Chai meo nấm cũ
Truyện ngắn của: HaiNgườiBạn
Đi huốt khỏi con
đường bờ mẫu lẹt nhẹt bùn sình
đọng dấu chưn trâu vô mùa mưa, lúp súp mấy lùm
cỏ lứt bám đầy sâu rọm khi nắng lên,
bầy đom đốm tắt chớp nhịp nhàng lúc
đêm tối, rồi phải lội qua lung ông Cả, cuốc
bộ giữa đồng không mông quạnh cả buổi
nữa mới tới gò Cây Gòn. Vậy mà tôi coi như không,
nó gần gũi cách gì và thân thiết quá cở!
Với tôi, gò Cây Gòn coi như
một ốc đảo giữa lòng sa mạc, là nơi
khởi nghiệp của đời tôi. Lùa bầy vịt
cho ăn tép chấu dọc theo lung ông Cả hay lần
quần lẩn quẩn cho ăn lúa vét trên những cánh
đồng xa tận ngã ba Vàm Lẽo cho tới tối mịt
tôi vẫn lò mò trở về gò Cây Gòn. Có nhiều bữa
lội đồng rã giò nhưng hễ thấy hàng gòn
lớp chớp trước mắt là bao mỏi mệt tiêu
tan. Tôi cười một mình giữa mênh mông cô quạnh.
Như người đi xa xứ lâu năm mới về
tới quê nhà. Như đứa trẻ lạc
đường vừa tìm được lối về. Và
lần nào cũng vậy. Cảm giác ấy cứ
điệp khúc nơi tôi, là một điệu nhạc
trần tình đời mình với lặng thinh và khoảng
trống nhưng không bao giờ buồn chán. Bởi vì
nơi đây là dấu yêu. Bởi vì nơi đây là
hương hoa của tuổi trẻ đời tôi.
Bởi vì nơi đây cho tôi những kỹ niệm
đầy mật ngọt hương thơm. Tất
cả, tôi biết, sẽ không bao giờ tìm lại
được mai sau, lỡ khi bị đánh mất.
Rồi vô một buổi sáng
sớm tôi không nghe tiếng vịt kêu rộ lên như
thường bữa. Chui ra khỏi chòi đi vòng phía sau
mở tấm phên cửa chuồng, tôi hốt hoảng nhìn
những cụm bông gòn trắng phao nổi lên từng dề
từng cụm đó đây trên mặt nước đìa
xanh màu ten chì. Chỉ qua một đêm vịt chết
cạn bầy. Vài con sống sót tấp tụm lên bãi sình
ven rào lia khia nho nhỏ, không dám đập cánh kêu lớn
tiếng đòi mở cửa chuồng chạy cạp
cạp ra đồng kiếm ăn như mọi khi. Là
một ngày đầy ảm đạm. Nhân viên kiểm
dịch dẫn người ập vô thiêu hủy toàn bộ
bầy vịt và bắt tôi làm giấy cam đoan không
được nuôi tiếp trong vòng một năm.
Dì Ba Thắm, má của
Thu-Thanh, là một Phật tử thường đi cúng chùa
Thiện Tâm, một hôm lên gò, kéo tay tôi ra sau chòi, nói nho
nhỏ vô tai tôi:
‘Vùng nầy đang rộ lên bịnh
dịch cúm gia cầm nên người ta có lịnh cấm
nuôi vịt chạy đồng. Dì khuyên cháu nên đổi
nghề. Hơn nữa, đâu phải vịt của cháu.
Đi chăn vịt mướn cho người ta hoài thì
biết chừng nào dư dã có đồng ra đồng vô
mà tự thân lập nghiệp. Rồi còn lớn hơn chút
nữa. Rồi còn lập gia đình…’
Tôi bẻ từng lóng tay kêu
lắc rắc và thấy rõ hơn giá trị của thân
phận mình. Tôi chỉ có hai bàn tay. Chẳng có tiền
bạc ra vô gì hết. Có lần nghe một ông lớn nào
đó ở xa về thăm chùa than với thầy tôi là lúc
nầy ông ta tiền ra như nước sông Đà,
tiền vô nhỏ giọt như cà phê phin, tôi dầu
chẳng biết sông Đà ra sao, cũng chẳng biết
hương vị cà phê như thế nào, chỉ
ước ao làm sao mình có đồng vô đồng ra. Ra như
sông Đà vô như cà phê phin cũng tốt. Vậy mà có
được đâu. Giờ đây đầu óc trống
trơn như cái chòi không có nổi cái cửa hậu
mặc sức cho gió lùa riu ríu từ trước thốc ra
sau. Nghề ngỗng không có. Học hành không tới đâu.
‘Đổi nghề’. Nghe dì Ba nói tôi càng tủi thân hơn.
Chăn vịt mướn là một nghề thiệt sao
trời? Mà đổi thành nghề gì bây giờ chớ?
Phóng mắt nhìn về hướng chùa Thiện Tâm cuối trời,
tôi còn nghe văng vẳng lời niệm chú cuối cùng
của thầy mình mà những lúc buồn tênh tôi vẫn
thường nhớ lại nhưng thực ra cho tới
bây giờ tôi vẫn không hiểu gì hết.
‘Con không có căn tu.’ Tối
hôm đó, sau hồi kinh, thầy kêu tôi vô phòng thuyết giáo.
Thầy chậm rãi rót tách nước trà, ngó lên về
hướng tượng Phật duy nhứt của chùa
đã tróc sơn vàng lốm đốm. ‘Thầy đã
nhắc nhở con quá nhiều lần rồi. Tụng
niệm là giờ giấc linh thiêng, phải tập trung
nghĩ tới Phật, tới ý nghĩa lời Phật
dạy. Đằng nầy con vừa tụng kinh vừa
thúc cùi chõ vô các đồng môn. Tâm con chưa tịnh. Mà
nhiều lần như vậy. Tâm con chưa tịnh thì còn
đầy vọng niệm không thể tập trung tu hành.
Ban đêm con thường xuống bếp dở nồi
lục ơ ăn vụng. Ra đồng hái rau bù ngót, rau
choại hay lội lên gò Cây Gòn tìm nấm rơm, nấm mèo,
con cứ hẹn hò với con gái nhà người ta, núp sau
mấy cây rơm nói chuyện miết tới đỏ
đèn hèn lâu mới chịu về. Nhiều lần con
nướng cá trui ăn giữa đồng. Mấy chú
Tiểu đi theo con đều nói vậy. Họ có nói oan
cho con không? Thầy có đặt điều, đặt
chuyện ra để vu oan, giá họa cho con không? Vậy là
chưa nén được tà tâm. Nói rốt ráo là con không nên
trụ lại cửa thiền làm ô uế thanh danh của
nhà chùa và lây nhiễm tính xấu cho đồng môn. Con nên
để họ tịnh tâm tu hành. Nói thiệt tình. Con đừng
buồn. Con là đứa con hoang mà không ai muốn con có
mặt trên đời nầy. Thầy cưu mang con vô chùa
từ hồi con bị bỏ rơi trước cổng.
Cho đến giờ, thầy đành bó tay vì tánh tình con
không hề thay đổi. Thầy cũng đau lòng
lắm khi nói ra điều nầy với con.’
Thầy tôi nói phải. Tôi
quỳ gối chấp tay im re và xá xá mỗi khi thầy xuống
giọng như cây nhang tắt ngúm nửa chừng rồi
bất thần có hơi gió bay ngang cháy rực trở
lại. Dường như tất cả những gì
dằn nén từ lâu cứ tuôn ra chầm chậm và
đều đều theo tay thầy đang lần từ hột
chuỗi. Có lúc bấm mạnh để ngắt câu.
Gương mặt trầm tĩnh đến lạnh lùng.
Mắt khép hờ nhìn ngược vô đám mưa bụi
quá khứ tội tình của đời tôi, không một chút
xót xa hay luyến tiếc hé lộ qua tiếng tắc
lưỡi hay chép miệng. Nhỏ nhẹ mà thấm
đau. Từ tốn mà chua xót. Trong ngậm ngùi, tôi nghĩ
như vậy.
Sau cùng, thầy dở tráp mây cho
tôi ít tiền và khuyên tôi rời khỏi chùa càng sớm càng
tốt.
‘Thầy chỉ có khả
năng giúp con một ít ban đầu ra đời kiếm
sống. Gò Cây Gòn là phần đất của nhà chùa.
Tạm thời con có thể lên đó ở giữ
đất và cố gắng khai thác tìm huê lợi để
sống. Con tự xoay xở lấy. Làm gì tùy con. Nhưng
nhớ chừa ra vài bã rơm trồng nấm cho nhà chùa….’
Im lặng duỗi dài. Muỗi
đơm đầy mặt nhưng tôi không dám đập.
Hai gối tôi rung lên, lo sợ nhiều hơn mỏi
mệt. Rồi thầy sụp mắt, tay lần chuỗi
hạt, lẩm bẩm thổi câu thần chú lên tôi.
‘Sắc bất dị không,
không bất dị sắc. Sắc tức thị không, không
tức thị sắc, sắc thọ tưởng hành
thức diệc phục như thị. Nam Mô A Di Đà
Phật!’
Là lời niệm cuối cùng.
Là câu thần chú móc máng rất lâu vô tiềm thức tôi, nghe
ra khác hẳn với ngàn lời tụng niệm mà tôi và các
đồng môn nhơi đi lập lại theo từng
buổi cầu kinh dài mút chỉ cà tha trong đêm, lải
nhải máy móc theo nhip chuông mà tôi không quan tâm cho lắm. Kinh
kệ là một bài trường ca quen lưỡi
đến lúc đó phải ngắt nhịp. Như dòng
nước đang trôi, cứ trôi đến một
guềnh đá nào đó rồi phải trở chiều ít
hay nhiều. Như đang thiêm thiếp mộng mị
chợt có tiếng động mạnh đánh thức kéo tôi
ra khỏi giấc ngủ lờ đờ ngập
đầy mệt mỏi qua những công việc quần
quật trong ngày. Nghe ra khác hẳn với mọi khi,
lần nầy, cho đến giờ tôi vẫn không
hiểu nghĩa, tự dưng thầy dán lên trán tôi một
lá bùa Tôn Ngộ Không trước khi ra đi. Tôi chờn
vờn nghĩ vậy lúc quỳ xuống lạy tạ
ơn thầy.
Hừng đông hôm đó tôi
băng đồng lầm lũi đi về hướng
gò Cây Gòn. Xa ơi là xa. Ngày thường tôi cũng phải
đi bộ suốt buổi mới tới nơi. Nhưng
hình ảnh Thu-Thanh đang chờ tôi dưới hàng cây gòn thúc
giục đôi chưn trần hớn hở lẹ làng,
mắt ngời lên ngó thủng qua những lớp
sương thưa còn nấn ná ôm ngọn cỏ
ướt. Nhịp tim tôi đang dộng lên tiếng
gọi của em, từng chập, từng chập gấp
rút và ngắn lại theo hơi thở, nồng nàn như
ánh bình minh vẹt đỏ mây trời trước
mặt.
Và bây giờ buổi sáng
đang lên, hắt vệt lửa đỏ dang rộng trùng
trùng lớp lớp quấn quyện theo mây. Tôi mường
tượng như Thu-Thanh đang ngồi dưới cây
gòn cao ngọn nhứt chờ, tôi lấy sức đi lẹ
hơn. Có ai hẹn đâu mà chờ. Nhưng sao tôi cứ
mường tượng như vậy, mỗi lúc mỗi
lúc hình tượng em lại vẽ rõ nét hơn nơi tôi. Những
sợi mây lưa thưa màu đỏ kết hình
gương mặt mĩm cười hiền hậu, cháy
rực thương yêu và hối thúc.
‘Anh thấy không? Nước
trong lòng lạch nơi đây toàn là màu đỏ. Nhìn sâu, em
có cảm giác như lớp máu lắng đọng
dưới đáy. Mà sao em hớt lên trong tay chỉ
thấy đùn đục. Màu đỏ tan đi. Ở
rừng U minh cũng vậy. Mà ở miệt mình cũng
vậy. Là sao vậy anh?’
Tôi cũng không hiểu
tại sao, chỉ trả lời Thu-Thanh cho có chừng:
‘Chắc tại lá rụng
nhiều, chắn dòng chảy nên đọng lại tan thành
màu đỏ. Giống như phèn đóng váng tùm lum trên
đồng ruộng và sông rạch. Có nguồn nước
nào rửa được đâu em.’
‘À…há. Thôi. Anh cứ rán chèo cho
đến khi nào xuồng mình trổ ra dòng nước trong
thì mới tới nhà thầy Một.’
Đó là lần tôi và Thu-Thanh
đi rước thầy về bắt mạch, hốt
thuốc cho bà Năm, bà ngoại của em đang đau
nặng. Nắng lên chẻ từng mãn lá đứt
đoạn xuyên qua rừng đước dày mịt,
hất bóng nước đỏ đổ ngập lên
mặt Thu-Thanh, gương mặt trắng bệt và
phờ phạt trở ra hừng hực nét đẹp
rạng rỡ của người con gái có đôi mắt thiệt
sáng bén. Rồi thoáng vụt trở ra màu bạch lạp
nhợt nhạt chìm vô tản lá che như hình hài trên
ngọn đèn kéo quân xoay vòng, xoay vòng đến phát chóng
mặt. Ờ, phải rồi. Tôi đang cố sức
hối hả vượt qua dòng nước màu đỏ
tù đọng lá chết để tới vùng nước
trong, một nỗ lực không được trễ
nải. Vùng nước trong mới là nơi bắt
được hy vọng và cũng là nơi chập chùng
hứa hẹn cứu vớt một người ra
khỏi dòng nước máu.
Thu-Thanh khoét miệng trái
dừa, bước ra sau lái. Xuồng lắc lư
khiến em trợt chưn té xuống khoang cuối. Tôi buông
tay chèo lao tới đở tấm thân nóng hổi, dịu
nhiễu kia lên. Và ngay lúc đó, tôi rẽ tóc hôn em thiệt
lâu giữa rừng sâu, bỏ mặc cho xuồng trôi áp sát
khúc quanh phía trước giữa lòng rạch hẹp ngoằn
ngoèo ăn luồn theo những tàn cây cao rậm che trời
biến ngày thành đêm. Mà sao lúc bấy giờ cả hai
đều quên đi mọi gấp rút. Như đang
sống bất cần đời và thấy ra mọi chuyện
đã an bày. Em rã rời chui mặt sâu vô vai tôi thở
nhẹ, ứa nước mắt:
‘Lần nầy bà đau
nặng lắm. Má với em thức trắng mấy đêm
liền. Tội nghiệp bà lắm anh ơi!. Giữa khuya
bà thều thào với em là chờ khi khoẻ trở lại,
bà sẽ kêu anh ra ở nhà em. Nhưng má thì còn trù trừ. Em biết
chỉ có bà thương tụi mình. Mà em có linh tính bà không
qua nỗi….’
Thu-Thanh nín tiếng nói
để buông ra tiếng thở dài thượt rồi là
những tiếng khóc nho nhỏ như tiếng côn trùng
tả rít trong đêm. Tôi uốn cong tóc mai chẻ ngang lên má
Thu-Thanh và nghe tóc em phưởng phất thốc lên mùi
thơm của rơm nếp. Tóc em là những cọng
rơm nhỏ rức mà tôi phải gom nhặt từ
những đồng ruộng xa xôi lúc lãnh công gặt
mướn đem về chất thành cây rơm sau chòi.
Từng chút, từng chút một, đầy khổ nhọc
để thấy được ngọn rơm
vươn cao, cũng như phải trải qua bao điêu
đứng chúng tôi mới có được tình yêu của
bây giờ.
Bất thần, tôi nghe
tiếng chèo và tiếng rẽ nước phăng phăng
phía trước. Tiếng la báo động hai xuồng tránh
va đụng nhau:
‘Cạy nè! Cạy!’
Tôi chưa kịp bước
ra sau lái thì mũi xuồng của bác Hai Tiền trờ
tới đâm nhẹ vô be xuồng tôi. Hai đứa tôi ôm
nhau chao đảo. Bác Hai rà chèo lại, la ong óng:
‘Thôi! Thôi! Được quá
rồi. Đợi tụi bây rước được
thầy Một về tới nhà thì chắc má tao ngủm cù
đèo rồi.’
Bác Hai cặp xuồng lại,
mặt hầm hầm, chửi xéo:
‘Thu-Thanh qua đây con. Lo
vịn thầy Một nghe con. Chén kiểu mà đi chung
với mủng vùa. Hứ.. ứ…ứ. Coi không đặng
chút nào hết. Chướng mắt quá.’
Té ra bác Hai đâm xuồng
đi rước thầy Một trước tụi tôi. Có
biết đâu nè! Hừng đông Thu-Thanh băng
đồng chạy lên gò Cây Gòn từ xa mút gọi tên tôi
giựt ngược như cháy nhà. Mà bác Hai sao dạo nầycũng
đổi tánh thấy rõ. Nghe nói con Hân lên Sài Gòn lấy
chồng người nước ngoài khắm khá lắm nên
bác nghỉ làm, chỉ ở nhà chơi cờ tướng.
Bác xây nhà tường, lát nền gạch bông. Mặt
tiền sơn đầy màu sắc chói chang nhìn thiệt
cải lương. Kệ trước xếp mấy chai
rượu ngoại rất bắt mắt, đi ở
ngoài sân là ngó thấy liền. Nhan nhãn. Bên dưới
đặt ba keo rượu thẳng băng, ngâm tắc kè,
bìm bịp, rắn hổ, cá ngựa, rể nhàu chung với
thuốc bắc. Tôi không ưa uống rượu mà nhớ
tới mấy keo rượu thuốc đó cũng bắt
thèm. Tối nào nhà bác cũng bày tiệc nhậu tới khuya
mới chịu rã đám.
Hồi trước, bác hay ghé
lại nhà dì Ba thăm bà Năm, tiện thể xin em mình vài
lon gạo rồi cùng với Thu-Thanh lên tận gò Cây Gòn
đi xăm xăm ra sau chòi dở nắp khạp da bò
quơ mấy con cá lóc tôi nhắp được hồi
khuya đang rọng chưa kịp đem ra nhà Thu-Thanh. Bác
Hai vừa bắt cá vừa sởi lởi:
‘Sao? Dạo nầy cắm câu
trúng không cháu? Con Thu-Thanh nói cháu là tay sát cá, câu nhắp,
giăng câu, nôm cá đều trúng, rọng đầy
khạp. Cho bác xin vài con nha! Sắp nhỏ ở nhà đói
meo. Bác cám ơn cháu nhiều lắm nhen. Ờ…ờ.. như
mấy giỏ khô cá lóc và cá sặc bổi con đem cho bà Năm,
con Thu-Thanh đem ra chợ bán hết ráo. Cũng đỡ
đần thuốc thang cho bà nó được chút ít. Nói xa
chẳng qua nói thiệt nghen cháu. Nó tu mấy kiếp
mới quen được một người tốt
bụng chí thú lo làm ăn như
cháu. Bác nói thiệt tình đó. Bác rất mừng nếu sau nầy
hai đứa….’
Rồi bác Hai gục gặc
cười hả dạ mình ên. Là những lúc tôi biết
bảy đứa con nheo nhóc của bác đương đói thiệt. Bác
đi chèo ghe chỡ mướn đồ hàng bông cho
chủ từ mối mang ở miệt vườn xa xôi
hẻo lánh ra tận các vựa ở Bạc Liêu, Nhu Gia, Phú
Lộc hay Sóc Trăng. Bác trải đời trên sông
rạch, lâu lâu mới gom nhặt chút ít tiền ghé lại
nhà ngủ qua đêm rồi lại đi. Chỉ có con Hân,
đứa con gái đầu lòng, đủ sức theo
mẹ đi cấy hay gặt mướn lẩn quẩn
trong làng. Thời gian chưa tới mùa, cả nhà sống
lất lây, lóng ngóng chờ ngày bác Hai về. Mà vùng nầy lúc
mùa khô, nước mặn từ Cổ Cò đổ về,
đều đặn quanh năm, từ khai thiên lập
địa tới giờ, có gì thay đổi đâu, nên chỉ
làm ruộng được một mùa. Chỗ nầy
đúng là vùng đồng khô cỏ cháy. Không hoa màu, không
vườn tược, không cây trái nào sống nỗi
với cuộc đất đầy nhóc phèn ở đây. Phèn
ăn lai quần màu đen của người lội kinh,
lội ruộng ngã thành màu ngà vàng đóng dầy mo như
trét lớp keo mỏng, nhìn riết rồi cũng quen
mắt. Bọn trai trẻ lớn lên lũ lượt
bỏ quê đi tứ xứ, đổ xô về thành
thị kiếm sống. Cho nên có dạo thấy con Hân
nhổ giò trổ mã, bác Hai cho nó đi theo ghe chỏi sào,
cột mũi khi cặp bến, phụ khiên cần xé, thúng
mủng, chất hàng xuống ghe hay sáng sớm leo lên mui nhóm
cà ràng nấu nồi cơm để hai tía con ăn nguyên
ngày.
Một hôm con Hân theo tía lên
vựa tính tiền và lọt vô mắt xanh của chị
Sáu Mò Cua. Chị Sáu thường đi xe hơi nhà, lảo rảo
về vùng quê mua hàng độc chiêu như tép bạc xỏ
lụi, cá lóc thiệt bự phơi nắng làm mắm
ốp hay khô cá sặc bổi lớn bằng bàn tay. Những
món ăn mà Việt kiều ở miền Nam xa quê
hương đều thèm nhớ.
Biệt danh Sáu Mò Cua còn
để gán cho chị có biệt tài chài gái quê lên Sài Gòn
gả bán cho người nước ngoài. Bác Hai kể lại là chị
Sáu đã cứu vớt biết bao gia đình thoát khỏi cảnh đói rách. Lên Sài Gòn ở
biệt thự, ăn cơm tây, cơm tàu. Ở miệt
mình, con gái đi tắm thường để nguyên
quần áo xuống mé sông chà chà lớp vải ngoài rồi
lật đật leo lên bờ chạy tuốt vô nhà. Lên Sài
Gòn chị Sáu cho tắm trong hồ bơi trên tầng
thượng. Nước hồ rưới dầu thơm
thơm phức. Từng tốp ở truồng xuống
hồ đùa giởn. Tắm vậy mới sạch,
mới là sành điệu. Mà con gái với nhau làm gì phải
mắc cở. Còn được lên màn hình để
cả đám coi lại hình mình ôm bụng cười nghiêng
ngả, thiệt là vui. Sẳn trớn, để
người nước ngoài chọn vợ luôn thể.
‘Con Hân nhà tui may mắn
lấy được ông chồng Đài Loan, làm giám
đốc thầu xây dựng cao ốc và cầu
đường. Vợ chồng nó mua căn hộ trên
lầu 9. Ai mà leo lên đó cho nỗi? Tui nói…á nghen…Vô thang máy
bấm nút cái rẹt là tới cửa. Như đi hoả
tiễn vậy đó. Nhà báo nói láo ăn tiền. Tin báo chí
là bán lúa giống, có ngày. Nè… nè…nó cưng vợ lắm nghen.
Khỏi nấu nướng cũng có người bưng đồ
ăn tới đúng giờ. Suốt ngày con Hân cứ quây
quần đánh bài giải trí với bạn bè trong cao
ốc. Tối, chồng nó mướn thầy về
dạy ngoại ngữ. Thiệt là…Nó tu mấy kiếp
mới gặp được thằng chồng giàu sụ
như vậy. Thiệt là phước đức ông bà.’
Và cũng mới đây thôi,
ghé thăm bà Năm tôi thấy bác Hai móc bóp cho cả nhà coi
tờ giấy bạc một trăm đô- la Mỹ
của con Hân vừa mới gởi về.
‘Cả đời tụi bây
cũng không rờ được tờ giấy bạc
nầy.’ Bác Hai nheo mắt nhìn tôi đầy vẽ khinh
bỉ. ‘Chớ đừng nói tới phân biệt đô
giả, đô dỡm. Vậy mà con Hân chỉ cần
nhắm mắt vuốt qua tờ giấy bạc là nó biết
ngay. Chỉ có ăn học mới xóa được
kiếp nghèo. Làm ra tiền là nó chịu khó đi học tiếng
Anh, tiếng Tàu. Còn cái ngữ tay làm hàm nhai, không biết
chắt mót bỏ của vô học hành thì muôn đời
vẫn mạt rệp thôi.’
Tôi biết bác đang ám
chỉ tôi. Nghĩ xa hơn, tôi biết bác không muốn tôi gần
gũi qua lại với Thu-Thanh nữa.
Thầy Một nhìn thiệt
tốt tướng. Râu dài. Trán cao. Da ngăm hồng.
Miệng thầy lúc nào cũng nhai trầu. Thầy
bước ra hàng ba phun cúi trầu rồi trở vô kéo
ghế đẩu ngồi xề lại cạnh
đầu ván ngựa bắt mạch cho bà Năm.
‘Can âm bất túc, mạch
huyền tề. Can vị bất hoà, mạch thương
huyền.’ Thầy lẩm bẩm một mình, không cần ai
nghe mà cũng không cần ai hiểu. Nghe tựa như
những câu niệm chú của thầy trụ trì thổi
thốc lên trán tôi. Mà cũng nghe ra hơi gió linh thiêng bay
lảng vảng đâu đây phát rùng mình.
‘Thổ huyết mấy
lần rồi?’
Thầy day mặt qua dì Ba hỏi
nhỏ. Dì gục đầu bưng tay che nước
mắt và cơn đau nhăn nhó vật vã không tự
kiềm chế được. Câu trả lời ngắt
quảng, đờ đẫn nghe như giọng ai xa
lạ:
‘Dạ… ba lần. Hồi
đầu …. đầu hôm tới giờ.’
Thầy Một giắt mắt
nơi mấy cụm lục bình lựng khựng trôi
thiệt chậm theo con nước đứng ròng trên dòng
sông trước nhà.Thời gian đọng lại thiệt
lâu qua im lặng của thầy. Những cụm lục
bình đã dừng lại trên dòng sông sau chặng
đường phiêu giạt không bờ bến. Và bà Năm
nấc hơi lên nhìn con như muốn dặn dò
điều gì đó rồi bỗng dưng chìm người
xuống trào nước mắt tắt thở trong
tiếng gào thét cuồng loạn của Thu-Thanh. Một
đời người dừng lại nửa chừng
với bao ước nguyện còn dở dang, những toan
tính còn ngổn ngang, chưa hoàn tất. Cụm lục bình
ngừng trôi nhưng chưa phải là bến nghỉ
cuối cùng.
Ở nán lại nhà Thu-Thanh vài
ngày để phụ lo đám tang bà Năm, tôi trở
về chòi nằm nghe trống vắng tứ bề.
Tiếng vịt kêu rộ lên buổi sáng không còn nữa mà
sao tôi cứ giựt mình nghe ra âm thanh thân quen đó như hãy
còn lào xào sau đìa. Tiếng đập cánh, tiếng chen
đạp tông vô phên cửa, tiếng giập chưn lẹt
nhẹt trên bãi lầy sát rào, tất cả chạy rần
rần trên da thịt tôi để phải ngồi lên
định thần lại một hồi mới nhận
ra mất mát.
Trời đứng bóng
nới rộng không gian bao la không gợn chút mây. Cánh
đồng ngậm no nước phèn giờ đây nằm
phơi gốc rạ khô khốc hứng nắng, nhìn
như bức tranh siêu thực lợn cợn vạch nét thủy
tinh lung linh vắt ngang, nhún nhảy trật nhịp trên
tấm thảm rạ trải dài chạy tận mút bạt
ngàn. Phải chờ lâu lắm mới nghe cơn gió lẻ
lắc lư những trái gòn khô lỏng thỏng trên cao
phơi trần lớp da nhăn móp của tuổi già
nhắc ngày tàn rụng. Tôi nhớ đám tang của bà
Năm, lúc đậy nắp quan tài, lúc hạ huyệt,
tiếng kinh kéo tôi chạy ngược về âm
điệu thân quen ngày cũ. Tất cả sống lại
trước tôi, đong đưa theo mấy chùm gòn làm
quả lắc của cái đồng hồ trên cao cố
đẩy cây kim rướn tới mức điểm
giờ để tôi nghe ra hoang vu vây quanh và ngập
trời. Rõ thiệt tôi đang thèm nghe được
tiếng động của một sinh linh, sinh linh nào
cũng được, miễn là tiếng động
của sự sống và đánh thức tôi nhận ra mình
đang sống.
Có phải tôi đang đi sâu
vô cơn hôn mê của người bị say nắng
chăng? Tôi vuốt mặt nhiều lần để thiệt
tĩnh táo nhìn ra Thu-Thanh đang kệ nệ quảy cái
bịch đệm lấp vấp từng bước
mệt nhọc trong lớp nắng thốc lửa giữa
đồng đang đi về hướng gò Cây Gòn. Có
lẽ tôi đang tĩnh táo sống trong ảo giác. Tôi không
tin vô mắt mình. Một cô gái đang đạp chưn trên
những đợt sóng nắng lụa là nhấp nhô
uốn lượn trên nền thảm rạ vàng mất
hẳn đường biên. Một người lẻ loi
đuối sức đang vật vờ giữa sa mạc
mênh mông và bất thần định được
hướng, đang đi về phía tôi, gập gảy
trong vũ điệu pha lê. Toàn thân tôi tê mê trong mộng
mị. Hay chỉ còn là một thân xác mất tiêu cảm
giác. Đầu óc quần thảo theo bóng dáng của
Thu-Thanh khi xuôi chiều nghiêng ngả, khi trở ngược
chết đuối trong lớp sóng nắng. Và tôi cứ gác
đầu như thế nầy, trên mô đất lưa
thưa cỏ dại trước chòi, cho đến khi
người con gái bước lên thềm gò.
‘Anh không ra tiếp em một
tay. Em mệt hụt hơi rồi nè.’
Thu-Thanh quăng cái bịch
nặng trịt lên ngực tôi, đánh thức một
ảo giác bịnh hoạn mà tôi chưa từng trải
nghiệm lần nào trong đời. Em chỏi tay nhìn
xuống mặt tôi, tóc ướt mồ hôi, cười
nụ thiệt đẹp.
‘Anh có sao không?’
Tôi bật người
dậy xiết em vô lòng, hôn tới tấp lên trán, lên tóc
ướt đẫm từng mảng.
‘Anh làm em ngộp thở.’
‘Là em thiệt. Anh thấy em
rồi.’
Thu-Thanh gở tay tôi ra, đi
vô chòi giở lu kiếm nước uống.
‘Thì em đây chớ đâu.’
‘Anh không nằm mơ đó
chứ? Lâu lắm rồi, em không đi theo bác Hai ra đây
nữa.’
‘Dạo nầy nhà cửa
lộn xộn lắm. Bác Hai cứ đến to nhỏ
với má. Chuyện gì đó, em chưa biết chính xác
lắm, nhưng chắc chắn có liên hệ đến anh
và em.Như anh biết, bây giờ bác Hai là người
thống trị trong gia đình vì ba em mất sớm, mà nói
đúng hơn là vì bác trở thành giàu có rồi. Bác nói
nếu giàu sớm một chút thì không để ngoại
phải chết. Em thấy bác có cho má tiền. Rồi má
cấm em ra chòi. Hôm nay em trốn nhà ra đây với anh
đó. Má dặn chèo xuồng ra chợ đi học nhớ
ghé tiệm mua mấy chai meo nấm rơm cho anh. Cứ
để ở nhà rồi má nhắn anh ra lấy. Em
thấy họ hướng dẫn cách chọn chai nấm
giống phức tạp quá. Họ sợ mình ghé tiệm
khác mua rẻ hơn nhưng dễ bị lầm. Em lấy
trước hai chai để anh biết làm mẫu
đối chiếu sau nầy. Ờ.. ờ…quên nữa. Má gói
bánh tét bán ế hoài. Em giấu hai đòn mang theo cho anh nè.’
Thu-Thanh đứng dựa
người từ phía sau, giở hỏng một chưn
lên cao như đang chơi trò nhảy cò cò, gác mặt lên
vai tôi.
‘Một đòn nhưn
chuối có làm dấu dây thắt gúc. Đòn kia là nhưn
đậu với thịt mỡ. Có nhớ chùa thì ăn
nhưn chuối. Còn nhớ em thì anh cứ tha hồ ngã
mặn.’
Em đặt hai chai meo
nấm dưới đất và kéo tay tôi lại để
chỉ tôi quan sát từng chi tiết.
‘Em đố anh chai nào là chai
meo nấm tốt?’
Họ gieo cấy mầm
nấm rơm trong chai nước biển xài rồi. Nhìn
phớt qua, cả hai chai nầy đều có đốm
trắng như vết bông gòn tụ lại ven thành chai hay
đóng sâu trong các bã mùn cưa ở giữa, lấm tấm
hơi nước. Tôi mê mẩn gắn chặt mắt vô
chai meo nấm ửng ra nhiều màu tuyệt đẹp. Lẩn
theo màu trắng bông gòn là những đốm màu xanh hay màu
ngà hột bắp cố vươn sức sống lấn
át cả màu trắng. Chắc chắn chai nầy sẽ cho
nhiều năng xuất hơn. Tôi áp sát chai meo nấm vô
lòng giành phần thắng về mình, nheo mắt với
Thu-Thanh, mĩm cười đắc chí. Em ấn tay thiệt
mạnh vô ngực tôi sém té bật ngửa.
‘Ờ…ờ…Phải rồi.
Đẹp quá hén. Em tặng cho anh luôn đó. Em đem chai
nầy về. Để coi anh trồng thử chai đó ra
sao nhen.’
‘Em khỏi phải lo. Anh
biết cách trồng mà.’
‘Lâu nay anh chỉ làm theo cách
hướng dẫn thủ công của nhà chùa thôi. Bây
giờ muốn làm cho có tầm cở thì trước
hết anh phải biết cách chọn chai meo nấm
tốt. Tay nấm chắc khỏe mọc trong thiên nhiên lúc
nào cũng là một bông hoa tuyệt vời. Là tay nấm
gốc người ta chọn để gieo cấy thành các
mầm trong chai.’
‘Thì anh chọn chai nấm nầy.
Có đẹp hơn không?’
‘Đẹp màu, đẹp mã
là hư hết rồi đó, anh ơi!’ Tiếng Thu-Thanh nói
lớn mà sao nghe có vẽ đau thương, trách hờn. ‘Đốm
xanh xanh cho thấy nó bị nhiễm khuẩn rồi. Còn
ngả màu ngà vàng là để lâu, mầm nấm bị già
cỗi, không mọc lên được đâu. Chai nấm có
sợi gòn trắng mịn và bung đều như vầy
mới là chai anh nên chọn. Anh cũng không được
mở ra xem thử. Mở ra là phải trồng liền.
Để lâu nó sẽ bị nhiễm khuẩn vì không khí bên
ngoài đã chui vô rồi.’
Thu-Thanh bây giờ là chai
nấm tốt trong tầm nhìn đắm đuối
của tôi. Tôi nhìn em không chớp mắt, không bỏ sót
từng cử chỉ, từng sắc diện chuyển
dịch theo lời cắt nghĩa của em. Em là tay
nấm tinh khôi của thiên nhiên hay cũng là chai nấm trong
trắng mà lúc nầy tôi đừng nên làm nhiễm
khuẩn. Tôi kéo ghì em xuống nền đất, nằm thiệt
xát bên em. Lúc hôn lên môi vừa ráo nước, miếng
vải tang màu đen trước ngực em tưới
lạnh đám cháy khao khát bừng bừng đốt khắp
người tôi. Tôi xiết chặt em vô lòng, xiết thiệt
chặt, như sợ vuột mất em mãi mãi. Thu-Thanh nhoài
người ôm hôn tôi, ràn rụa nước mắt.
‘Sao em khóc?’
Em không trả lời mà
nước mắt cứ tuôn trào theo hơi thở phập
phồng. Buổi chiều xuống lần chầm chậm
trên hàng gòn. Trời đứng gió, phơi bày nỗi
buồn im lặng lúc tiễn em ra về.
Thu-Thanh bắt tôi đứng
yên trên gò, không được đi theo. Khi ra khỏi gò
được một đoạn đường,
bỗng dưng em vội quay trở lại ôm choàng lấy
cổ tôi. Chúng tôi hôn nhau thiệt lâu trên đỉnh gò Cây
Gòn. Tứ bề vắng lặng nghe hơi thở nồng
nàn của yêu đương.
‘Sao em lại khóc?’
Thu-Thanh lặng lẽ rời
tôi trước khi nhét vội vàng chai dầu gió vô túi
quần xà lỏn của tôi. Em như chạy đuổi
nắng chiều, không quay mặt lại nữa. Tôi lưu
luyến nhìn theo dáng em nhỏ lần, nhỏ lần,
chỉ còn là một chấm đen trên tấm thảm
rạ dịu nắng với bao chấm hỏi quần
thảo miên man.
Sau một đêm không ngủ
được, tôi bắt đầu đi mua rơm,
đội về chất vung ngọn rồi lo dọn
đất chất mô.Theo lời dặn của Thu-Thanh, khi
chất mô xong, tôi ra nhà cho em biết để kịp mua
meo nấm.
Căn nhà lá tệ rạt
nằm ven bờ sông cái nhìn ra con nước lớn, ròng theo
năm tháng chẳng có gì thay đổi. Mới đó mà
cứ tưởng chừng như lâu lắm rồi tôi
không còn bưng cá ra nhà Thu-Thanh nữa. Không gian thân quen nhìn
tôi ra người xa lạ. Tôi hồi hộp bước vô
như mới đến đây lần đầu. Chỉ
có con Vện mừng quýnh chạy ra vẩy đuôi nhảy
chồm lên người tôi thè lưỡi liếm láp. Trên
bàn thờ, hình bà Năm vẽ theo kiểu tranh xưa, mang
guốc vông, vắt khăn rằn, chỏi tay lên mặt
bàn cẩm thạch hình tròn. Phía sau là hậu cảnh của
cõi tiên, có núi non và bầy hạc sãy cánh xa xôi. Đôi mắt
bà Năm hiền hậu nhìn tôi như tiếc nuối
một điều gì đó chưa kịp nói thành lời
trước khi ra đi. Tôi nghe tiếng ai đang chà
rửa cái thùng phuy đựng nước mưa sau nhà.
Thu-Thanh đang ở nhà một mình. Chắc vậy. Em
chỉ đi học buổi sáng thôi mà. Nhưng không
phải. Nghe tiếng chưn tôi, bác Hai Tiền chầm
chậm bước ra nhà trước, tay vẫn còn cầm
cái bàn chải sắt.
‘Dạ. Con chào bác Hai.’
‘Kiếm ai?’
‘Bác cho con gặp Thu-Thanh hay dì
Ba cũng được.’
Bác Hai chưng hửng nhìn tôi,
rê cặp mắt ngạc nhiên từ chưn tới tóc.
‘Ủa? Bộ chưa hay gì
sao? Con Hân kiếm được chỗ làm cho con Thu-Thanh
nên đi xe hơi về rước nó lên trển cả
tuần nay rồi. Còn người ta mới nhắn má nó
hôm nay ra chợ Bạc Liêu để nhận tiền
ứng trước. Chắc trên đường về bả
ghé tạt qua chùa van vái, cúng kiếng gì đó nên chừng nầy
mà không thấy về. Con Thu-Thanh mần được
việc rồi nên họ mới dám ứng tiền.
Thiệt là con nhỏ tu mấy kiếp mới
được….Ờ…ờ…quên nữa….’
Bác Hai lật đật ra sau
nhà xách cái túi đệm lên đưa tôi, căn dặn:
‘Mấy chai nấm nầy nó
mua cả tuần nay rồi. Tui có mở nắp bông gòn ra coi
thử. Tốt lắm. Mà thôi. Nó dặn không
được lấy tiền. Cứ xách về trồng
đi.’
Từ giã bác Hai, tôi xách cái túi
đệm đi men theo bờ sông, rẽ lên cái cầu ván bắt
gie ra ngoài, ngồi chờ xuồng ai đó đi ngang qua
đây ngoắt lại xin có giang qua bên kia bờ. Tôi mở bịch coi
lại mấy chai meo nấm. Tất cả đều
nổi đốm xanh, đốm vàng.
Tôi gào thét trên sông nước
mênh mông. Con nước lớn chảy thiệt xiết
cuốn từng đám lục bình chạy vùn vụt mịt
mờ mắt tôi. Tôi gục đầu bên cây chỏi
cắm ơ hờ ở cuối đầu cầu, nghe
tiếng nước xoáy lật bật đánh lên từng
nhịp đều đều như tiếng mõ cầu kinh
từ xa còn rớt lại đâu đây giữa buổi
chiều quạnh quẻ đầy tĩnh lặng.
‘Là hư hết rồi. Là
trễ nải hết rồi. Phải không em?’
Buổi chiều xuống
thiệt mau và mây đen bao phủ toàn vùng. Tôi muốn khóc
nhưng nước mắt mình đã cạn.
HaiNgườiBạn
(Sàigòn-Texas 10/07)