QUÀ HỒI MÔN CỦA MẸ
Phạm Phong Dinh
Con rạch không rộng lắm, nhưng chiếc
cầu khỉ lắt lẻo bắt ngang trên mặt nước
đã làm Tấn ngại ngần. Chàng nhìn cái chân phải teo
tóp của mình, rồi nhìn những thân cây mù u lồi lõm nằm
dài chênh vênh trên những cái trụ cây tràm hình chữ thập mỏng manh cắm sâu xuống
lòng rạch. Mấy đám lục bình lá xanh điểm những
cụm hoa tím nhạt tấp vào chân trụ cản dòng nước
chảy, tạo thành những âm thanh rầm rì, nghe như tiếng
suối róc rách chảy giữa cánh rừng hoang vu ngoài miền
Trung, mà nhiều lần chàng đã có dịp lội qua. Mấy
con cá thòi lòi bốn chân trông rất giống mấy con rắn
mối trên cạn đuổi bắt nhau chạy soàm soạp
trên mặt bùn.
Tấn lắc đầu nhìn cây cầu khỉ
chông chênh, cái nhịp ở giữa nhô vút lên so với hai nhịp
gần bờ nước, làm nên một cái dốc cao đầy
thách đố đến lạnh lùng. Tấn cũng có tài
làm xiếc đi cầu khỉ như bất cứ người
dân miền Tây nào chứ, vì chàng là dân ruộng đồng
chính hiệu mà. Nhưng cái đó là ngày xưa kìa, lúc hai cái
chân của chàng còn nguyên xi mỗi bên. Bây giờ thì tuy chàng vẫn
còn đủ hai chân, nhưng một cái to một cái teo.
Đi qua chiếc cầu khỉ với những cái tay vịn
rất lỏng lẻo này, thì với một cái chân khập
khiễng, chẳng khác gì chàng đi lò cò một chân. Đó mới
chính là vấn đề gay cấn, không khéo chàng sẽ ngã
vào đám ô rô lởm chởm gai nhọn mọc dầy
đặc hai bên chân cầu mất. Đã thế mà thôi
đâu, dân đi đồng qua lại đã dẫm sình trơn
láng lên cầu như người ta phết một lớp
mỡ bò. Nhưng dù gì thì gì, với bất cứ giá nào Tấn
cũng phải chinh phục nó. Tấn chợt phì cười
một mình. Cái chất lính trong máu chàng hãy còn đậm
đà nhiều lắm, nên chàng đã nghĩ đến cụm
từ ngữ với bất cứ giá nào để giải quyết mọi trường
hợp khó khăn, mà chàng và các bạn vẫn hằng đương
đầu trên khắp nẽo chiến trường.
Tấn bắt đầu đặt cái chân
teo lên nhịp cầu thứ nhất, một tay nắm khúc
tràm dài làm chỗ vịn, một tay đung đưa giống
như anh kép cầm sào đi trên sợi dây căng. Cái chân
to bên kia bước lên. Tấn thấy coi bộ không mấy
khá... Tấn cố bước lên bước nữa. Chiếc
ba lô căng đầy phía sau lưng như chuyển sức nặng từ lưng chàng xuống
cái chân teo. Tấn rên lên trong lòng, má ơi, thế nào con
cũng rớt. Giữa lúc chới với bối rối như
vậy, thì bỗng đâu có một giọng trong trẻo của
người nào đó gọi đến :
Anh ơi, có muốn quá giang hôn ?
Tấn nhìn về hướng tiếng gọi,
a ha, một cô thôn nữ trên một
chiếc tam bản. May ơi là may. Tấn vẫy tay kêu lên
:
Dạ, dạ, cô làm ơn cho tôi quá giang qua bên
kia bờ được không.
Chỉ vài cái chèo nhẹ, cô gái đã tấp
mũi ghe vào chân cầu, đám ô rô kêu rào rạt dưới
lườn ván. Tấn khập khểnh bước xuống.
Cô gái cười hóm hĩnh :
Xuống được không đó ?
Tấn cũng đùa :
Tam bản thì nhằm nhò gì cô, ngày xưa tôi còn
xuống tàu đổ bộ nữa kìa, ái dà...
Thiếu chút nữa chiếc chân teo đã trợt
ra khỏi tấm ván mũi ghe. Cô gái không khỏi không đưa
tay lên miệng cười khúc khích. Tấn tọa xuống
tấm ván nhìn cô gái làm nàng chợt đỏ mặt. Giữa
ánh nắng buổi trưa, trên giòng nước óng ánh màu hồng
nhạt của phù sa, chiếc áo bà ba trắng và chiếc quần
vải đen của nàng nổi bật lên trên nền trời
trong xanh. Dưới chiếc nón lá màu ngà, khuôn mặt trái
xoan hơi bầu đặc trưng của con gái miền
quê, với làn da trắng ửng hồng khỏe khoắn của
tuổi thanh xuân tràn trề sức sống. Không trắng
làm sao được, khi mà quanh năm các cô được
những cây dừa cao to xum xuê lá, những cây bàng cây gòn rậm
rạp cành nhánh xanh tươi chở che cho từ những
vạt nắng nóng miền nhiệt đới. Nàng đứng
thanh thoát như một bức tượng điêu khắc
đẹp, hai cánh tay chéo vào nhau, đôi vai nhỏ rướn
về trước một chút nhấn mái chèo sâu xuống
đáy nước, rồi hai cánh tay mở rộng ra, chiếc
ngực tròn trịa hơi ưỡn lên, nửa thân nàng ngã
về sau quạt đôi chèo đưa chiếc xuồng
phóng tới. Cái xuồng mũi nhọn phóng băng trên con rạch
nhỏ, trong lòng xuồng chất đầy những quày
chuối xiêm xanh mướt, những nải đầy
trái no tròn. Tấn chống tay lên cằm, chợt nhớ
đến hình ảnh những cô thôn nữ ở quê chàng tận
bên kia giòng Tiền Giang. Mãi nhìn động tác chèo nhịp
nhàng của cô gái, Tấn không hay chiếc xuống đã tấp
vào bờ lúc nào.
Cô gái đưa tay lên nghiêng vành nón lá, đôi
môi nhỏ hồng nhỏ nhẹ nhắc :
Tới rồi ông lính ơi !
Con gái miền quê sao cô nào cô ấy dạn
dĩ quá đi thôi. Cũng may cho Tấn, con nước đang
lớn, nên mũi ghe ghếch lên bờ đất, chàng bước
xuống dễ dàng. Khi chàng ngoáy đầu nhìn lại thì
chiếc xuồng đã tách ra khỏi đám ô rô cóc kèn mọc
xanh um trên bãi sình dựa bờ nước. Tấn gọi với
theo :
Cám ơn cô, cô... cô gì... gì... ơi.
Chiếc xuồng phăng phăng ra đến
giữa lòng con rạch, một cơn gió uà vào bờ, mang
theo tiếng cười trong trẻo như tiếng chim hát
của cô gái :
Ơn nghĩa chi anh gì... gì... ơi .
Tấn ngẩn ngơ đứng nhìn theo chiếc
áo bà ba ấp ủ cái dáng nảy nở tròn trịa của
cô gái cùng chiếc xuồng theo con nước ròng rút ra ngoài
vàm sông lớn.
Đi quanh co mấy nẽo đường
trên những con đê đất sét nhỏ phủ rơm, hỏi
thăm và theo lối chỉ của vài người dân dưới
ruộng, hay mấy cô gái ngập thân dưới những
đìa nước hái những cọng rau muống hoang
đỏ bóng, Tấn đã thấy thấp thoáng bên rặng
trâm bầu đàng xa một mái tranh nhỏ nằm trên một
giồng đất. Dường như Tấn đã đi
sâu lắm vào tận cuối làng, vì chàng không còn thấy nhà
cửa nhiều như ở ngoài gần vàm sông nữa. Có lẽ
đây là căn nhà cuối cùng, nó nằm chơ vơ cô lẻ
trên một cái mô đất hoang phế, trông thật tội
nghiệp. Đằng sau mái lá là một khoảnh rừng dừa
nước um tùm, mà chàng nghe tiếng kêu áo não của những
con chim cúm núm trong đó. Tấn bước giữa mấy
cây chuối già cỗi dường như đã chặt quày
mà chưa có ai đốn chúng ngã xuống để cho bọn
chuối con vươn lên. Căn nhà lá lụp xụp nằm
thụt sâu vào phía sau một cây cóc lớn rậm rạp
cành lá, những trái cóc chín rụng
nằm đầy trên mặt đất da đã bủn
sang màu nâu rửa nát.
Tấn tần ngần đứng trước
khung cửa nhỏ tối om, tự hỏi không biết
mình có phải đã tìm đến đúng cái mình tìm. Dường
như chẳng có ai trong nhà cả. Tấn chân thấp chân
cao đi vòng bên hông nhà bước ra phía sau, chàng trông thấy
cái sàn nước nhỏ ghép bằng những mảnh ván dừa
nằm de ra trên một con lạch nhỏ chảy vào đám
rừng dừa nước. Một bà già đang quay lưng
về phía chàng hí hoáy làm cái gì đó. Có lẽ bà lão đang vo
gạo thì phải. Đôi vai gầy trơ xương của
bà lão nhô lên cao, làm chiếc cổ nhỏ ốm tong teo của
bà như rụt mất xuống giữa hai cái hốc vai.
Mái tóc xám lơ thơ của bà chỉ có thể bó lại
thành một cái búi tí xíu như một cái củ hành tròn nhỏ.
Nghe tiếng động, bà lão ngơ ngác ngước mắt
lên nhìn, chiếc đầu của bà lắc lư tìm phương
hướng. Tấn chợt thảng thốt kêu lên trong
lòng. Một bà lão mù. Đôi mắt của bà già chỉ toàn
là một màu đùng đục, giống như hai viên đạn
có vân cẩm thạch trắng khắc vào giữa hai cái hố
sâu. Ôi, có phải bà cụ này là má của mày không Hên. Bất
giác chàng đưa tay lên túi áo nắn nắn cáigói giấy của
bạn gửi. Bà lão vễnh tai nghe ngóng, cái miệng móm mém
của bà phát ra một thứ âm thanh khàn khàn :
Ai đó ? Có phải Trâm hông con ?
Hai bàn tay bà lão đang nắm hai cái quay một
cái nồi nhôm nhỏ ám đầy lọ nồi đen thật
thảm hại. Tấn bước đến gần nhẹ
giọng:
Thưa bác, bác có phải là má của Hên không ?
Bà già giật mình buông cái nồi rớt trên sàn
nước, bà đưa cánh tay chỉ còn lớp da nhăn
nheo bọc ngoài xương run run tìm lấy tay của người
lạ:
Ai ? Cậu... cậu là...ai ? Cậu hỏi thằng
Hên hả ?
Tân nắm lấy
bàn tay xương xẩu khô khốc của bà lão :
Thưa bác, con là bạn chung đơn vị
với Hên...
Năm ngón tay của bà mẹ bấu mạnh
thêm, giọng bà run run :
Hên, Hên, cậu ơi... cháu... cháu, Hên có về
không ?
Tấn gục đầu cố dấu tiếng
thở dài :
Dạ chưa bác, Hên nhờ con về đây
thăm bác trước, nó sẽ... sẽ về khi người
ta cho phép.
Tấn nhắm mắt. Chàng nhớ lại cái
khoảnh khắc cuối cùng, Hên đặt vào lòng bàn tay
mình cái gói giấy, nó ân cần dặn chàng :
Nếu tao không về thì mày đem cái này cho má
tao !
Tấn dùng dằng cự nự :
Mày nói bá láp, bộ cứ đi là phải chết
sao ?
Hên gãi đầu :
Thì tao chỉ phòng xa vậy thôi. Mốt tới
phiên mày đi, mày có gì gửi thì tao đem về cho má mày !
Tấn đổ quạu lên :
Má tao là mấy bà phước, má gì mà má...
Hên cười giả lả :
À há, tao quên, mày là thằng con bà phước.
Tấn rùng mình. Lần này thì nó đi luôn thật.
Toán của Hên vừa nhảy xuống giữa rừng thì
đã bị hốt trọn gói, chẳng đứa nào sống
sót. Chiếc trực thăng bị nổ cháy nằm xác xơ
trên mặt đất, những cái xác nám đen văng vung
vãi.
Bà mẹ run run đứng lên, Tấn đưa
tay dìu bà đi vào nhà theo lối cửa bếp. Chiếc lưng
cong làm cho mái tóc bạc của bà mẹ chỉ cao ngang chỏm
vai của chàng. Tấn khom người chui vào khung cửa
nhỏ. Bà lão quờ quạng tìm chiếc ghế ngồi xuống,
đôi mắt trắng đục nhìn Tấn chăm
chăm :
Thằng Hên nó mạnh giỏi không cháu ?
Dạ... mạnh chớ bác.
Linh cảm của một bà mẹ về một
chuyện gì đó không bình thường lóe lên trong đôi mắt
vô hồn của bà, bà lão vẫn nhìn Tấn trừng trừng.
Tấn rút gói giấy dầy trong túi áo đặt vào tay bà
già :
Thằng Hên nó gởi cái này về cho bác.
Cái gì vậy cháu, cháu mở ra giùm bác coi.
Gói giấy được thằng Hên cẩn
thận cột chằng lại bằng nhiều lớp dây
thun. Khi Tấn đã mở tung ra hết những lớp bọc,
một xấp giấy bạc dầy phải đến
hai tháng lương của Hên nằm xếp ngay ngắn lên
nhau hiện ra, Tấn đặt nắm tiền vào tay bà mẹ
:
Bác ơi, đây là tiền của Hên gởi về
cho bác đó.
Bà mẹ chợt khóc òa lên, trong hai cái hố mắt
mờ của bà mấy giọt lệ chảy tràn ra ngoài :
Cháu, cháu... thằng Hên đã chết rồi phải
không ? Đây là tiền tử của nó phải không ...
Bà mẹ buông những đồng tiền rơi
lả tả xuống đất. Tấn đỡ lấy
bà già rối rít trấn an :
Không phải đâu bác, cái này... tụi con ở
trong rừng không có ăn xài, nên tụi con dư tiền nhiều
lắm.
Chàng cúi xuống lượm những tờ giấy
bạc lên cho trở vào cái gói giấy và đặt nó trên
bàn :
Bác cất tiền đi, mai mốt Hên về
thăm bác. Thôi bây giờ con xin phép bác con đi...
Bà lão chộp lấy cánh tay Tấn giằng lại,
một tay bà lau giòng nước mắt trên đôi má :
Con... cháu... ở đây bác nấu cơm, cháu
ngủ ở đây rồi mai hãy đi, trời chiều rồi
đâu còn đò nữa.
Tấn nhìn qua khung cửa. Mặt trời
đang chìm dần xuống trên đỉnh những ngọn
dừa nước sau nhà. Bà lão nói đúng. Đâu có còn
đò máy vào buổi chạng vạng như thế này. Bà
lão quờ quạng đi ra sàn nước tìm cái nồi gạo
vo, nhưng Tấn đã ngăn lại :
Bác cứ nằm nghỉ đi, để con
nấu cơm cho.
Bà mẹ đăm đăm nhìn chàng, Tấn
tự hỏi bà thấy gì sau đám mây trắng đó :
Mấy con ăn cơm sấy trong rừng
ngán lắm hả ?
Dạ, đói quá ăn cái gì cũng ngon hết
bác.
Tấn bắc chiếc nồi nhôm gạo lên
bếp thổi phù phù. Chàng nhìn vào một góc bếp tìm thêm củi.
Ủa, lạ quá đi, một bà già mà có ngần ấy củi
tràm vun đầy xài mấy tháng cũng chưa hết nữa.
Bà má của thằng Hên hay thật, không biết bà lấy củi
ở đâu, rồi còn chẻ củi nữa chớ. Tấn
mở cái tủ lưới ọp ẹp tìm thức ăn.
Ủa, một tộ cá sặc kho, dưới đáy chất
nước mắm và chút mỡ kẹo đặc lại
thành một lớp váng màu nâu sậm trông rất hấp dẫn.
Cái này và với cơm, thêm một tô canh chua cá rô nấu với
bạc hà hay rau muống là hết thuốc. Ước cái
gì là có cái nấy liền. Tấn nghe có tiếng một cô
gái vọng từ cửa trước :
Bác Tư ơi, con có hái rau muống nấu
canh chua nè.
Thiếu chút nữa Tấn đã ngã ngửa
ra phía sau. Cái giọng trong trẻo này nghe rất quen, có lẽ
nào... Bà lão vui mừng kêu vói lên :
Trâm hả con ? Xuống đây, xuống
đây, có cậu bạn của thằng Hên về thăm
nè.
Tấn có cảm tưởng cô Trâm nào đó
đang lao xuống và mang theo một cơn gió mạnh, chàng
quay lại nhìn. Bỗng Tấn kêu lên trong nỗi ngạc
nhiên :
Ủa, là... là cô...
Cô gái cũng đứng sững người
lại tròn mắt nhìn chàng trai :
Á... là ông lính quá giang đây mà.
Bà lão ngơ ngác nhìn lên :
Cái gì vậy Trâm ?
Trâm bẽn lẽn nhìn ông lính :
Dạ hồi nãy con chở ông này qua sông đó
bác Tư.
Bà già vui mừng sờ soạng kéo cô gái ngồi
xuống ghế :
Vậy là mấy con quen nhau rồi hả.
Trâm, tiền của thằng Hên nè, con cho bác gởi lại...
Trâm đẩy tay bà lão nhỏ nhẹ :
Đâu có gì bác Tư, bác giữ đó xài.
Bà lão cố ấn một nắm tiền vào
tay cô gái :
Con giúp bác hoài, bây giờ con phải nhận,
bác cám ơn con còn không hết ...
Đến bây giờ thì Tấn đã mường
tượng hiểu. Đống củi trong góc bếp, tộ
cá kho, khạp gạo đầy, đều là do bàn tay quán
xuyến của Trâm. Không cần phải suy đoán gì nhiều,
Tấn cũng có thể kết luận được
ngay, Trâm và Hên, hai đứa nó là đôi tình nhân, rồi vì
chiến tranh mà phải gạt lệ chia tay nhau. Chàng lên
đường, ân cần nhắn nhủ người yêu ở
quê nhà chăm sóc mẹ già giùm. Khi chàng về lúc đất
nước đã thái hòa, thì đôi đứa sẽ nối
lại cuộc tình và sống với nhau đến trọn
đời. Ôi, tình yêu ở miền thôn dã sao mộc mạc
mà thơ mộng đến vậy. Tấn và nhiều
đồng đội chàng đã từng nghe những bài
hát với những giọng hát nỉ non tương tự
như thế. Trong bóng vinh
quang rộn ràng. Anh bước hiên ngang về làng. Miền
Nam reo vui nơi nơi thanh bình ca. Nhưng đánh giặc
mãi hoài, Hên mất xác, chàng khập khểnh thương phế,
mà sao vẫn chưa thấy đất nước được
thái hòa.
Tấn còn đang miên man suy nghĩ thì bỗng
nhiên, chàng nghe bếp lửa kêu xèo một tiếng. Trâm giật
mình chạy đến cúi xuống nhìn :
Thôi chết, cơm trào !
Tấn rên lên trong lòng. Thôi rồi, cơm trào
có nghĩa là cơm nhão. Gạo đã nở hết cỡ,
dù có chắt hết nước nó vẫn cứ... nhão. Tấn
sượng sùng nhìn cô gái cầu cứu. Trâm ném cho chàng một
cái nhìn trách móc :
Nghe nói lính tráng nấu cơm hay lắm mà !
Chiếc xuồng tam bản theo chiều sóng
đi chênh chếch về phía bên kia con sông lớn. Con sông Hậu
Giang bao la bát ngát, vóng vỗ đồm độp hai bên mạn
xuồng, làm cho nó bị dồi lên xuống như một
chiếc lá khô. Hàng hàng lớp lớp ngọn sóng sủi bọt
đùn đẩy nhau chạy lăn tăn theo giòng nước,
trông như những đóa hoa trắng xóa. Tấn ngồi ở
đầu ghe nhìn theo hai chiếc mái chèo quẫy nước.
Những khóm lục bình đầy hoa tím trôi dật dờ
hai bên chiếc xuồng. Ánh mặt trời buoiå sáng rải
lên mặt sông, xuyên qua những làn hơi sương mù ẻo
lả lãng đãng trên sóng nước. Bọn chim trời
đảo lượn trên cao tìm mồi, thoắt cái, có một
con phóng vút xuống như một mũi tên, đôi cánh xoải
rộng gần như chạm mặt sông, chiếc mỏ
nhọn mổ sâu xuống. Khi con chim cất cánh lên, một
chú cá đen nhánh đang dẫy dụa trong đôi gọng kềm
khép chặt của nó. Không ghìm được, Tấn vỗ
tay hoan hô :
Hay lắm !
Trâm lơi mái chèo
đưa tay lên quẹt vài giọt mồ hôi trên trán :
Anh chưa từng thấy chim bắt cá bao giờ
sao ?
Tấn quay lại :
Có chứ. Nhưng đã lâu lắm rồi...
Chàng nhìn những giọt mồ hôi rịn nhỏ
lóng lánh trên hai cánh mũi của cô gái đề nghị :
Trâm nghỉ chút để tôi chèo thế cho.
Trâm cười nhẹ :
Chèo được không đó ?
Tấn xăng xái :
Được chứ, tôi là người ở
quê như Trâm mà.
Quê anh ở đâu ?
Tấn làm ra vẻ bí mật :
Tôi ở bên kia sông Tiền Giang, cái xã tôi ở
có cái tên rất ngộ nghĩnh là, à..., tôi đố Trâm có
cái xã nào của Việt Nam mình mang tên ba nước lớn
mạnh trên thế giới. Nếu cô nói trúng thì tôi sẽ
chèo từ đây qua đó, rồi từ đó trở về
nhà bác Tư.
Trâm nhíu mày suy nghĩ, cái trán da căng mịn
màng của nàng thoáng mấy đường nhăn. Trâm cắn
môi :
Xã Mỹ... Mỹ Tho.
Trật lất !
Tây Ninh ?
Trật luôn, cái đó là tỉnh chứ đâu phải xã.
Cô gái lắc đầu :
Thôi em chịu thua... khó quá hà...
Tấn đã toan nói, thì chợt Trâm hớn hở
kêu lên :
Á, em nhớ ra rồi, có phải anh ở xã Mỹ
Đức Tây hôn ?
Tấn gãi đầu làm ra vẻ rầu rầu
:
Phải rồi. Thôi, Trâm nghỉ để tôi
chèo trả nợ...
Trâm bật tiếng cười khúc khích :
Thôi anh thương binh ơi, cho anh thiếu
chịu đó, không cần đâu. Chưa chắc ai đã
chèo hơn ai.
Sau một đêm trằn trọc dưới
mái lá lụp xụp của bà mẹ Hên, Tấn đã khoác
ba lô từ giã bà để lên đường. Sau gần chục
năm ở lính, trong lòng chàng nôn nao muốn trở về
quê cũ. Dù ở đó chẳng còn ai chờ đợi,
cha mẹ chàng đã mất từ lâu, anh chị cũng
không, nhưng Tấn vẫn thấy một nỗi thúc giục
xốn xang từ tận đáy lòng, một tiếng gọi
thiết tha từ nơi mà chàng đã cất tiếng khóc
chào đời. Bà mẹ của Hên suốt đêm đã
lăn trở trên chiếc chõng tre phía bên kia và cứ hỏi
chàng mọi chuyện về Hên. Bà giăng bắt, chặn
ví những sơ hở của chàng, để tìm ra trong
đó dấu hiệu cái chết của con bà. Linh tính của
một bà mẹ dường như đã tiên báo cho biết,
sự hiện diện của Tấn là một điềm
chẳng lành, mà bà phải gạn hỏi cho ra. Bà lão nằm
quấn mình trong cái mền cũ sờn rách, cái thân xác ốm
chỉ còn da bọc xương của bà dường như
chìm mất dưới tấm mền bùng nhùng, chỉ còn
nhú lên mái đầu tóc bạc. Một bà lão mù sống đơn
độc trong một căn nhà lá nhỏ bé, ở giữa
cánh đồng mênh mông gió hú. Tấn trằn trọc ỡ
giữa những tiếng kêu oàm oạp của bọn ếch
nhái từ đám dừa nước, và tiếng vạc
săn mồi trong sương trên những cánh đồng
lúa.
Tấn đã chạnh lòng nghĩ đến
cuộc chia tay sáng ngày mai, chàng sẽ không còn bao giờ trở
lại chốn này. Tấn cố nén những tiếng thở
dài thương cảm tình cảnh khốn khó của bà lão.
Chàng không dám nghĩ đến những ngày sắp tới của
một bà mẹ mù ngày ngày mỏi mòn trông ngóng tin của thằng
con ở tận ngoài miền cao nguyên. Tấm giấy báo tử
của đơn vị nhờ chàng đem về trao lại
cho bà mẹ, Tấn vẫn còn giữ trong túi. Làm sao mà chàng
dám đưa tờ giấy đó ra cho một bà lão mù tội
nghiệp và trơ trọi thảm thương như thế
này. Đơn vị chàng đã mấy lần gửi giấy
báo tử mà nó cứ bị trả về. Ở chốn
đông không quạnh quẽ nầy, lấy đâu ra số
nhà. Chỉ đến khi chàng bị thương tật
được giải ngũ trở về cố hương,
thì người ta nhờ chàng cố gắng truy tìm bà mẹ
của Hên. Cái gói giấy bí mật của Hên gửi chàng phải
đến gần một năm sau mới đến được
tay người nhận.
Buổi sáng, Tấn đã gượng giả
vờ tươi tỉnh nắm lấy bàn tay của bà mẹ
trong phút giây giã từ :
Con xin phép bác con đi cho kịp chuyến
đò sáng.
Đôi mắt trắng đục của bà
lão ngước lên nhìn chàng, đôi môi xám xịt và khô nứt
của bà lắp bắp :
Cháu... cháu... nói thằng Hên xin phép về
thăm bác...
Dạ, thế nào nó cũng về thăm bác.
Tấn biết mình đã nói dối. Bà mẹ ấn
vào tay Tấn nải chuối xiêm vừa chín tới :
Bác không có gì cho cháu, cháu lấy nải chuối
này lấy thảo.
Tấn đi nhanh ra khỏi căn nhà lá, trái
tim chàng nhộn nhạo một nỗi muộn phiền cảm
thương. Chàng không dám quay lại nhìn đôi mắt hấp
háy ứa mấy giọt nước mắt của bà mẹ.
Nhưng khi chàng vừa bước đến ngưỡng
cửa, đột nhiên cây cột bên mái hiên chuyển mình
răng rắc rồi đổ sụp xuống. Một
góc mái lá đổ nhào theo. Cây cột bị mối ăn
nhiều năm, đến lúc không còn chống chỏi
được nữa, nó đã gãy gục. Tấn tần
ngần đứng nhìn cái mái đổ, hai bàn tay chàng
đan vào nhau bối rối. Tấn cắn môi suy nghĩ.
Chàng lắc đầu thở ra một hơi dài. Tấn
biết rằng, chàng phải ở lại thay Hên dựng
cái mái lá này. Chàng ái ngại nhìn lên những đốm sáng
xuyên qua nóc. Ôi, căn nhà đã quá dột nát. Nhà dột mà cột
cũng xiêu. Chắc là phải thay hết nguyên hai cái mái nhà.
Làm ơn thì làm ơn cho trót, Tấn tính toán, chắc mình phải
chơi luôn mấy cái vách chung quanh nữa, cũng đã rách
nát tả tơi quá rồi, coi như tân trang hết cha nó
cái nhà. Khi nghe Tấn đề
nghị nàng chở chàng đi đặt mua lá mới, Trâm
đã nghiêng đầu nhìn chàng, đôi mắt rưng rưng
không thể nói được một lời nào.
Anh Tấn ơi, anh nói thật đi, có phải
anh Hên đã hy sinh rồi không ?
Tấn giật mình ngước lên nhìn đôi
mắt u sầu của Trâm, chàng ú ớ :
À, không... không... làm gì có chuyện đó.
Cô gái nhẹ lắc đầu nghẹn ngào :
Anh đừng dấu em, bác Tư không nhận
thấy, chứ em thì thấy...
Trâm đã thấy gì ?
Anh... anh đã khóc hồi sáng này, lúc em vừa
mới qua thấy anh đứng bên cái mái đổ.
Tấn quay mặt chỗ khác :
Không phải, chỉ vì...
Trâm vẫn không chịu buông tha chàng :
Bụi lọt vô mắt phải không, em không
tin. Em biết anh nói dối...
Chợt cô gái ôm mặt khóc nấc lên, nàng buông
chèo ngồi sụp xuống tấm ván. Chiếc ghe không người
chèo chống quay vòng vòng như trong một cơn trốt
xoáy. Trâm ngước đôi mắt đẫm đầy nước
mắt lên :
Em biết anh Hên đã chết rồi !
Tấn gượng chống chế :
Làm sao Trâm dám chắc như vậy được
chứ ?
Trâm khóc òa lên :
Đêm qua ảnh đã về, em thấy máu me
tùm lum hết !
Đến nước như thế rồi
thì không còn dấu diếm được nữa, dù có tin
chuyện mộng mị hay không, Tấn đành thở dài
rút tờ giấy báo tử ra trao cho Trâm :
Đã vậy thì thôi, sớm muộn gì thì bác Tư
và Trâm cũng phải biết sự thật.
Trâm đón lấy tờ giấy hối hả
đọc. Bỗng dưng nàng có cái cảm giác nhộn nhạo
như là chiếc ghe đang chao đảo dữ dội,
trời đất quay cuồng, những đống lá dường
như bị gió cuốn bốc lên bay tán loạn trên không
trung. Từ trong thanh quản của Trâm ngân nga tiếng kêu
bi thương, rền rền trên những bọt sóng nước.
Rồi nàng đổ xuống lòng chiếc xuồng nằm
chết lịm...
Dòng đời trôi lặng lẽ như những
sợi mạng nhện giăng âm thầm trên một góc chiếc
mái lá thấp. Một cái bàn thờ nhỏ, cũ kỹ nằm
dựa chiếc vách ngăn đôi nhà trên và nhà bếp, bên
trên có hai cái khung hình. Cái khung bên phải có tấm hình của
một người đàn ông trung niên nét mặt khắc khổ,
râu mép và râu càm kéo dài xuống thành một chùm ngắn. Hình chưng
đã lâu nên đã ngã màu vàng úa và lốm đốm vài vệt
trắng. Phía bên trái, là ảnh bán thân một người
thanh niên trong chiếc áo lính màu ô liu, ánh mắt và nụ cười
hiền hậu. Một chiếc lư hương nhỏ
đang nghi ngút khói thơm từ những cọng nhang vàng mảnh.
Một dĩa gồm vài thứ trái cây đơn sơ mộc
mạc ở miền quê. Đu đủ, mãng cầu, vú sữa,
cam, quít. Một vài món thức ăn đạm bạc có thể
tìm được ở những vùng đất nghèo nàn. Tép
rang, cá rô chiên dầu dừa, măng mạnh tông xào, canh nấm
rơm. Một chai rượu đế nhỏ, mấy cái
chung sành, hai chén cơm và hai đôi đũa. Một bà lão
đang đứng lâm râm khấn vái trước di ảnh
của hai người đàn ông. Phía bên phải của bà
lão, một cô gái trong chiếc áo bà ba lụa mới màu hồng.
Nàng rưng rưng nướ c mắt nhìn đăm
đăm vào tấm hình của người lính trẻ.
Trong màn lệ nhạt nhòa, trời
ơi, nàng có nhìn lầm không, chàng đang mĩm cười
với nàng. Cô gái lảo đảo vịn tay vào góc bàn thờ.
Bên phía tay phải bà cụ là một chàng thanh niên trẻ tuổi
như người lính trong ảnh, chàng cũng mặc một
chiếc áo lính màu ô liu và chiếc quần tây vải đen
bạc màu.
Bà lão sờ soạng nắm hai bàn tay của
cô gái và chàng trai giọng nghèn nghẹn :
Tấn con, Trâm con. Hôm nay cúng giỗ giáp năm
thằng Hên, bác có chuyện muốn nói với hai con. Dắt
bác lại bộ ván đi con.
Vẫn nắm chặt tay đôi trai gái, bà lão
kéo họ cùng ngồi xuống :
Chuyện của hai đứa bây, bây giờ
tính sao ?
Cô gái thẹn thùng cúi đầu xuống vân vê
tà áo :
Sao là sao Bác Tư ?
Bà già móm mém cười :
Thôi, bác biết hết rồi. Hai đứa
bây... thương nhau phải hông ? Nói thiệt đi để
bác tính cho.
Trâm buồn rầu đưa mắt nhìn người
lính trong ảnh, chàng vẫn đang cười với mình,
nàng gượng gạo trả lời :
Bác Tư cho con chờ ảnh thêm một
năm nữa...
Bà mẹ thở dài :
Thôi đủ rồi con, ba năm dài quá rồi.
Thời buổi này chờ đợi vậy là thằng Hên
nó cũng mát ruột lắm rồi con. Thằng Tấn mày
nghĩ sao ?
Tấn lúng túng :
Dạ, Trâm nói phải đó bác. Để thủng
thẳng...
Chàng nhìn vào ánh mắt hiền hậu của
người trong hình, lòng dậy lên những khoảnh khắc
của quá khứ :
Con vẫn luôn có cái linh cảm là Hên chưa chết
bác à !
Đôi mắt mờ đục của bà mẹ
sáng lên tia hy vọng, bà bấu vào vai Tấn run run :
Thật vậy hông con ?
Dạ, lúc tụi con nhảy xuống tìm kiếm
thì thấy mất một cái xác, nhưng không biết là của
ai, cái nào cái ấy cháy thành than hết rồi.
Bà lão lẩm bẩm một mình :
Nếu nó còn sống thì nó cũng phải về
chớ...
Bà đưa tay áo lên quẹt nước mắt
:
Trâm, con lấy cái hộp gỗ mun trên đầu
giường đưa cho bác.
Chiếc hộp được bà lão gói trong một
lớp vải điều đỏ, mà bà gối đầu
lên đó ngủ từ mấy chục năm qua, đến
nỗi vải đã ngã sang màu bạc phếch. Bà lão run run
ôm chiếc hộp trong lòng, đôi bàn tay nhăn nheo của
bà sờ soạng, ấp ủ nó như đang nâng niu một
báu vật. Bà chậm chạp mở dần tấm vải
điều để lộ chiếc hộp gỗ mun chạm
trỗ rất công phu, sau nhiều năm tháng đã ngã màu
đen bóng. Bà lão trao chiếc hộp cho Trâm khàn khàn giọng
:
Trâm con mở ra đi con...
Trâm lạ lùng đón lấy chiếc hộp,
lòng thầm hỏi, có phải chăng đây là những món
gia bảo của bà, bà đưa cho mình làm gì, tại sao bà
không tự mở ra có phải hơn không. Trâm hồi hộp
mở nắp, bên trong hiện ra một lớp vải
điều đỏ chói nữa. Tâm mở tiếp gói vải.
Ôi trời, trước mắt nàng hiện ra những món nữ
trang vàng chói rực rỡ. Tấn nghiêng đầu nhìn vào.
Một cái kiềng đeo cổ, một sợi dây chuyền
dầy nặng và tấm mề đay cẩm thạch
đã lên nước màu xanh đậm, một đôi bông
tai cẩn hột xoàn to bằng mút đũa, hai chiếc
nhẫn trơn, có lẽ là nhẫn cưới và một cặp
xuyến vàng đeo tay cẩn hồng ngọc. Một gia
tài lớn của một bà già nghèo. Trâm chợt nhận biết
bàn tay của bà mẹ đang run rẩy trên mái tóc của
mình :
Trâm con, đây là của hồi môn má của
bác trao lại hồi bác theo bác trai. Bây giờ... bây giờ,
bác trao lại cho con với thằng Tấn.
Đôi môi héo úa của bà mẹ lắp bắp,
đứt khoảng :
Thằng Hên mất rồi, bác còn có hai đứa
bây, bác cho hai đứa con đó. Mai mốt bác có... có... theo
ổng rồi, thì hai đứa con bán vòng vàng này lấy vốn
làm ăn với người ta...
Trâm không ghìm được cơn đau xót,
nàng ngã vào lòng bà mẹ khóc nức nở :
Má ơi, con không dám nhận đâu...
Bà mẹ nở nụ cười thương
mến, bà vuốt tóc nàng :
Bác... má... biết trong mình của má, không lâu
đâu mấy con ơi... Mấy con làm đám cưới
cho tía má, với thằng Hên vui lòng...
Mấy giọt nước mắt của bà mẹ
rơi lã chã lên đôi má của Trâm, nàng vùi vào ngực bà nấc
lên không nói được lời nào. Tấn nắm chặt
tay bà lão cảm động :
Tụi con không thể lấy được
đâu... má ơi !
Đây là tiếng yêu thương lần đầu
tiên sau nhiều năm côi cút chàng gọi một bà mẹ.
Chàng đã không thể ra đi, mỗi lần khoác ba lô lên
vai, đã đi ra đến con đê ngoài xa rồi, mà khi
nhìn lại thấy cái bóng nhỏ còm cõi của bà mẹ
đứng tựa cửa trông theo, Tấn chịu không nỗi,
chàng lại quày trở lại. Rồi cứ nấn ná lần
lửa mãi, nuôi trong lòng một hy vọng, rồi sẽ có một
ngày Hên trở về. Mới vậy mà đã ba năm.
Một bóng người cao to, không biết từ
lúc nào đã lừng lững đứng chắn giữa
khung cửa, làm bên trong căn nhà tối sầm lại. Anh
kêu lớn lên hớn hở :
Má ơi, con đã về !
Bà mẹ rùng mình ú ớ, đôi cánh tay bà vươn
về phía trước :
Thằng Hên phải không ?
Hên chạy ào vào ôm lấy mẹ :
Con là Hên, con đã về...
Bà mẹ cuống cuồng quấu chặt lấy
đôi vai đầy của thằng con kéo xuống ngửi
hít :
Đúng là thằng Hên đây rồi.
Trong màn nước mắt, Hên nhập nhoạng
trông thấy bóng hình người con gái mà chàng luôn mang theo
cùng với trái tim trên khắp nẽo quê hương, Hên kêu
lên :
Trâm em, anh là Hên đây !
Một buổi sáng đẹp, ánh mặt trời
xuyên qua cành lá làm thành những sợi chỉ vàng óng. Lũ
chim chóc ca hát ríu rít đón bình minh một ngày mới trên ngọn
cây xanh trước nhà. Tấn hân hoan khoác ba lô lên vai quay nhìn
lại lần cuối cùng mái lá đầy ắp kỷ niệm
của ba năm trường. Lần này thì chàng đã có thể
ra đi với lòng thanh thản. Trong lòng chàng cuồn cuộn
một nỗi xôn xao không biết gọi tên là gì. Có phải
chăng đó là một niềm hạnh phúc chứa chan cùng
chia sẻ vơiù người bạn chiến đấu của
mình về từ cõi chết. Hên vỗ vai bạn bịn rịn
:
Tấn, mày là thằng bạn tốt nhất
trên đời, tao mang ơn mầy. Mầy hãy ở lại
đây, đừng đi đâu hết, mày đâu còn ai mà về.
Ở đây mày có tất cả.
Tấn nắm lấy tay bạn :
Tao nấn ná đến giờ này là vì mày. Bây giờ thì tao phải
về quê của tao. Cây có cội, nước có nguồn.
Tao phải về chăm nom mồ mả ông bà, ba má tao.
Trâm rơm rớm nước mắt :
Anh Tấn nhớ về thăm tụi em.
Hên cầm đôi dầm lên :
Để tao đưa mầy ra ngoài vàm
đón đò máy.
Trâm đỡ lấy đôi dầm :
- Anh để em, em muốn chèo tiễn đưa
anh Tấn đi.
Tấn quay người muốn bước
đi, thì đột nhiên một bàn tay nắm chặc lấy
bờ vai đầy của chàng cùng một giọng già nua
quen thuộc của mẹ:
-Tấn con... mẹ có món quà này cho con.
Tấn ngơ ngác xoay trở lại để
nhìn thấy bà mẹ run run ấn vào tay chàng một cái gói lụa
nhỏ. Những ngón tay của Tấn chạm phải những
vật gì cưng cứng sau mấy lần vải gói. Tấn
đã đoán biết được quà của mẹ tặng
cho chàng là cái gì rồi. Tấn rưng rưng nắm lấy
bàn tay gầy nhăn nheo của mẹ:
-Má ơi... con không nhận được
đâu. Cái này là bảo vật gia truyền của má...
Từ khóe mắt của bà mẹ ứa ra hai
giọt lệ trắng như ngọc, từ từ lăn
xuống đôi má hóp:
-Không... Con hãy giữ lấy, cái này là quà hồi
môn của má dành cho vợ chồng con đó...
Khi đã ngồi lên trên chiếc xuồng cùng
với Hên, Tấn quay đầu nhìn lại căn nhà nhỏ
trên giồng đất. Cái dáng nhỏ gầy còm của mẹ
đứng trơ vơ bên sân nhà dõi mắt nhìn theo. Bà đưa
tay lên vẫy. Tấn thẫn thờ vẫy tay chào mẹ.
Nhưng bà có thấy gì đâu. Chỉ có tiếng mái chèo quẫy
nước nhè nhẹ. Tấn thở ra một hơi dài cảm
khái. Cuối cùng thì chàng đã có thể dứt áo ra đi với
tất cả sự thanh thản trong lòng. Ở giữa ánh
nắng chói chang rực rỡ và tiếng chim hót rộn rã
trên cành.