

Ngày cuối năm thật ngắn, màn đêm xuống vội vàng. Vừa xế bóng đã sập tối. Gà xao xác lên chuồng. Chim sẻ từng đàn kêu ríu rít trong bờ tre đầu ngõ. Vài cánh cò uể oải in bóng nền trời xanh còn thoi thóp ráng chiều.

Lạc hà dữ cô vụ tề phi

Thu thủy cộng tráng thiên nhất sắc.

Lũ mục đồng đuổi trâu về chuồng. Tiếng chuông thu không từ ngôi chùa Tổ cuối làng văng vẳng ngân nga trong sương lạnh nghe cô đơn rời rã trầm buồn! Vài cánh dơi chập choạng chao mình.

-Gà bán ....hông!

Má tôi nói:

-Lái gà năm nay đi trễ quá. Đã hai lăm Tết còn mua, biết chừng nào mới bán.

Có tiếng người trong xóm gọi:

-Lái gà.

-Dạ!

Tôi nhìn ra thấy một người đàn ông lực lưỡng gánh hai cái bội lớn thoăn thoắt đi qua cổng. Chập sau là tiếng gà bị lôi cổ từ chuồng ra kêu oang oác lẫn tiếng chó sủa đưa đường.

Suốt ngày đi quét mộ nên đêm về mệt mỏi ngủ vùi mãi đến khi có tiếng người lao xao ngoài bờ ao tôi mới giật mình thức giấc. Nắng le lói lách que kẻ vách vẽ lên nền nhà những vạch sáng lung linh. Tôi nhỏm dậy dụi mắt ngó ra vườn. Mặt trời đã lên được hai sào, vắt vẻo ngọn tre. Gió Tết hiu hiu mát rười rượi. Con chim chìa vôi chuyền trọng bụi trúc líu lo.

Chợt nghe tiếng heo kêu eng éc lẩn tiếng người lao xao cười nói ngoài ao.Tôi hiếu kỳ phóng ra xem cho biết. Trước mắt tôi, một con heo lứa vá quàng đang bị trói gô đè ngửa trên phảng  dưới gốc mít. Chú Năm Huyết cầm con dao nhọn dâm ngập vào yết hầu, máu phun có vòi. Con vật đau đớn trợn trừng giãy giụa hộc lên từng hồi, thoạt đầu rất mạnh rồi yếu dần sau cùng lặng lẽ buông xuôi.

Ông Bảy Hổ khen tấm tắc:

-Thằng Năm thọc huyết khéo quá, hổng đứt cuống họng, máu thiệt sạch.

Tôi ngẩn ngơ nhìn con vật đáng thương. Trã nước cạo heo sôi sùng sục, Sáu Lộc lấy chiếc gáo dừa lớn, cán trúc dài múc nước sôi xối khắp mình heo rồi cùng hai Cừ, sáu Cứng cạo lông. Chẳng mấy chốc con heo đã sạch, trắng bạch nằm tênh hênh. Một đường dao rọc thiệt ngọt từ ngực xuống bụng, tách con heo làm đôi,  bày bộ đồ lòng tươi và đỏ.

Ba tôi dặn:

-Bây ra bộ lòng cho mấy bà làm món nhậu mình lai rai trước vài xị nghen.

Mấy bà nội trợ thật tài tình. Vừa đúng ngọ đã có lòng khìa dồi huyết. Ngoài ra còn trả cháo lòng thơm phưng phức ngun ngút khói.

Chiều ba mươi “cúng tất” rước ông bà. Ba tôi mặc áo dài kính cẩn thắp hương khấn trước bàn thờ gia tiên, nét mặt vô cùng thành kính. Mùi hương trầm thoang thoảng, mùi hoa huệ thơm thơm, ánh mắt đăm chiêu nhớ thời vang bóng.

Đêm tối mênh mông....pháo nhà ai đì đẹt nổ.

Tôi nôn nao nhìn đồng hồ. Còn năm phút nữa đến giao thừa. Ba má tôi mặc áo dài ngồi ăn mứt uống trà trên bộ tràng kỷ cẩn ốc xa cừ kê ở giữa nhà. Má tôi căn dặn:

-Đừng ai lớn tiếng, lắng tai nghe năm nay con gì ra đời.

Tôi hỏi:

-Con  gì ra đời là sao hả má?

-Nghĩa là đúng giao thừa, con vật nào lên tiếng trước là biểu hiệu cho suốt năm. Ví dụ con gà con vịt kêu thì năm đó bình yên trúng mùa. Chim heo chim cú thì có nhiều tai biến như bệnh dịch hoành hành, cướp trộm lung tung.

-Còn heo kêu thì sao?

Ba tôi cười khà:

-Thì ăn no ngủ kỷ nằm phè.

Má tôi tiếp:

-Để ý nghe năm nay nhà ông Hội Đồng hay ông Tổng ai đốt pháo lâu hơn.

Ba tôi trề môi:

-Hơn thua tiếng pháo làm gì? Chỉ tổ làm giàu cho chệt và điếc tai hàng xóm.

Chiếc đồng hồ quả lắc treo tường gõ 12 tiếng ngân nga.

Tôi hồi hộp nói:

-Tới giao thừa rồi.

Ngoài chuồng trâu, con gà trống điều cất tiếng gáy ó o. Tôi mừng rỡ reo lên:

-Ba ơi, gà trống ra đời, năm nay nhà mình hên lắm đó.

-Ờ, đúng vậy.

Ba má tôi kính cẩn lễ trước bàn thờ gia tiên. Pháo khắp nơi bắt đầu nổ rộ. Ba tôi đặt ba cây pháo tre lớn, tượng trưng Phước Lộc Thọ, trước thềm nhà rồi dùng “rọi” đốt từng cây một. Ba cẩy đều nổ thật to.

 Tôi thắc mắc hỏi sao phải đốt bằng rọi, ba bèn giải thích:

-Pháo tre rất nhạy, đốt bằng nhang hay thuốc điếu lỡ giựt tay không kịp sẽ bị nổ tét hổ khẩu.

Năm nay ngoài pháo tiểu tôi còn được đốt pháo thăng thiên, có đuôi tre, bay vụt lên không vạch một đường ánh sáng  dài trong màn đêm thăm thẳm.

 Mọi người khen nức nở:

-Đẹp quá, đẹp quá!

 Má vui vẻ nói:

-Ba con bói pháo rồi bây giờ tới má bói dưa.

Con Mỹ người làm mang ba trái dưa đã được chọn sẵn đặt lên bàn. Má tôi cầm con dao dài bổ đôi từng trái. Trái nào ruột cũng đỏ tươi. Má tôi sung sướng hả hê cười:

-Năm nay nhà mình hên lắm. Pháo nổ giòn, dưa đỏû ruột, chắc chắn sẽ phát đạt.

Chị Nỡ ra sân đốt rơm nướng bánh phồng. Bánh nở chuồi bằng cái mâm. Mọi người nhà không phân biệt xúm xít ngồi ăn vui vẻ chuyện trò. Ba tôi ngồi ghế giữa nhâm nhi ly ruợu nếp, đọc báo Xuân Ngày Nay bìa có vẽ hình ba cô gái Bắc Trung Nam mặc áo dài xanh vàng đỏ, vịn cành mai hoa rực rỡ trước cổng chùa.

Sau giao thừa pháo vẫn còn đì đẹt. Ba tôi gật gù sung sướng ngâm nga câu đối Tết của cụ Tam Nguyên Yên Đổ:

Chúng nó dại vô cùng, pháo nổ đì đùng thêm mất chó

Ta nay khôn bất trị, rượu say túy lúy lại nằm mèo.

Dù thức khuya nhưng sáng mồng một ai nấy cũng đều dậy sớm. Nhớ lời má dặn, tôi nhanh nhẩu nhầy xuống giường chạy ra hàng mái vú ngoài hiên múc nước mưa rửa mặt cho tỉnh táo rồi thay quần áo mới mừng tuổi ông bà.

Ngó xuống bếp thấy đèn sáng rực, người nói lao xao, lửa reo lách tách, tôi biết các bà đang chuẩn bị mâm cỗ cúng đầu năm.

Lữ chó nhà đêm qua sợ pháo trốn biệt tăm tới giờ chưa dám ló dạng. Bầy bồ câu đậu trên nóc nhà thỉnh thoảng giật mình bay tán loạn. Chỉ có bầy gà vịt là bỉnh thản mổ lúa trong hai chậu lớn để giữa sân. Ba ngày nầy gia súc cũng được phần ân sũng.    

Không khí thoang thoảng mùi hương tỏa ra từ những nén nhang trầm trên bàn thờ, trong chùa Phật, trong đình Thần và cả những những miễu cô hồn xiêu vẹo hoang vu.

Cúng kiến xong mặt trời đã lên khỏi ngọn tre. Ba má tôi mặc áo nhiễu ngồi ghế giữa cho con cháu mừng tuổi. Tôi nôn nao vì sẽ được lì xì. Chị tôi mặc chiếc áo dài lụa màu hồng có thêu hình con bướm và cành lan, quần lãnh, cổ đeo kiềng vàng, tai đeo khoen, tóc bôi dầu bông lài chải mượt, chân mang guốc Dakao, má dậm phấn hồng, môi phơn phớt đỏ vừa tươi nét đẹp.    

Tôi xum xoe trong bộ đồ tây mới, áo sơ mi trắng, quần sọt xanh, chân mang xăng đan da màu nâu đậm.

Má tôi sung sướng nhìn hai con rồi vui vẻ nhắc:

-Hai đứa tới bàn thờ lễ ông bà rồi mừng tuổi ba má.

Chị em tôi đến bàn thờ lạy bốn lạy rồi đến trước mặt cha mẹ. Chị tôi rót hai chung rượu nồng đặt trước mặt song thân và chấp tay kính cẩn:

-Năm cũ đi qua, năm mới bước tới. Chúng con kính chúc ba má sức khỏe dồi dào, sống bá niên giai lão.   

Đoạn cùng quì xuống định lạy hai lạy. Nhưng ba tôi ngăn lại:

-Miễn, khỏi lạy, lòng hiếu thảo của hai con đủ làm ba má vui rồi. Năm mới ba má cũng chúc hai con vạn sự như ý. Con trai học hành tấn tới, con gái chọn được tấm chống xứng lứa vừa đôi cho rạng mặt nở mày.

Nghe nhắc đến chồng con, chị tôi đỏ mặt thẹn thùa. Má tôi móc túi lấy năm tờ giấy một đồng mới tinh trao chị tôi:

-Năm mới ba má lì xì cho con lấy hên, phải gìn giữ công ngôn dung hạnh để đẹp lòng cha mẹ.

Đoạn quay sang tôi:

-Con còn nhỏ nên chỉ được hai đồng. Phải học hành tấn tới, năm nay lên lớp.

-Dạ. Cám ơn ba má.

Tôi sung sướng nhận tờ giấy bạc một đồng còn thơm mùi mực mới, nhắm nghía hình cô gái Việt Nam vấn tóc màu nâu, bốn góc có số 1 màu đỏ. Phần giữa bên trên có hàng chữ Pháp Banque de L'Indochine, phía dưới là chữ Une Piastre. Bên cạnh có chữ ký ông Paul Ganey Thống Đốc Ngân Hàng giống hàng rào tre. Ngoài ra, tôi còn được ba cho thêm mười năm xu trắng và hai chục xu đỏ, đều có lỗ giữa, khi cần thì xỏ dây đeo.

Tôi sướng run người, vì thường thì thỉnh thoảng mới được một xu nay bổng chốc có thật nhiều. Liên tưởng đến mấy đứa bạn nghèo, tôi ngẩm nghĩ:

-Nếu tụi nó được như mình chắc mừng hết lớn.

Ba tôi uống xong cúc rượu do con rót, sung sướng gật gù:

-Từ giờ đến hết mùng Ba, hai đứa được tự do, muốn đi đâu thì đi.

Má tôi thêm:

-Nhưng hổng được dìa tối đó.

Được lời như cởi tắm lòng. Chị em tôi chào ba má rồi hớn hở đi chơi Tết.

Điểm đầu tiên là đình làng.

Gió xuôi đưa tiếng trống chầu vọng về lồng lộng. Càng đến gần, tiếng trống càng dồn dập. Có lẽ đào kép xuất sắc lắm nên nghe toàn chầu đôi chầu ba. Năm nay ông Hội Đồng  chủ tế và cầm chầu. Bầu gánh cố gắng đốc xuất anh chị em nghệ sĩ trổ hết tài nghệ, mong đẹp lòng ông Hội để được thêm tiền thưởng.

Ông Hội Đồng thâm nho lại rành tuồng tích, nên đào kép khó được khen. Đoàn hát nào nghe ông cầm chầu cũng chạy tét, nhưng bù lại ông rất ngọt.

Tuồng tích do ông chọn. Ông muốn tuồng hát đầu năm phải đầy đủ nhân nghĩa lễ trí tín nên đã quyết định:  Mồng một, “Huê Dung Đạo”. Mồng hai, Tiết Nhơn Quí Chinh Đông. Mồng ba, Triệu Tử Long Đoạt Ấu Chúa”.

Kép Út Hòa và đào Bạch Liên thủ vai “đào thương kép độc”. Trai gái làng chết mệt chết mê.

Tiếng trống chầu thúc giục bước chân đi. Sân đình đông nghẹt, tiếng người nói ồn ào, tiếng trống võ ca, tiếng quát tháo của tướng trận, tiếng gươm giáo chạm nhau. Tôi sốt ruột giục:

-Chị Hai, mau vô coi, sắp tới hồi “cụp lạc” rồi.

Chị tôi nói:

-Phải canh đúng lúc đã.

-Lúc nào chị?

-Đầu năm “bói tuồng”,  gặp vui mới hên.

Ai đó rắn mắt lén ném cây pháo nổ đùng làm các cô gái bò càng la bài hãi:

-Đồ mắc dịch mắc toi, đầu năm chọc người ta rủa!

Chị kéo tay tôi:

-Tới lúc rồi, chạy vô mau.

Gặp hồi Quan Công phò nhị tẩu qua khỏi ải cuối cùng. Chị tôi mừng rỡ:

-Hên quá. Năm nầy mọi việc sẽ hanh thông.

Hai chị em sung sướng lách mình ra phía trước....

Ba má tôi giờ đã ra người thiên cỗ, chị tôi cũng nằm xuống, còn lại một mình tôi!

Ngày vui xưa giờ đã qua rồi!

 

Lê Bảo Trân