CHÍN LỢI DỤNG
Truyện ngắn
của: HaiNgườiBạn
Chín Lợi Dụng. Ban đầu nghe thiệt
chỏi tai mà còn tức muốn ói máu nữa, rồi cũng
quen quen từ từ, có khi nghĩ lại còn hãnh diện. ‘Ở
đời mà, có thằng nào sống mà không lợi dụng
người khác hay bị người khác lợi dụng
đâu. Đố đó. Đâu chỉ cho tui người
nào đâu, tui kêu người đó bằng ông nội.’ Chú
nói lầm thầm, lúng búng trong miệng rồi cười
toe toét. Cúng Trời cúng Phật, vái ông Địa ông Làng
cũng là lợi dụng thôi. Chú
cười mím chi, xăn ống quần lên khỏi
gối, vác cây đờn cò lội qua mương bông súng
đi te te thẳng về phía nhà Tư Đấu.
‘Đi đâu mà sớm bửng bưng vậy
chú Chín ơi, kiếm gì lợi dụng hả chú?’ Có
tiếng ai đó trong nhà chú đương băng ngang qua
sân hỏi vọng ra, giọng thiệt là mai mỉa.
‘Thì lợi dụng đám giỗ của ông
già Tư Đấu, tới đờn vài bản kiếm
bữa cơm trưa luôn thể cháu ơi!’
Buột miệng ra rồi chú ngẫm nghĩ
có lẽ cũng tại mình. Giống như người
bị mắc chứng nói lịu, vừa mở miệng
thì tiếng “lợi dụng”
nằm sẵn ở đầu lưỡi nhảy vọt
ra trước, trăm lần như một, bụm không kịp.
Coi vậy chớ chòm xóm láng giềng ai
cũng thương chú. Trong làng, hễ chỗ nào
động dao động thớt, không cần ai bắn
tiếng mời mọc, một lát cũng thấy chú lù lù
xuất hiện. Cái quần ống cao ống thấp,
điếu thuốc trên môi và cây đờn cò vác trên vai. Mua
vui cho tất cả mọi người mà không làm phiền
lòng ai. Các bài nằm lòng của chú là Nam Ai, Văn Thiên
Tường, Tứ Đại Oán và Dạ Cổ Hoài Lang.
Dạ Cổ Hoài Lang thứ thiệt chứ hỏng
phải thứ Vọng Cổ mắc dịch dài sọc đời
bây giờ. Chơi luôn cho cả đám cưới lẫn
đám ma. Đám nào cũng có bài ruột, vui thì vui tới
mây xanh mà buồn thì buồn tận mạng..
Tiếng đờn cò của Chín Lợi
Dụng có sức hút mê tơi theo điệu nghệ
của người chơi đờn sành sõi chớ không
phải đơn thuần dừng lại ở tiếng
đờn của dân ba mứa mới học chưa biết
cầm cây đờn cho đúng điệu. Môi dưới
kéo xệ xuống, trề trề dán đuôi điếu
thuốc gò, vấn thiệt mỏng. Lâu lâu nước
miếng nhiễu ra thấm ướt nhẹp. Mắt tim
híp mơ màng cõi Tiên. Khói thuốc thưa mịn bò lần vô
gần tới miệng. Có lúc không thấy lên tiêm.
Tưởng đâu tắt ngúm rồi chớ. Rồi chú
vội chép miệng cái phẹp như bà bầu ăn me chua
chưa đã thèm. Rồi thì đâu vô đó, thuốc
tiếp tục cháy, nước miếng tiếp tục chảy
dộng ngược vô tuốt cổ họng. Mắt
lại sụp mí, lờ đờ trôi nổi vô cõi Thiên
Thai. Ngó vô cây đờn với cái mã vĩ chạy qua vuốt
lại một hồi thế nào cũng bị thôi miên. Nghe
người đờ đẫn ra, hồn phi phách tán, tha
hồ bỏ quên cõi trần mà chờn vờn bước vô
cõi mộng.
Cuộc cúng kiếng gần xong thế nào
rồi gia chủ cũng cho dọn riêng một mâm, chắc
chắn là bĩ bàng, dành cho các bô lão trong làng ngồi
tiếp chuyện với Chín Lợi Dụng. Đá
động tới tuồng tích hát bội hay cải
lương là gảy đúng chỗ ngứa của chú. Chú
buông đũa nói quên ăn. Chú nhắc tới hành trạng
của ông nhưn nầy, thầy tuồng nọ. Chú kể
chuyện đi ghe vô lạch Cùng, vàm Hẻo cúng đình nằm ngủ
dưới bàn Thần, xa cạ, lộn lạo.. Còn
gợi tới đời tư, chú đánh trống lãng băng
đồng qua chuyện khác. Có bữa cao hứng chú nhập
vai một hai khúc ngay trong bàn, khiến nhiều ông buông
đủa, trố mắt ếch.
Hôm nay bỗng nhiên gia chủ mở màn.
‘Đâu anh Chín biểu diễn khúc Tang
Đại từ giả người yêu coi. Hèn lâu chưa
được thưởng thức lại tài nghệ
của bạn mình cũng nhớ nhớ.’
Có tiếng ai đó chỏ mỏ vô vừa
hổn hào vừa vô duyên.
‘Thì cũng giống như ổng từ
giả má thằng Tửng hồi đó vậy mà!’
Chín Lợi Dụng giả đò không nghe.
Thị tụi nó như ruồi, như muỗi, biết gì
chuyện ở đời! Chú nuốt nước miếng
cất giọng ca bài Dạ Cổ ruột.
Vì lâm cơ nguy khổ,
Nên
mới giả gái theo nàng,
Hồi
trưa lúc đi ra đàng,
Tôi
muốn dông nhưng ngỡ ngàng,
Nơi
bỡi nơi y phục,
Đó
đã giành ôm để vào kiệu kia,
Nầy
vừa đêm khuya vắng,
Tôi
đổi đồ đặng có dời chơn.
Nhưng
phải kêu cô dậy,
Cho
biết rằng đây đứng hùng-anh.
Lòng
đây lòng dám đâu vong tình,
Chờ
sau liệu nỗi mình.
Chú ngừng thiệt lâu, uống
nước. Chờ đợi tác dụng của tiếng
hát. Cả đám giổ lặng trang. Có tiếng mấy con
ruồi vo ve. Cuối cùng, chịu không được
vợ Tư Đấu lên tiếng.
‘Thôi mà anh Chín, đừng nhận lớp,
còn nàng An Lệ Tiên khóc từ giả đâu không thấy.
Tôi thích lời hứa của cô ta. Hứa mà giữ
lời. Đời bây giờ hứa dỡm tràn đồng,
bắt ngán.’
Chú làm bộ khóc rồi chuyển sang
giọng con gái, tỉ tê.
Lời lời sắt đinh,
Thiếp
thương chàng nên cũng lòng tin.
Đó mực
đổi thay nghĩa tình,
Thiếp
quyết gìn lòng son, dám nào vong.
Rồi giọng chắc nịt của
đàn ông:
Biết nhau rồi,
Đây
kiếu đặng tầm phương,
Sao mai mọc
đoái xem sáng hừng,
Xin đó
đừng bâng khuâng để tôi đi.
Chú nhắm mắt, tiếng vỗ tay kéo
dài. Có tiếng hít hà. Có tiếng phẩm bình trân trọng.
Để cho tiếng vổ tay trở thành lác đác chú
Chín mới đủng đỉnh sửa dây cho cao hơn,
kéo một bản Bình Bán Vắn……
Bị tiếng đờn nầy mà vợ
con bỏ chú đi biệt tăm biệt tích và cũng
nhờ tiếng đờn nầy mà chú chui lọt
được vô cửa sau chị Hai Bông chó cụp
đuôi không sủa tiếng nào. Chị Hai Bông hạ
trống xuống, không treo nữa, để cho chú đánh
thùng. Chị Hai nhỏ tuổi hơn chú tới hai con giáp,
mặc áo bà ba ôm eo sát rạt, ngày nào cũng bưng thúng bánh
ít chàng ràng mời mọc trước nhà máy chà lúa. Mấy
đứa trai trẻ vác lúa mướn cho những
người cặp xuồng đi chà cứ kêu em em
ngọt sớt, vậy mà gặp chú Chín đi trờ
tới là xếp re, cúi đầu chào. Cha mẹ tụi nó
rất nể trọng chú. Đôi khi mang ơn nghĩa nữa
là đàng khác. Còn hồi nhỏ, mấy đứa nhóc
nầy theo chú ra lung hoặc vô rừng lá học cách bắt
le le, ốc cao, bìm bịp. Đến khi tụi nó nhổ
giò lớn lên đi làm thì chim chóc vùng nầy cũng gần
tuyệt chủng.
Mấy bà ở xa chỡ lúa đi chà
thường nằm ngồi lê lếch trên bộ ván
ngựa trong quán cóc bên hông nhà máy bàn qua tán lại không
mệt ba cái chuyện của chú.
‘Đó, đó! Là thằng cha Chín Lợi
Dụng đó. Làm biếng quá bị vợ bỏ, lấy
con Hai Bông bán bánh ít, nhỏ còn hơn con thằng chã nữa.
Con nhỏ nầy chồng chết mất xác, chưa có con
nên còn ngộ lắm. Không biết nó trúng bùa ngải gì mà vướng
vô Chín Lợi Dụng, tối ngày đi bán bánh ít nuôi chã
ngồi lê lếch kéo đờn cò hết đám ma tới
đám cưới. Nghe nói hồi xưa chã trốn quân
dịch đi theo gánh hát bội mà cha cô ta làm bầu. Chả
làm thẻ căn cước giả, gắn râu làm ông già
thủ cây đờn cò từ lúc con Hai chưa ra
đời. Vậy mà quân cảnh nó cũng biết
được, xông vô bắt giữa lúc đương hát
cúng đình dịp lễ Kỳ Yên. Cái nòi xướng ca,
cái máu nghệ sĩ nầy họ dễ quến nhau
lắm chị ơi! Nhưng chị cứ chống
mắt lên coi. Được vài tháng là họ bỏ nhau liền
hà. Với nữa, trâu già cỏ non làm sao lâu dài…’ Có những
tiếng cười nức nẻ và những cái
đấm lên lưng nhau..
Chồng chị Hai đi bộ đội, hy
sinh ở chiến trường Cam Pu Chia. Hôm tìm
được hài cốt mang về chôn trên nghĩa trang
liệt sĩ Huyện, chú cũng mang đờn cò đi
theo chị Hai ra cúng mâm cơm rồi ngồi kéo đờn
cho các anh bảo vệ ca vọng cổ, nhậu
rượu đế suốt đêm ngoài mả. Chú cũng
lít rít khóc theo chị Hai, đốt nhang chổng khu xì xụp
lạy, khấn vái lia chia. Chẳng biết thiệt tình hay
làm màu làm mè. Vậy mà chị cảm thấy ấm lòng
phần nào với người đã mất.
Hồi mấy năm còn ăn độn,
chỉ có một mình chú biết được chỗ chiếc
xe nhà binh Mỹ chỡ đồ quân nhu bị trúng mìn
lật chỏng gọng nằm dưới con rạch bên
hông sân chùa. Xe được cẩu lên từ lâu rồi.
Con nước lớn, ròng mang theo bùn sình chôn vùi mọi
dấu vết vô quên lãng. Vậy mà Chín Lợi Dụng tìm
đâu ra hai kí nếp, vô chùa cúng dường rồi xin
thầy trụ trì ra sau mương mò vớt đồ
hộp Mỹ đem về cho mấy nhà quá đói khổ
trong xóm.
Tư Đấu
lật đít lon lấy nùi giẽ chùi đi chùi lại
rồi tắt lưỡi tiếc hùi hụi làm như mình
là người chữ nghĩa.
‘Toàn là đồ quá đát hết rồi.
Ăn vô là bỏ mạng cả đám. Thôi bỏ hết
đi bà con ơi!’
Vừa nói dứt lời, Tư Đấu
quay lại đã thấy vợ mình cạy hộp thịt múc
cho ông già mình ăn hết hơn phân nữa hồi nào
rồi. Ăn ngon lành như đứa con nít bị cha mẹ
bỏ đói lâu ngày. Chú Tư chưng hửng đứng
nhìn cảnh tượng nầy như bị trời
trồng, buông phịt hộp thịt rớt lăn vòng trên
nền nhà lộ vẽ đăm chiêu, tư lự.
Mà sao hay thiệt. Chuyện hồi đời
nẳm nào mà thằng chả cũng biết. Hay ở
chỗ lợi dụng luôn được quá khứ. Thiệt
hết chỗ nói. Tư Đấu vừa nghĩ vậy
vừa định bụng chắc mớ đồ
hộp quá đát nầy vẫn còn ăn được. Y
tá còn lấy thuốc quá đát chích đại cho
người. Có ai chết đâu. Mô Phật! Của đâu
mà bỏ uổng vậy?
Ban đầu, sau khi lợi dụng cúng
Phật xong, chú Chín đi mình ên xuống rạch mò thử.
Rồi sau đó, chú về rủ rê mọi người
trong xóm rần rần kéo theo. Chỉ qua một ngày, con
rạch bị chắn đập hai đầu, tát
sạch nước, mút lên từng bụm đất
bấy nhậy, nằm phơi bùn non tận đáy.
Vườn mía của nhà chùa, hom mới nhú lên độ gang
tay, đùng một cái là chìm lĩm dưới lớp sình
sâu cả sãy tay. Thầy trụ trì và các nhà sư trong chùa
đánh chuông gõ mỏ tụng kinh râm ran liên tục nhưng
không lay chuyển được bụng dạ tà ma của
con người. Chín Lợi Dụng vô xin lỗi nhà chùa,
hứa sáng mai sẽ huy động người ra
bươi lại gốc hom mía cho chùa. Rồi họ
đốt đuốc ở nán lại quần vét vài lon
đồ hộp còn xót trong sình lầy miết cho tới
nửa khuya mới chịu bỏ về.
Lúc thím Chín bỏ nhà, dẫn thằng Tửng
lên thành phố rồi nghe đâu trốn qua Lào buôn bán
gỗ lậu, Chín Lợi Dụng thức suốt đêm
kéo bài Dạ Cổ Hoài Lang mà không cầm được
nước mắt. Xách đờn cò đi đám là
đờn chùa, đờn miễu, lợi dụng kiếm
được vài chầu nhậu chớ có thấy đem
về nhà được đồng nào đâu. Có dạo
chú dẫn thằng Tửng đi cặp theo mé sông Cái
bứt lá thuốc dòi hay rau đắng đất về
bán cho ông thầy Tàu hốt thuốc ở đầu Vàm
kiếm được vài lon gạo mỗi ngày. Bọn con
nít trong xóm cũng bắt chước đi theo. Riết
rồi cỏ thuốc cũng sạch sẽ lán gốc.
Lại nằm nhà kéo đờn cò. Tiếng đờn và
hoàn cảnh bây giờ thiệt là chướng tai gay
mắt. Chín Lợi Dụng thấy cuộc đời mình trở
thành thừa thải hơn bao giờ hết. Nhiều hôm
gặp đám, uống say mèm lăn ra ngủ luôn, không
muốn về nhà nghe vợ mình nặng dao, nặng
thớt.
Xách ba cặp vịt xiêm ra tỉnh bán xong
xả, chú ghé tạt qua nhà Ba Hậu. Nhìn đám ốc
bưu vàng Ba Hậu nâng niu nuôi trong hồ xi măng, chú chợt
nghĩ bụng đây mới là con đường thoát
khỏi cảnh bần cùng mạt kiếp. Phải lợi
dụng sự quen biết, phải lợi dụng thời
cơ. Rồi nhơn giống lên. Rồi chia xẻ với
bà con lối xóm người một ít. Rồi xúm nhau
đợi ngày làm giàu. Cùng lắm cũng có cái ăn, cái
mặc. Chín Lợi Dụng khoái chí cười một mình,
mở gói thuốc gò ra se se, liếm liếm.
Hồi nhỏ, chú và Ba Hậu cùng đi
chăn vịt mướn cho ông già của Tư
Đấu nên rất thân nhau. Ba Hậu có nghề xem tử
vi và bói toán nên thời nào cũng nuôi được sáu
miệng ăn trong gia đình. Năm ngoái bị bắt
đi học tập cải tạo bốn tháng nên bây
giờ Ba Hậu làm ăn cẩn thận hơn. Ai mời tới
nhà mới chịu coi. Người lạ không có ai giới
thiệu thì từ chối thẳng thừng. Mới đây
vừa chộp được một mối khá sộp. Tay
Giám Đốc lem nhem công quỹ rất dầy, chạy
vạy khắp nơi mà bụng dạ vẫn còn hồi
hộp. Ba Hậu bói xong rồi chỉ cho ông ta cách cúng sao hạn.
Cách sửa lại vị trí cái nhà bếp để hoán
chuyển điều xui theo phép phong thủy. Y như
rằng, ông ta chỉ bị xử lý hành chánh, thuyên
chuyển qua chỗ khác, không phải ra hầu tòa ngồi
tù gở lịch, hi sinh đời bố. Ngoài chuyện
tiền bạc hậu hỉnh, ông nầy còn biếu cho Ba
Hậu năm kí ốc bươu vàng. Ba Hậu sáng mắt
thấy đời lên hương trong gang tấc.
Chú Chín líp chíp từng giọt trà sen thơm
phứt, cạn hết hai chung mới nghĩ ra cách lợi
dụng được Ba Hậu:
‘Tui nói thiệt với anh Ba nhen. Lần nào tui
ghé thăm anh vẫn thấy anh đi cà nhắc. Tui
đố anh tìm ra ông bác sĩ nào mà chữa cho hết
chứng thấp khớp nầy. Mấy ổng kê toa
uống cho giảm đau vài ngày rồi anh cũng nằm
rên trở lại. Tôi nói vậy đó. Rồi để anh
coi.’
‘Coi cái con khỉ. Anh biết bịnh tui từ
lâu rồi. Tui có tiền để mua thuốc ngoại mà!
Uống êm êm được vài bữa rồi cũng
đau buốt trở lại. Để lâu nó chạy lên
tim. Tôi lo lắm.’
‘Chớ anh còn nhớ ông thầy Tàu hốt
thuốc ở đầu Vàm không?’
‘Ủa? Ổng còn sống sao?’
‘Còn. Già lắm rồi. Nhưng ổng trị
bịnh thấp khớp, nhức mỏi bá phát. Có nhiều
người hết bịnh bỏ gậy lại
để ổng treo dọc trên vách chứng minh thành tích
của mình. Các loại cây cỏ khác mà ổng trộn thêm
thì tôi không rõ lắm nhưng chủ yếu là dây Thần
Thông. Cha con tôi thường lợi dụng lúc ở không, đi
hái cỏ thuốc về bán lại cho ổng mà! Loại
dây nầy có thân nước, lớn hơn đầu đủa,
lá xanh dầy, giống như lá dây trầu bà nhưng lúc nào
cũng đóng lớp phấn trắng trên mặt. Phải
nhìn đúng, hái đúng thì ông thầy Tàu mới trả
tiền. Đảm bảo với anh là nó đắng
hơn kí nin nữa. Nếm vô lưỡi một chút thôi là
miệng đắng suốt ngày. Nhưng nó là thần
dược. Anh khỏi cần đi đò khám bịnh làm
gì cho mệt xác. Tôi nói bịnh là ổng hốt cho anh mấy
thang ngay.’
‘Bỏ quê lâu quá nên tôi quên bẳng ông thầy
Tàu. Đây đây, tôi gởi tiền anh giùm hốt cho tôi vài
thang. Thuốc Tây bây giờ có tiền cũng khó tìm mua được.
Phải canh me mấy người lãnh hàng từ
nước ngoài gởi về. Hơn nữa bác sĩ nói
uống hoài có khi bị tác dụng phụ. Chẳng
biết tác dụng phụ là cái con mẹ gì, nhưng nghe
tới bị nầy bị kia là tôi ớn rồi. Hết gan
dạ uống nữa.’
‘Không, không. Lấy tiền anh làm gì. Thuốc
Nam đâu có bao nhiêu tiền. Để tui mang về vài thang
cho anh uống thử coi có bớt bịnh không cái đã.
Bạn bè ai mà lợi dụng nhau, coi sao đặng!’
Thấy Chín Lợi Dụng cứ lần
quần theo mép hồ nuôi ốc, khen lấy khen để,
Ba Hậu vớt cho hai lon sữa bò rồi chỉ dạy cách
nuôi thiệt tỉ mỉ. Chú Chín mừng húm ôm kè kè sát
bụng như nâng niu đứa bé còn trong tháng. Ba Hậu
vỗ vai tiễn chú ra cửa, căn dặn:
‘Mau đẻ trứng khủng khiếp. Nhiều
quá thì vét ao nuôi thêm. Ban đầu anh cứ bán con giống
hốt trước mớ bạc. Sau đó có bao nhiêu
cứ thả ra đây. Người ta bao tiêu sản
phẩm. Bao nhiêu cũng mua. Mua hết ráo. Không sợ ế.
Hàng xuất khẩu mà!’
Thời may Ba Hậu uống chịu
thuốc. Chú Chín bổ thuốc tiếp mang ra tỉnh
thấy Ba Hậu đi đứng không còn lượng
sượng như trước nữa. Ba Hậu cho
tiền, cho thêm ốc giống biểu chú về xây hồ
xi măng nuôi mở rộng ra. Dân tình đồn rần
lên. Mấy người có tiền đổ xô nhau đi
kiếm mua ốc bươu vàng. Nhưng Ba Hậu dặn
chú Chín đừng bán. Cứ để dồn lại bán
một lần là đổi đời luôn. Nhưng thiệt
ra chú Chín cũng xúc mấy lon cho lối xóm rồi.
Độ rày đêm xuống, Chín Lợi
Dụng thường ở nhà nhiều hơn. Chú ôm cây
đờn cò nằm lắc lư trên cái võng vừa
đờn vừa nghe mơ hồ trong tiếng nhạc
đưa đám của mình phưởng phất cảnh
đời đầy tráng lệ. Chị Hai Bông vẫn
trong dáng vẻ kham khổ hằng ngày. Chị ngồi quay
mặt vô bếp, gác củi vô lò hấp thêm vĩ bánh ít. Ánh
lửa loé sáng gương mặt hiền từ, tóc
buộc sợi dây thun vén lên làn da cổ dài mỏng màu
ruột măng tre tươm đẫm mồ hôi
đầy nét nhọc nhằn. Chị là mẫu
người đàn bà im lặng và chịu đựng
mọi truân chuyên trong đời. Chín Lợi Dụng buông
đờn ngó chăm bẵm chị để thấy ra
đôi vai xương xẩu gánh đầy bất
hạnh. Tiếng đờn cò của chú rót nỗi
niềm hiu quạnh vô tâm trạng cô đơn của
người góa phụ quá trẻ tràn đầy sinh lực
và mộng mơ. Nhưng tiếng đờn vẫn
chỉ là tiếng đờn. Nó không nối dài
được thành bàn tay mơn trớn cho êm dịu
cuộc đời. Nó không thêm được món ăn nào
cho thực đơn quá đạm bạc từng ngày. Cho
dầu có lợi dụng được kẻ đến
nhưng làm sao đủ sức giữ chân lại
người đi. Và bây giờ chú mới cảm thấy thấm
thía lý do tại sao thím Chín dẫn thằng Tửng bỏ
chú ra đi.
Chú đương nhìn chị Hai, nhận ra sự
mất mát và thấy được cái sẽ mất mát.
Ánh lửa trải hình hài trước mặt cũng là
trải ra một ảo ảnh thùy mị in trên vách lá.
Rồi trước sau gì chị cũng sẽ bỏ chú ra
đi. Chắc mẫm là như vậy. Cuộc đời
nầy không ai cần chú. Hay nói đúng hơn, không ai
cần tiếng đờn lợi dụng kiếm cơm
của chú trong thời buổi thóc cao gạo kém như
thế nầy. Một cuộc sống quá thừa thải
và chật đất. Chú thầm vái Trời Phật cho
lần nầy thay đổi được kiếp nghèo.
Đúng là lúc phải làm sao lợi dụng được
lòng tốt của Trời Phật. Trong bụng chú vẫn
nghĩ cầu Trời khẩn Phật trong lúc cùng
đường mạc vận thiệt ra cũng chỉ là
một hình thức lợi dụng mà thôi. Nhớ lại
hồi lúc hát bội cúng đình, chú đương thắp
nhang cúi rạp người vái lạy Thành Hoàng Thổ
Địa Trời Phật cho chú được tai qua
nạn khỏi trong đêm nay vì nghe nói quân cảnh đương
bố ráp dữ lắm. Chú vừa đứng lên. Hai tên
quân cảnh mắc dịch đứng chờ sau lưng
đẩy chú ra ngoài, tống lên xe thùng. Từ đó chú
không còn tin vô đấng linh thiêng nào nữa. Chỉ tin vô
tánh hiền lành lương thiện của mình thôi.
Chín Lợi Dụng rời võng đi thắp
nhang lạy tứ phương rồi xà lại ôm choàng
lấy chị Hai, hôn thiệt sâu lên cổ như cố núm
níu một tình yêu lửa rụi sắp tàn. Chị xoay người kéo ghì
mái tóc bạc nửa đầu của chú, úp mặt lên
đó nghe người chợt nóng ran lên, lâng lâng trong âm thanh
mơ hồ vẳng lại đầy êm ả của bản
Văn Thiên Tường.
‘Không bao lâu nữa em khỏi phải vất
vả như thế nầy. Ngày mai bắt đầu
đi tìm mối bán ốc giống được rồi.’
Chú không nghe chị Hai ừ hử gì hết.
Chú ấn vai chị nằm xuống manh đệm, cởi
tung nút áo phơi bày da thịt trắng ruột măng tre.
Tay chị vẫn quấn chặt lấy cổ chú. Gió
thổi sập tấm phên cửa. Bên ngoài mưa bắt
đầu rớt hột.
Sáng ra, khi xách bịt đệm lát đi chào
hàng chú mới tá hoả lên vì loa phóng thanh ở nhà máy chà lúa
yêu cầu bà con không được nuôi ốc bươu
vàng. Phải ra sức tận diệt ốc bươu vàng
vì nó tàn phá mùa màng tàn bạo hơn rầy nâu và châu chấu.
Không có thuốc nào xịt cho nó chết hết được.
Nuôi ốc bươu vàng là tiếp tay cho bọn phản
động phá hoại nền kinh tế nước nhà.
Chín Lợi Dụng xách bịt đệm lửng
thửng trở về, lòng nghe nặng trịt như treo
đá. Cũng ai đó trong làng cất tiếng chào xã giao
bâng quơ:
‘Trời trưa trờ trưa trật,
nắng đổ lửa mà chú đi đâu về vậy,
chú Chín ơi?
Chú cúi gầm mặt, thấy bờ mẫu
lồi lõm lớp chớp đổ hào quang, nhưng không
đời nào đầu hàng hai chữ “lợi dụng”:
‘Ờ.. ờ.. thì lợi dụng
người ta không mua ốc bươu vàng mình hốt
về bán lại cho mấy người nuôi vịt ấy
mà, cháu ơi!’
Chị Hai, vẫn gương mặt
điềm tĩnh, bước ra cửa phụ tay xách
chiếc bịt lát vô nhà. Chú nhìn vô trong thấy nhà cửa
tối sầm.
‘Em có nghe loa phóng thanh ở nhà máy chà lúa nói gì
chưa?’
‘Em có nghe. Họ lập tới lập lui
như trời sắp sập tới nơi.’
Phải mấy phút sau Chín Lợi Dụng
mới xua được bóng đen, nhìn rõ mặt mũi
chị. Tóc tai còn lệt bệt mấy vệt bột
trắng đọng lại khô quánh như bông ô rô rắc
lên không đều. Chị trở vô ngồi xuống manh
đệm tiếp tục nhồi bột. Chín Lợi
Dụng duổi người lên võng, xe điếu thuốc
gò, nghĩ ngợi miên mang.
Ăn giỗ xong, Chín Lợi Dụng móc
đờn lên vách lá, nằm sát vô góc ván ngủ một
giấc tới chạng vạng mới tỉnh
rượu. Thiệt ra đêm nay chú không muốn về nhà
ngó mớ ốc đói và chứng kiến cảnh chị
Hai ngồi im thinh thít canh lửa nấu bánh. Chú không còn ý nào
nữa để mở lời an ủi. Lời lẽ
trốn chạy khỏi trí não chú. Im lặng của chị
hàm ngụ lời hờn trách và ngao ngán ngút ngàn.
Từ ngày về sống với chú, dường
như chị đã bằng lòng với số phận, không
tỏ ra hớn hở khi chú mang mấy lon ốc quí từ
tỉnh về, cũng không buồn rầu khi thấy chú
lửng thửng xách bịt lát đứng trước sân,
chùn chân không muốn bước vô nhà. Giặc giã đã
chừa mạng sống chị lại trong cảnh mồ
côi. Chiến tranh đã cướp mất người
chồng đầu đời kết nối bằng yêu
thương thời con gái. Chị đã nghe súng nổ đạn
bay quá nhiều rồi. Chị thèm thuồng tiếng
nhạc lời ca, không đòi hỏi gì hơn ở Chín
Lợi Dụng ngoài tiếng đờn từ cây đờn
của chú hay tiếng ê a đóng tuồng mỗi buổi
chiều khi chú hứng chí lúc sần sần. Chị thông hiểu
tiếng đờn cò theo ý riêng của mình và đã cuốn
hồn theo dáng vẽ thoát tục cô quạnh của Chín
Lợi Dụng trước sự thờ ơ của
mọi người. Tiếng đờn của chú làm chập
chờn sống lại cả một gia đình đoàn tụ
thời thơ ấu, cho chị một điểm tựa
bình yên không sao tìm đâu ra được. Một
bước lùi trốn chạy trước trãi nghiệm
đầy giông bão của người con gái mồ côi
đầu hàng trước định mệnh. Chín Lợi
Dụng không sao vói tay bắt tới ý nghĩ thầm kín
của chị. Trong tầm mắt của chú, tất
cả mọi người đều phải lợi
dụng nhau để sống. Một khi vợ con thấy
mình trở thành vô dụng thì bỏ đi, bỏ đi là
phải rồi. Chú ngồi dậy gảy đầu, lo
nghĩ lung tung, không muốn bước chân xuống đi
rửa mặt.
‘Ăn cơm chiều với tôi đi anh Chín.
Tôi chuẩn bị đồ đạc xong xuôi hết
rồi. Chờ trăng lặn tụi mình xuất phát chắc
êm hơn. Mà anh có nhớ chính xác không?
Chín Lợi Dụng kéo Tư Đấu ra sau
hè, ngồi chồm hỗm, lượm cây que vẽ đi
vẽ lại trên nền đất khô:
‘Là chỗ nầy nè. Bỏ doi lá dừa
nước bơi chừng tàn điếu thuốc tới
cây mắm cao nghệu gie dài ra sông thì tới nơi. Hồi
đó anh là dân C. Ô. C. C [con ông cháu cha] nên làm lính kiễng,
chỉ đứng gác dinh Tỉnh Trưởng biết
khỉ mốc gì. Còn tui là lính lao công đào binh. Nhớ mùa
nước lụt năm đó, thằng cố vấn
Mỹ theo lính đi “phum”, xả hết tốc độ
rượt bắn du kích trên kinh Xẻo Mây. Đâu ngờ
“phum” vướng dây ny lông gày sẳn trái nổ hất tung
cả đám chết banh xác. Nghe tiếng súng nổ là
tụi tui biết ngay bị lọt vô ổ phục kích.
Họ đưa du kích ra trước để nhử
mồi thôi. Mấy chiếc “phum” chạy sau quính quáng
trở mũi. Tụi tui bị xô xuống sông lội
ngược lên kinh kéo xác. Đứng giữa hai lằn
đạn. Một bên xung phong, bên kia tháo chạy bắn đoạn
hậu. Tới bờ sông tụi tui hè nhau dập xác
dưới gốc cây mắm rồi tuông vô rừng lá,
mạnh ai nấy chạy. Ra khỏi bìa rừng, chỉ còn
lại hai đứa: tui và thằng Hải. Nó bị trúng
đạn ngay bã vai mà cố chạy theo tôi tới đó
mới té xỉu xuống đám cỏ bồn bồn
nước ngập mênh mông. Anh đâu bao giờ hình dung ra
được sức mạnh của con người
trước cái chết ha? Khi xé áo tính buộc vết
thương cho nó, tui mới nhận ra nó chết từ
hồi nào không biết. Té ra nảy giờ cái xác chết chạy
theo sau lưng tui chớ không phải một con
người. Tui lấy hơi lặn một mạch ra
giữa sông Cái, đội giề lục bình, nằm
ngữa thả tàu trôi theo con nước lớn. Sau đó
tui lại tiếp tục đào ngũ.’
‘Vậy là chỉ mình ên anh biết chỗ
đó héo?’
‘Chớ sao! Bốn đứa mới khiêng
nỗi xác thằng cố vấn Mỹ. Có một dạo
đi tìm cỏ thuốc gần đó da tui bỗng nổi
ốc trâu khi nghe tiếng cười khanh khách chỗ
gần ngọn mắm. Tui mau mau kéo tụi nhỏ quay
về. Ở lại chết sao? Mà kỳ cục thiệt.
Họ chỉ cười cho một mình tui nghe thôi. Tiếng
cười giọng Mỹ rõ ràng tôi biết quá mà. Cho nên anh
nhớ đem theo bó nhang và xị rượu khấn vái
trước khi mình bắt tay nhe! Lợi dụng nghỉ
xả hơi lúc mới tới mình cúng là đúng
điệu rồi.’
‘Anh thấy đường dây của Ba
Hậu có chắc ăn không?’
Chín Lợi Dụng liệng cái que cũi ra xa,
hịt mũi giọng chắc chắn.
‘Lần chót Ba Hậu cho tui giáp mặt với
tụi Sài Gòn. Xuống tận nhà! Tụi nầy từng đánh
nhiều lần rồi. Tất cả đều trót
lọt. Ấm. Tụi nó tinh mắt lắm. Mình chỉ cần
cho thấy bộ hài cốt là tụi nó biết thiệt
giả ngay. Rút tiền chung liền tại chỗ. Kiếm
được tấm thẻ bài kèm theo thì được chung
đậm hơn, xấp đôi xấp ba.’ Chín Lợi
Dụng kê mõ vô nói bên tai Tư Đấu: ‘Nói thiệt
với anh nghe, nửa tháng nay tui lợi dụng lúc xế
xế cúng kiếng hết rồi, thế nào cũng
gặp. Cô hồn nào cũng vậy, đâu ai muốn
lạnh lẽo muôn đời đâu. Tối hôm qua tôi còn
nằm chiêm bao thấy nó nữa. Nó nói nó phù hộ tụi
mình đi Mỹ nếu mình tử tế, có phước có
phần…Nó lợi dụng lòng ham hố của mình để
khỏi cô đơn lạnh lẽo đó mà.’
Tư Đấu đẩy xuồng ra
khỏi ụ, băng qua cánh đồng mùa nước
nổi. Trăng lưỡi liềm xụp xuống
đường biên rặng cây mù mờ nằm mút tầm
nhìn. Chín Lợi Dụng bơi mũi, nghe mái dầm cọ
nhịp đều đều vô be xuồng như hơi thở.
Xuồng ra giữa con kinh, trở mình lao mau như ngày
xưa chú lao vô thời lửa đạn, một thời
mà từ lâu rồi chú không dám nhớ đến, không dám
kể lể cho ai, ngay cả lúc gục gặc say cũng cố
gắng lấy chút tỉnh táo nhỏ nhoi còn xót lại
để kiềm chế lời nói. Bây giờ phải
bươi lên cái quá khứ muốn chối bỏ kia
để sống. Một lợi dụng tàn bạo không
ngờ và chắc cũng là một lợi dụng cuối
cùng trong đời mình. Chín Lợi Dụng ngó cảnh sông
nước, thở dài.
Tư Đấu đâm mũi xuồng vô
bờ theo hướng Chín Lợi Dụng chớp chớp đèn
pin. Hai người lật đật phóng xuống
nước, cột mũi xuồng vô gốc mắm. Đơm
đớm đậu sáng lòe như ma trơi. Chín Lợi
Dụng lần quần một vùng đất khá rộng
chung quanh, cố hình dung lại cảnh xưa trước
mọi vật đều đã thay đổi mấy
lượt. Sau cùng chú chọn một gò đất nước
ngập lé đé, bày biện nhang đèn ra khấn vái.
Hai người bắt đầu đào
bới. Nước từ từ ngập sâu tới lưng
quần rồi tăng lần tới ngực. Họ
bắt đầu móc đất theo miệng hầm cá trê,
moi sâu dọc ngang, vì theo Chín Lợi Dụng, lúc đó không
có thì giờ đào đất chôn sâu hơn nữa được.
Tư Đấu mệt đừ tỏ
vẻ nản lòng. Chú leo lên gò ngồi thở dốc,
bắt đầu hoài nghi Chín Lợi Dụng đầu óc
lú lẩn không còn nhớ rõ vị trí ngày xưa. Chín Lợi
Dụng rất quyết tâm. Chú lặn mấy hơi thiệt
sâu và đâm xẽng bươi khoét rộng thêm. Bất
thần đầu xẽng đụng nhẹ vô một bã
vải rách mềm nhũng. Chú lẹ làng như con rái cá
buông xẽng trồi lên, hai tay vuốt nước, gật
đầu cười. Tư Đấu mừng quýnh, lấy
lại sinh lực, một mình nhảy đùng lặn
xuống trồi lên nhiều lần, hốt hết một
đống bầy nhầy chuyền tay cho Chín Lợi
Dụng. Hai người moi đất rộng thêm và rà
lại nhiều lần trước khi lên gò đất
bấm đèn pin sắp sắp xếp xếp lại
mấy miếng xương người và cái đầu
lâu. Xương không đủ bộ lại ngắn
ngủn. Bỗng Tư Đấu mằn mò trong miếng
vải đồ nhà binh chỉ còn là miếng nùi lau bỡ
rệu, đưa cho Chín Lợi Dụng, một phát
hiện tràn đầy hy vọng tỏ lộ trên nét mặt cả hai: tấm
thẻ bài nhôm sáng giới, chấp chới trong ánh sao
đêm. Chín Lợi Dụng cọ quẹt tấm thẻ bài
vô quần xà lỏn nhiều lần trước khi rọi
đèn soi thiệt kỹ. Rồi chú bùi ngùi thả tấm
thẻ bài xuống đất, thều thào với Tư
Đẩu mà cứ ngỡ như đương trối
với chính mình:
‘Không lợi dụng được. Tấm
thẻ bài tên Việt Nam, không phải tên Mỹ. Chắc là
của thằng Hải. Tôi nhớ có lần nó nói tên trên
giấy tờ nó khác với tên ở ngoài! Tức thiệt.
Tôi thấy Mỹ ràng ràng hồi hôm qua đây mà! Chắc
chết quá!’
Lần đầu tiên Tư Đấu
mới nghe Chín Lợi Dụng buông ra câu “Không lợi
dụng được.” Và đó cũng là lần cuối
cùng Tư Đấu ngồi cạnh một người
bạn có một quá khứ đầy thăng trầm không
ai hiểu hết. Ai chú tâm lắm thì cũng bắt gặp
đôi mắt híp lại, môi dưới trề xuống gắn
đuôi điếu thuốc gò với làn khói mỏng
sắp tàn lụi nhưng vẫn còn đủ sức che
khuất quá khứ của một đời người.
Bơi xuồng về tới xóm, Chín Lợi
Dụng bỏ làng đi biệt tích. Sau mấy ngày chị
Hai tở mở tìm kiếm mới ôm được cây
đờn cò máng ơ hờ trên vách nhà Tư Đấu về
móc trên đầu võng nhà mình. Chị vẫn lúi húi
đẩy thêm que củi vô lò, ngồi canh vĩ bánh ít
mỗi ngày như mọi khi. Có cơn gió thốc nào đập
sầm tấm phên cửa thổi vô mặt muốn phát lãnh.
Chị thẩn thờ bưng ngọn đèn trứng
vịt đứng lên, ngó mong lung ra ngoài.
‘Có phải anh vừa trở về với em
đó, phải không anh? Phải không, hả anh Chín? Em
nhớ anh, nhớ tiếng đàn gợi hồn quá khứ
của anh!’
Trời bắt đầu rớt hột lộp
độp trên mái lá mà sao chị nghe ra âm thanh ai đó
dạo bản Dạ Cổ Hoài Lang. Từ là từ phu tướng. Sắc phong sắc
phong lên đàng. Thiếp đợi chàng….Ruột héo gan vàng…
HaiNgườiBạn
(Sàigòn-Texas
12/07)
Ghi chú:
Bài Ca
trích theo Tuồng Cải Lương Tang Đại Giả
Gái, bản in tại Sàigòn, 1930