NGOÀI VÙNG PHỦ SÓNG
Truyện
ngắn của: HaiNgườiBạn
Chị Oanh vặn cây
đèn bão lên cao ngọn. Tôi chóa mắt giật mình lồm cồm
ngồi bật dậy, dụi tay quờ quạng. Không
biết mình đương ngủ quên ở gò mả đá
hay bên cây rơm sau hè nhà. Thầy Hai vừa dứt hồi
kinh ru ngủ tôi nãy giờ. Chuông mõ nhịp nhặt nới
rộng căn nhà quạnh quẽ, tĩnh lặng. Chị
Oanh trong lớp vải tang thô trắng đương cùng
đám trẻ mồ côi cúi đầu xì xụp lạy.
Té ra từ chạng
vạng tới giờ, tôi đã ngủ một giấc
thật sâu dưới cỗ quan tài của dì Bảy.
Thấy tôi tỉnh dậy, con Mực nằm kế bên
hững hờ vẫy đuôi mừng. Bất chợt, nó
vụt đứng lên hừng hực chạy ra ngoài sân
trước tối om.
Có tiếng rửa chưn
quậy nước đùng đùng ở bờ ao
trước nhà. Lấp lóe ánh đèn pin quét mau qua cửa.
Mọi đôi mắt chạy dồn theo tiếng sủa
lồng lộn của con Mực. Rồi Ba Thẹo
bước vô, đặt bọc thịt heo quay xuống
đất, cúi xổ lai quần Jean nhung, cười
nửa miệng, đủ khoe mấy cái răng vàng bóng
lộn. Đám trẻ tíu tít vây quanh cái bịch ny-lông, háo
hức, thèm thuồng, soi bói. Nghe tiếng tằng hắng
của thầy, tụi nhỏ chạy dồn ra sau
bếp, mặt mày lắm le lắm lét.
Thầy chìa mấy ngón
tay khô móp áp sát vô cây đèn bão, bấm lướt qua
từng đốt rồi lẩm bẩm một mình: ‘Phải
hạ huyệt trước sáu giờ sáng.’
Quan tài đóng bằng
gỗ tạp, cơi hỏng khỏi mặt đất,
gác đầu lên hai chưn ngựa dùng để kê bộ
ván gỏ từ nhà thầy chở qua. Lúc vác xuống xuồng
ba lá, tôi nghe cái xuồng nặng trình trịch như muốn
đầu hàng. Nước rón rén phá kẽ be ván trốc
chai sau mũi, bò nhẹ vô khoang. Thầy tôi vớ cái mo cau
tát nước, hối tôi bơi mau kẻo trời tối.
Vừa trổ ra sông cái,
trời đổ mưa mịt mùng, trắng giã. Gió
thốc ngược. Thầy cởi tấm áo lá chằm
đắp lên con Mực, ngồi co rút trong cái áo mưa, ôm
cứng cái túi vải thô tưa tơi, cũ mèm.
Mỗi lần nghe có
đám, thầy thường biểu tôi chở thầy
đi tụng. Thành thử tôi quen cả màu lẫn mùi
của cái túi vải này. Bộ áo cà sa có bệt vá
đậm màu trên lưng, cái mũ len đổ lông
nhuyễn mịn, quyển kinh góc cuốn tai mèo, cái mõ lên
nước bóng huyền, cái chuông đồng hoen rỉ
chạy chỉ màu xanh rêu, xâu chuỗi to hạt lòng thòng
lệt bệt, tất cả phải xếp thật
gọn vô cái túi vải thô bạc màu.
Thầy hay mang theo áo
tơi bện bằng lá chằm hình cánh quạ. Mặc áo
mưa xong, trùm thêm tấm lá chằm, rịt sợi nhợ
thắt túm chóp cổ lại. Nhìn giống con nhím sa vô
bước đường cùng, cuộn tròn, giấu
mặt trước bao mối dọa dẫm chực
hờ của các tay thợ săn đang vây bủa.
Chị Oanh lui cui nấu
nướng sau bếp, châm thêm trà bưng ra trước,
rồi giở nồi bắp luộc cho tụi tôi ăn
lót dạ. Vừa cạp vô lớp bắp non, tôi nghe
thốc lên mùi da thịt thơm tho, lâng lâng chạy rần
lên khắp người.
Tôi đẩy thêm gốc
củi tươi vô bếp. Tiếng nổ bắn lách tách
lùa khói mịt mù chạy lan theo vách lá, lờ mờ che
phủ những thân võng treo mắc dọc trên tấm
nẹp tre như những bộ xương người
khô đéc. Và gò mả đá nằm cạnh biền lác
cứ chờn vờn, duỗi ra trước mặt tôi.
Thật đau đớn lúc nghe tin dì Bảy đạp nhằm
trái nổ khi đi cắt lác.
Tôi thường thả
trâu cho ăn cỏ dưới chưn gò mả, gần
biền lác, cùng tụi nhỏ đi nôm cá giẫm nát nơi
đây. Dì Bảy mất đột ngột làm thằng
Được cứ ám ảnh có ma. Trời còn mưa lắc
rắc. Mới leo lên nửa thân cây dừa sau nhà, nó
quăng rựa tuột xuống la lên vừa thấy ma trên
ngọn. Chị Oanh mắng nó:
‘Hư! Mười
tuổi rồi mà còn tè ướt quần.’
Nó lườm mắt,
nguýt lại:
‘Con trâu Tượng
mười hai tuổi đái bậy trên gò mả hoài. Em
thấy anh Mót có la nó đâu.’
Tôi lớn hơn con
Tượng ba tuổi và luôn luôn sống bên nhau kể
từ khi nó mới mọc sừng. Giờ thì nó già nhất
trong đàn. Cặp sừng rộng bảng ngả màu vôi
sậm, nổi vòng những lớp sụn thô ráp, mốc
thếch. Ngày nào lén bỏ bầy phụ chị Oanh
đội võng ra chợ Nhỏ bán, tôi đều căn
dặn nó giữ giùm bầy nghé ăn cỏ lanh quanh nơi
đây. Không được lội qua lung ông Tà phá ruộng
nhà người ta. Chị Oanh đương lấp ló chờ
tôi dưới bờ mẫu, bên gốc cây ô môi,
cười mĩm:
‘Kết nhau quá há!’
Nét mặt chị rỡ
ràng, da trắng hồng hòa quyện với những cành hoa
ô môi tím sặc sỡ trong nắng sớm, đẩy lùi
vùng trời và đồng cỏ xanh thẫm xa tận
đâu đâu.
Mấy phiên chợ
đầu, tụi tôi ngồi phơi nắng bên dãy
sạp, bán được một hai cái rồi phải
đội trở về. Người chê lác phơi chưa
ráo nắng, sợi còn dẻo nước. Kẻ nói phơi
quá già nắng, sợi khô đéc, giòn rệu. Mặt
trời đứng bóng. Nhìn mớ võng tốc tung thành
đống vung vãi trước mặt mà nghe ngao ngán khi
nghĩ tới lúc phải đuối sụm lội
đồng vác về. Tình cờ, vợ Ba Thẹo đi
ngang, ngoáy lại nhìn chị Oanh:
‘Mèn đéc ơi! Em là con
dì Bảy mà chị nhìn hoài không ra. Bây giờ trổ mã
đẹp gái quá há. Đi, đi ôm hết mớ võng về
chất ở nhà chị, gần hệu đây hà. Chị
hét một tiếng là họ lại quơ hết trơn.
Lần tới, em cứ đội võng mới ra đây
rồi lấy tiền về.’
Chị Oanh ngước
nhìn lên, đôi mắt hồn nhiên tròn xoe như đứa
trẻ vừa chụp lại được chùm bong bóng
mới vuột khỏi tay bay bổng lên cao. Chị vùng
vằng nhưng chị Ba cứ dúi tiền ứng
trước vô túi chị. Tụi tôi ghé nhà chú Hía mua mớ
bánh tiêu, giò cháo quẩy và vài miếng bánh bò. Chú Hía đoán
phỏng được ý chị, lắc đầu:
‘Không thấy thơ từ
trên Sài Gòn gửi về cho mầy. Vô nhà bốc điện
thoại gọi lên trển coi sao. Nói gọn thôi, nhe mậy.
Trả tiền mắc lắm đó.’
Tụi tôi đánh một
vòng khắp chợ. Chị Oanh ghé sạp lựa áo cho dì
Bảy, mua vài cục pin cho thầy, đội cái mũ
lưỡi trai màu đen lên đầu tôi rồi tấp
lại đống quần áo si-đa Trung Quốc chọn
cái áo pull ngắn tay màu vàng, nheo mắt hí hởn
cười.
‘Nhờ vợ nó ăn
hiền ở lành chớ gia đình Ba Thẹo tiêu
đời lâu rồi. Cha nó hy sinh người ta mới cho
làm công an Xã. Nó trúng liên tục mấy vụ tôm sú, mua cái ho-bo
vừa chạy thăm các vuông tôm vừa chở bạn bè
lên huyện ăn nhậu, hát karaoke tới sáng hôm sau
mới trở về.’
Ba Thẹo giành giựt
vuông tôm của Lục Kên nên bị chém tét mặt. Lục
Kên giỏi võ lại biết gồng. Cổ đeo cà tha,
thứ bùa hộ mạng rất linh nghiệm, kéo trịch
sợi dây chuyền lệ xệ xuống ngực. Ba
Thẹo phóng chĩa ba ngạnh trúng ngay ức mà không
lủng thịt. Chém Ba Thẹo xong, Lục Kên gọi con
đưa thẳng ghe máy lên Tỉnh chịu ở tù. Ba
Thẹo bị kiểm điểm rút kinh nghiệm,
nhưng tính hung dữ, tham lam vẫn không chừa.
Lần nào đội võng
ra chợ Nhỏ, tụi tôi cứ nghe mấy bà ngồi bán
trên sạp kể miết chuyện này.
Tới cây ô môi, chị
Oanh rẽ theo ngõ trâm bầu về nhà cơm nước cho
kịp buổi học. Lớp học chỉ có hai dãy bàn
đóng bằng cột tràm và ván ép. Chỉ có bộ ván gõ lót
ở giữa là phơi bày tất cả nét sang trọng
trong nhà. Cây đèn bão treo lủng lẳng trên cái móc sắt
có tuổi đời già hơn bọn tôi, không ai rõ
nguồn gốc, giống như cuộc đời mồ
côi của bọn tôi. Thầy tôi gom nhặt, nhận về
rồi đặt mỗi đứa một cái tên, chắc
để nhắc lại kỷ niệm của thầy
từng mỗi trường hợp và mỗi hoàn cảnh.
Ba đứa còn lại, Lượm và Rớt được
tám tuổi, còn út Bé mới lên sáu.
Thầy phân công cho tôi
giữ bầy trâu, đi cày mướn, dậm lúa hay kéo
cộ tùy theo mùa vụ. Thằng Được chăn
vịt. Lượm, Rớt và út Bé theo thầy vô đám lá
tối trời tỉa lá về bán, đặt ống trúm
bắt lươn và tìm đuông dừa. Thằng
Lượm bây giờ sỏi đời lắm. Nó leo lên
cây bần cao ngọn, phóng mắt nhìn quanh. Chỗ nào có đọt
cà bắp non khô rủ là nó dẫn thằng Rớt và út Bé
tới đào bứng gốc củ hủ lên bắt
đuông.
Thầy ngồi trên
bộ ván gõ, tay đẩy cặp kính sức một bên
gọng, cột quấn dây kẽm, tay chìa cuốn sách áp sát
dưới ánh đèn. Chị Oanh ngồi sau lưng, dúi
mảnh giấy cuộn nhỏ qua hông tôi: ‘Tối nay em
khỏi phải đưa chị. Má đang chờ chị
bên ngoài. Ngày mai đón chị ở gò mả đá. Nhớ
nghe!’
Lớp đêm vừa tan.
Tụi nhỏ chui vô nằm xếp lớp trong cái mùng rách
đập muỗi đen đéc một hồi rồi
lăn ra phơi bụng ngủ vùi. Thầy cầm cái xâu
quất làm bằng cùi dừa đập tủa xơ,
vừa đuổi muỗi vừa rà đài nói tiếng Anh
trên cái radio nhỏ, đặt kế bên bình trà. Tôi ôm cái
nốp bện lác ra ngủ sau cây rơm, cạnh chuồng
trâu. Ngồi rút rơm đánh con cúi dài ngoằn đốt
lửa ung muỗi cho trâu, tôi tìm chùm sao cày rẽ đuôi trên
nền trời trong ngần.
Tối tan học, có khi
đưa chị Oanh về, tụi tôi chạy băng
tắt ngã ruộng để tránh gặp rắn. Tôi xách
ngọn đèn con cóc hình bánh ú đặt vô cái lồng
thiết quơ đường cho có chừng, chớ
thật ra từng mô đất, từng lùm cỏ
đều quen thuộc như lòng bàn tay. Chị xăn tay
áo vải quến đầy phèn đổ màu ngà vàng,
phơi vén làn da mỏng mịn, non măng, chỉ lên
hướng sao Cày. Cứ nhìn đuôi sao để tính
giờ. Đuôi sao quay hết một vòng là trời bắt
đầu sáng. Lật bật chị vấp sụp lỗ
chưn trâu té khuỵu xuống ruộng. Tôi buông lồng
đèn, nắm tay kéo giật chị đứng lên, mặt
và tóc chị đập mạnh vô vai tôi. Tự dưng tôi
nghe cổ chị toát lên mùi thơm bắp non mới
luộc chín vừa vớt ra khỏi nồi, làn da bông gòn của
người con gái bước vô ngưỡng cửa
tuổi mười sáu.
Thầy tôi trở mình
húng hắng ho. Cái radio lè rè, hết pin, yếu lần.
‘Thầy con hồi đó
lên Sài Gòn học và cưới vợ sống trên đó.
Bị bắt quân dịch, thầy ra trường Thủ
Đức rồi sang Mỹ học khóa Lackland về làm
thông ngôn. Hồi đó, chỗ nầy là vùng oanh kích tự
do. Đò máy đi từ tỉnh đến chợ Nhỏ
phải treo cờ vàng ba sọc đỏ. Ra khỏi
chợ Nhỏ phải cuốn cờ lại treo cờ khác.
Lúc nghe tin cha mình qua đời, thầy bảo vợ và hai
đứa con trai về quê lo ma chay. Đò chạy gần
tới đám lá tối trời thì bị trực thăng
Mỹ bắn chìm, chết hết, không ai dám bơi
xuồng ra vớt xác.
Học tập cải
tạo xong, thầy trở về đây tu hành nhưng không
ăn chay. Có giấy gọi bảo lãnh cho đi Mỹ
nhưng thầy từ chối. Dì cũng không hiểu
nổi. Cuộc đời còn lại của thầy,
như con thấy đó, là những chuỗi ngày khép kín,
trầm tư.’
Dì Bảy ngừng
kể, mắt đăm chiêu nhìn ra biền lác, tay cầm
liềm tóm tém rìa đất rạn vỡ bên thềm
mả như bịt lại, che giấu những chuyện
xa xưa.
Thằng Được
bỏ bầy vịt trên lung ông Tà. Nó lượm theo
mấy hột vịt đẻ rớt, kéo tụi nhỏ
gom về đây ăn cơm trưa. Tôi nhìn những mái
đầu trần đọng vệt bùn khô, những tay áo
nhuộm màu phèn vàng, quệt nước mũi đóng
lớp dày mo, mường tượng như những
đứa con thầy gom nhặt được từ
những cái đò tan xác. Không đứa nào biết mình
họ gì, con ai, đẻ rơi đẻ rớt ở
đâu. Rõ thật là không nguồn gốc. Rõ thật như
lời Ba Thẹo nói với thầy tôi, lúc thầy nhờ
xin khai sanh cho tụi nhỏ và giấy chứng minh nhân dân
cho tôi.
‘Toàn là lũ trôi sông,
lạc chợ. Lũ con hoang. Ông đi vác đơn tới
trời cũng không ai dám cấp giấy. Sống phải
tuân theo pháp luật chớ. Ông là người hiểu cao
học rộng. Tôi nói ít, ông phải hiểu nhiều.’
Thầy tôi dằn ly
rượu, tuột khỏi bộ ván gõ:
‘Đi họp trên Xã,
Mặt Trận Tổ Quốc cấp giấy khen cho tôi.
Hội phụ nữ định gửi nuôi thêm một
đứa nữa. Chú phải giúp tôi nói với Xã lo giấy
tờ cho các cháu chớ. Đàng nầy, chú nói cái giọng
đó. Khó nghe quá.’
Ba Thẹo vói tay kéo
thầy ngồi xuống, cười nhuếch miệng:
‘Ông tu hành mà còn nóng
nảy quá. Để tôi nói cho ông nghe. Buổi họp trên Xã
có mặt ông là một buổi họp trí tuệ. Làm sao
để dân giàu nước mạnh. Làm sao để xóa
đói giảm nghèo ở vùng sâu vùng xa. Làm sao để kéo
lưới điện về tận nông thôn hẻo lánh.
Ông cứ đứng lên phát biểu trật chìa hoài nên bà
phó chủ tịch mời ông ngồi xuống mấy
lần là phải. Ai có thẩm quyền cấp giấy tùy
thân cho tụi bá vơ này? Ông nói đi?’
Ba Thẹo vét con đuông
chiên vàng cuối cùng trên dĩa, nốc cạn ly
rượu, bỏ ra ngoài sân đi về hướng
bờ sông cái, chỗ neo đậu cái ho-bo. Nghe con Mực
sủa vói phía sau, hắn dừng lại trầm trồ:
‘Ê Mót! Con Mực chạy
xoáy lưng tận mí đuôi. Lai chó Phú Quốc. Khôn dễ
sợ. Để lại tao nuôi đi mày. Bao nhiêu tiền,
tao trả đủ.’
Hắn nói, nhưng không
nhìn tôi. Trong tầm mắt của hắn chỉ có con
Mực là giá trị, là đáng sống. Còn tôi đang bị
bôi mờ. Một đứa trẻ không cội nguồn,
không biết từ đâu có mặt trên đời này,
một thân phận bị cuộc đời từ
chối và không đáng sống.
Và chị Oanh cũng
vậy. Lúc thời buổi còn quá khó khăn, dượng Bảy
bán ruộng, vay tiền mua cái ghe máy lên biên giới Cam-pu-chia
chở hàng mướn qua lại. Dì Bảy đẻ
chị Oanh trên ghe nên không làm khai sanh được. Ghe
chở gạo, bị tịch thu. Dì Bảy ẵm chị
Oanh trở về sống với biền lác còn lại
rồi sau đó mới hay tin dượng Bảy bị
sốt rét cấp tính chết trong trại giam. Dì Bảy tâm
sự với thằng Được lúc nó lội
xuống biền phụ cắt lác.
Nghe tiếng vịt kêu,
nó bỏ liềm chạy thục mạng về
hướng lung ông Tà. Ba Thẹo cột chưn hai con
vịt thật mập, lêu lêu trước mặt nó:
‘Ê Được! Nhà tao
có khách. Mày về nói với ông Hai tao mua cặp vịt này.
Mai mốt tao ghé trả tiền nha!’
‘Thầy tôi bán nguyên
bầy. Không tỉa bầy bán lẻ.’
Trù trừ suy nghĩ
một hồi, thằng Được tiếp lời:
‘Mà có mua thì anh đưa
tiền đây. Đếm mất đầu vịt,
thầy phạt tôi.’
Ba Thẹo buông cặp
vịt xuống bờ mẫu, chống nạnh, hất
hàm:
‘Thầy mày tu hành cái con
mẹ gì. Bửa nào tao ghé nhà biểu ổng làm tiết canh
cho tao nhậu là ổng cắt cổ vịt liền. Nói
thẳng với ổng là tao không trả tiền. Làm gì tao?’
Thằng Được
chổng mông vỗ đít rồi quay lại tuột
quần đái bổng trước mặt Ba Thẹo.
Hắn rượt theo nó. Tôi
đội võng theo chị Oanh chạy trờ tới
cản hắn lại:
‘Vậy mà thầy tôi còn
có tình người hơn anh. Anh đến đây cà rà,
ngắm nghía muốn tịch thu biền lác này để làm
vuông tôm. Bộ anh tưởng tôi không biết sao?’
‘Đồ con hoang.
Đồ mất dạy. Tao đấm vỡ mặt
tụi bây.’
Chị Oanh nắm áo
hắn lại, năn nỉ:
‘Xin anh Ba bỏ qua cho.
Đừng chấp nhứt. Nó nói lỡ lời. Biền
lác này của mẹ em chớ đâu ăn nhập gì
tới nhà thầy Hai, anh hén?’
Hắn dừng lại
bên đống võng tôi vừa liệng xuống, nhuếch
miệng cười như một xác ướp Ai Cập
hiện hình. Răng vàng. Dây chuyền vàng. Đồng
hồ vàng. Và lủng lẳng mấy cái cà rá vàng. Hắn cúi
xuống ôm mớ võng, trở lại xách cặp vịt,
đi bên chị Oanh:
‘Để anh lấy ho-bo
đưa em ra chợ Nhỏ.’
Chị Oanh lẻo
đẽo đi theo sau. Chị mặc cái áo pull ngắn tay
màu vàng phơi bày làn da trắng mỏng, thơm mùi bắp
non. Những màu vàng pha trộn vui buồn lẫn lộn
bỗng chốc bỏ lại vùng trời và đồng cỏ
xanh mởn duỗi dài ra tận đâu đâu. Tôi lưu
luyến nhìn theo thật xa. Chị Oanh không ngoảnh
mặt lại. Tiếng ho-bo lướt đi, nhồi
nhịp từng cơn sóng dữ, đánh vội vô bờ giống
như cái phản lực vừa phóng ngang trời nhả
lại vệt khói nhờ nhờ, âm u.
Dì Bảy ngồi im lặng
trước sân mõi mòn chờ chị Oanh. Mãi đến
tối hôm sau, chị mới trở về, ngồi khóc
tức tưởi bên bờ ao trước nhà. Chị Oanh bỏ
không đi học nữa.
Thầy tôi trằn
trọc mấy đêm liền. Mích lòng Ba Thẹo, cả nhà
đều khó sống.
Tôi chui đầu ra
khỏi cái nốp nhìn sao Cày vẫy đuôi gần hết
một vòng. Có thể chòm sao đó đã chết và tôi
đang nhìn ánh sáng từ xa xưa rớt lại mà cứ
đinh ninh nó vẫn còn đó, mãi mãi không bao giờ nhạt
nhòa. Chắc chắn phải ra đi. Đuôi sao có khởi
điểm và tận điểm của đời nó qua
một đêm, còn tôi không có khởi điểm và không
biết đâu là tận điểm. Nơi đây không
phải là chỗ bắt đầu tiếng khóc của
đời tôi và nơi tôi đến sẽ không có một
lộ trình hay một điểm dừng để
thấy đất trời trở ra hẩng sáng.
Mở cửa mả cho Dì
Bảy xong, thấy mợ Tư của chị Oanh từ
Sài Gòn về. Mợ neo xe du lịch đậu ngoài
tỉnh lỵ, bao trọn cái ho-bo đi với
người bảo vệ chạy thẳng về đây,
ra mả thắp nhang. Người bảo vệ che dù
đi sau. Tụi tôi đổ ra vây quanh láo ngáo nhìn cách
chưng diện lòe loẹt hoa màu của một
người giàu sang, đầy quyền lực.
Vừa ngồi xuống
kế bên chị Oanh trên manh chiếu trải gần
nấm mộ đơn sơ còn tươi đất,
mợ Tư ngoắc tụi tôi tới phân phát thịt, bánh
và nước ngọt. Mợ quay qua chị Oanh, tắc
lưỡi:
‘Tội nghiệp mấy
đứa con của thầy Hai quá. Con làm giấy tay
nhường biền lác lại cho thầy rồi thu
xếp về ở với mợ ngay. Tệ quá, con không điện
cho mợ hay sớm.’
Chị Oanh cúi mặt,
lắc đầu:
‘Người ta đã
cấp giấy chủ quyền cho anh Ba rồi. Con đâu
có giấy tờ gì. Ngay cả khai sanh cũng chưa làm
được.’
Mợ Tư vụt
hất tung cây dù, đứng lên chống nạnh, chưn mày
xâm đen xếch lên, mấp máy môi son ướt bóng:
‘Là thằng nào? Mợ
điện lên Sài Gòn, nó đứt bóng ngay.’
Vừa gằng giọng
hỏi tên, mợ lẩy bẩy run lên, thọt tay vô túi da
cá sấu moi ra cái điện thoại di động.
Tiếng léo nhéo ò e phát ra từng chập. Mợ giãy
nẩy, giậm chưn bực tức:
‘Ngoài vùng phủ sóng.
Nơi khỉ ho cò gáy này làm gì có sóng. Cậu con gốc gác
ở đây mà phải bỏ xứ về Sài Gòn là đúng.
Mợ sẽ cho nó biết thế nào là lễ độ.’
Tôi đứng trơ
người, vòng tay trước ngực, không hiểu
mợ Tư nói gì. Lần đầu tiên trong đời tôi
mới thấy được cái điện thoại di
động. Mợ bật màn hình màu ra khoe:
‘Cậu Tư con đây
nè, đang ngồi làm việc trong phòng máy lạnh. Đây là
xe của cơ quan. Còn đây mới là xe hơi nhà. Đây
là thằng Hùng, con nhận ra nó không? Sắp sửa đi Úc
học đó. Nhà lầu này mợ mới xây lại sau khi
hóa giá. Cà phê sân vườn, quán bar trong hình đều là
của mợ. Thấy khách Tây ngồi đông nghẹt
chưa? Đây là vũ trường. Phòng này hát karaoke. Vui
không? Nơi đây không còn gì để con luyến tiếc.
Hãy bỏ xứ lên sống với mợ. Còn giấy
tờ của con là chuyện nhỏ, khỏi phải
bận tâm.’
Chị Oanh đến
từ giã thầy. Hổm rày thầy không cho tôi dẫn trâu
ra đồng. Phải đi cắt cỏ về cho trâu
ăn. Để êm êm vài bửa. Tôi đẩy nắp lu,
thọt cái cán gáo dừa múc nước mưa uống tràn
ra ngực. Bỗng chị Oanh chạy ra sau, kéo tôi ngồi
xuống góc lu nước mưa ôm chầm lấy tôi,
nghẹn ngào:
‘Sắp xếp xong
chuyện, chị sẽ tìm mọi cách kéo em lên Sài Gòn. Em
nhẫn nhục chờ chị. Chị thương em.
Chị đi nhá. Chị sẽ gửi thơ cho em. Chị
thương em lắm. Đừng khóc nữa.’
Tôi lấy tay áo quẹt
nước mũi. Chị Oanh nhét hết tiền bán võng vô
túi tôi:
‘Em cất giữ cẩn
thận. Đừng cho ai biết. Sau này còn phải đón
xe lên Sài Gòn với chị.’
Tôi ngồi tựa
người vô lu nước nhìn theo chị Oanh. Tôi không
tiễn chị. Chị đang rời bỏ nơi đây
để đi vô vùng phủ
sóng. Còn chỗ này, ngoài vùng phủ sóng, toàn là rừng lá
bạt ngàn, sông rạch chằng chịt, đồng
cỏ đầy phèn, dành cho những mảnh đời
bị bỏ quên.
Chị Oanh đi
được một tháng. Ba Thẹo lái ho-bo đem chai
rượu whisky đến nhà thầy tôi. Hắn móc
thuốc Marlboro ngoại, lắc cắc bật hộp
quẹt zippo, ngồi chéo ngoảy trên mép ván ngựa, phun khói
lên cây đèn bão, rung đùi rót rượu:
‘Uống đi ông Hai.
Uống để thấy quá khứ của đời ông
và tương lai của đời tôi. Tôi bị đình
chỉ công tác rồi. Từ nay tôi chỉ còn bóng và mất
hình. Xóa hình thì dễ chớ bắt bóng khó lắm. Còn hình
thì phải lo giữ nền, giữ nếp chớ biến
thành bóng rồi thì đâu còn sợ ai. Nói cho cùng, họ
cũng nghèo rớt mồng tơi, cũng phải nhờ
bóng tôi để sống thôi. Ông học cao, hiểu
rộng. Tôi nói ít, ông chắc hiểu nhiều.’
Ba Thẹo bước ra
khỏi cửa để lại không khí nặng trịch
trùm phủ khắp nhà. Thầy tôi vẫn ngồi im, quơ
cái xâu quất đuổi muỗi, nhìn tôi ngao ngán, thở
dài.
Tôi viết thơ tạ
ơn để lại thầy, nằm bên đống
rơm chờ sao Cày vẫy đuôi lên cao, bỏ nhà ra
đi.
Con đường mòn
trổ ra rặng trâm bầu, đến cây ô môi, băng
ngang gò mả im lặng tiễn bước chưn quen. Tôi
không còn thời khóa biểu hẹn hò hay chia tay, gặp gỡ
hay rời xa với tất cả cảnh vật chung quanh chỗ
nầy nữa. Tôi được tự do.
Tới chợ Nhỏ,
trời vừa hửng sáng. Chú Hía đẩy xe ra
trước nhà, nổi lửa chiên bánh từ sớm. Chú
mừng rỡ kéo tôi vô nhà đưa thơ chị Oanh
rồi lật đật ra trở mấy cái dầu-cháu
-quảy trong chảo dầu sôi đen thủi đen thui dầu
đặc quánh.
Khách từ các đò máy
ở vùng xa đổ về chen chúc leo lên chuyến xe
buổi sáng chạy lên tỉnh. Khó khăn lắm tôi
mới lọt được vô chỗ ngồi ở
băng sau bắt dọc cặp theo hông. Tôi mở thơ chị
Oanh ra khi xe đương rời khỏi chợ Nhỏ,
giòng xóc trên mặt đường trải đá lồi
lõm, nhấp nhô.
Sài-Gòn, ngày 25 tháng 7 năm 200..
Em,
Bây giờ chị không còn là Oanh trong mắt em
như trước nữa. Ngay từ tuần đầu,
mợ Tư đã đổi tên chị là Diễm, dẫn
đi mua sắm quần áo, trang điểm và cắt tóc
tém.
Trước khi sang ở cùng phòng với
những người đồng cảnh ngộ nơi ngôi
nhà mở vũ trường, chị gặp cậu Tư
chỉ một lần duy nhất. Cậu đi công tác liên
tục. Lâu lâu về nhà đầy khách khứa, tiệc tùng
và lăn ra say xỉn. Có đêm chị làm ra tiền
nhiều hơn cả đời lao lung khó nhọc ở
dưới quê mình. Chị dấu lại một ít
để có dịp gửi về nhờ em xây mộ cho
mẹ, nhưng bị vét sạch. Mợ Tư nói
để dành lo tương lai cho chị.
Đêm nào chị cũng khóc ướt
gối. Không cách nào trốn ra khỏi chỗ này
được. Và rồi đi đâu?
Nghe tiếng điện thoại di
động của bà quản lý, mọi người
đều hồi hộp nín thở chờ gọi mã
số của mình. Có người bất cần
đời, tụ tập chơi bài, hút thuốc. Riêng
chị Phượng rất thương yêu chị, tâm
sự và an ủi chị. Chị tìm được một
ý nghĩa nào đó để sống, cho dù rất nhỏ
nhoi.
Em kiên nhẫn chờ chị. Một ngày nào
đó thoát được cảnh đời tủi
nhục này chị sẽ không quên em.
Chị thương và nhớ em nhiều
lắm.
Chị.
Tới ngã ba lộ
tẽ, xe ngừng lại đón thêm khách. Tôi lách
người bước xuống, rẽ chưn trên con
đường đất đỏ xa lạ. Hai bên co rúm,
vài quán cốc lụp xụp, phủ đầy bụi,
vắng hoe.
Tôi quay lại nhìn cái xe
đò ọp ẹp, giòng xóc uốn lượn bỏ xa
chợ Nhỏ chạy về hướng tỉnh lỵ.
Không biết có nên trở lại đón chuyến xe
chiều đi lên vùng phủ sóng hay cứ tiếp tục
đi trên ngã rẽ cho đến khi tới một nơi
nào đó ngoài vùng phủ sóng, không còn ai biết mình. Tôi
dừng lại, đắn đo.
Mặt trời lên cao,
khép bóng tôi sát với hình. Tôi nhận ra tôi và con
đường không có điểm đến. Tôi không còn
thời khoá biểu, cũng không còn lựa chọn. Tôi
tự do đi thênh thang để cảm thấy mình đã
bị đánh mất hết tự do.