NGUỒN SUỐI CẠN
Truyện ngắn của: HaiNgườiBạn
Ngày nào cũng vậy, trời vừa chớm
hừng đông, tôi mới dụi mắt, chưa tĩnh
ngủ, là má Bảy đã nhét vô tay một bọc gói
bằng lá thuốc hút lớn hơn bàn tay, võng vẹn hai nắm
cơm vắt, một trứng hột vịt luộc với
vài hột muối cục còn quến đất đen ngòm.
Là tất cả bữa ăn của tôi trong ngày để
có sức mà lang thang lùa đàn bò từ vùng nầy qua vùng
khác cho nó gặm cỏ. Hễ chỗ nào còn cỏ mọc thì
cứ trụ lại, lửng thửng đi vạch kiếm
rau rừng hay cày xới dưới đầm lầy, men
theo lạch suối bắt cá miết tới chiều
tối mới được lùa bò về.
Riết rồi cơ thể tôi như được
gắn bên trong một cái đồng hồ tự
động. Nó tự động reo trong tôi giờ nào
buồn ngủ, giờ nào thức dậy, giờ nào ăn
cơm, giờ nào mõi mệt rã rời cần lăn ra nghỉ.
Những sinh hoạt trong ngày đúng phóc. Không cần ai
nhắc nhở.
Đã đời nhứt là hẹn với
bọn thằng Phiên thằng Mẫn lùa bò cho ăn cỏ dưới
chưn suối Ông Tiên. Mà ngộ thiệt! Dòng suối không ai
biết nguồn. Một lỗ mội lớn hơn
ống tre đâm trỗ ra ngang hông một tảng đá
dựng cao nghệu trên núi, cứ ồ ạt bắn
nước ra liên hồi từ đời kiếp nào chẳng
ai biết. Nước vẹt sỏi đá, mài mòn, khoét
rảnh, chảy tràn xuống, mở rộng vùng rừng
cây cổ thụ, lấn ra gần tận mấy
đụn cát nằm dọc theo bãi biển. Vệt
nước trắng mỏng nhìn từ xa mang hình dáng con mắt
thần, sâu hoắm đầy bí ẩn. Nước vọt
ra như nước mưa, tuông đều đều từ
cái máng xối đá thiên nhiên bắt sâu vô lòng núi. Theo đà
rớt dốc, nước cứ bào láng từ từ,
mở bung sỏi đá rộng ra lúc nào không biết, lai
láng chảy vô khu rừng già cao ngọn ở đằng xa
mú mút mắt. Bỏ khu rừng một đổi, thảm
cỏ ống xanh cao, màu mạ non mấp mé duổi từ
bìa rừng, chạy bọc theo chưn núi, rút mình tránh
những cơn thủy triều có lúc hung hăng đánh
tràn qua bãi cát thoải dốc gò lưng nằm duổi dài
bất động như con cá ông khổng lồ bị mắc
cạn từ đời đời kiếp kiếp nào.
Cứ lùa bò đi ngả tắt lâu ngày
rồi cũng mở được ra lối mòn uốn éo
dưới bóng râm, băng ngang qua khu rừng, trỗ
miệng tới thảm cỏ. Cho bò ăn vét thêm vài
bữa, bọn tôi mới lùa đàn đi ăn xa hơn
để chờ cỏ nhô cao ngọn trở lại. Có khi
cho bò ăn xa suốt buổi sáng. Trưa lại lùa về
ăn cỏ nhín nhín bên bìa rừng để có bóng mát
ngả lưng nuốt bữa cơm trễ tràng. Xế
chiều, ông Ba Hòa thường dẫn Mỹ Tề, cô cháu
nội, mon men theo lối mòn nầy trở về xóm Lưới.
Ông Ba hay thở khè một hơi rồi nói ứ hự rồi mới chập hai bàn chưn trần
lét phét phủi bụi trước khi ngồi xuống lõm
cỏ bên lề đường. Mà bờ cỏ cũng
quến đầy đất cát có sạch sẽ gì đâu
nà. Nhưng ông Ba vẫn có thói quen bất hủ phủi chưn
như trước khi ngồi vô manh đệm lát dọn
bày cỗ tiệc. Thói quen của ông khiến tôi đọc
trước ra từng động tác mỗi khi ông tạm
nghỉ chưn qua đây, kể lể những mẫu
chuyện không đầu không đuôi, bất cần
bọn tôi thờ ơ ngó mong ra khung trời xa lắt ngoài
kia hay cố lắng tai nghe để thỉnh thoảng nói
vuốt đuôi vài ba tiếng cho phải phép. Có lúc ông lẩm
bẩm một mình rồi gục gặt ngó bọn tôi
tỏ vẽ hài lòng. Bọn tôi
cũng gật đầu theo chớ tình thiệt không định vị
được móc thời gian của những sự tích
nửa hư nửa thiệt vừa mới ngày hôm qua, vừa
giựt lùi thời gian xa tít từ đời kiếp Bành Tổ
nào.
Nhiều lúc tôi ngó kỹ ông, rõ thiệt là
chứng nhân của huyền thoại khó hiểu, của
tàn tro chiến tranh khốc liệt gần đây và của
thế thái nhân tình ngay tại lúc bây giờ.
Chỗ chúng tôi quây quần nằm cách xa lạch
nước chừng một cây số ngàn. Nước ở
đấy trong vắt, tuông xuống quanh năm suốt
tháng và gần như vô tận, tạo ra ngoài cái không khí mát
dịu dễ mê còn cung cấp thêm tiếng róc rách nhàn nhã an
lạc của âm thanh nước vỗ nhẹ lên ghềnh
đá trơn bong láng o.
Tại chỗ nầy, ông Ba kể lại, có
một thời máy bay dập xới banh tành té bẹ hết
trơn hết trọi. Vậy mà lớp cây nầy ngả rồi
lớp cây khác lại mọc. Mọc nhiều hơn. Nhóm người
nầy chết rồi hậu thế lại lai sinh. Lai sanh
còn nhóc hơn trước. Tử sinh, sinh tử cứ
vắt véo cày răng lược vô nhau giống như
nước suối Ông Tiên có khi tràn trề, có khi thầm
lặng vẽ một vệt mây từ Trời bò xuống,
nhỏ nhắn như thân cây mới lớn. Cứ
triền miên rửa sạch bụi trần lên sỏi
đá, rửa sạch vết hận thù tàn bạo trong lòng
người, chưa bao giờ ngừng nghỉ ngày nào. Ông
Ba nói chắc mẩm như đinh đóng cột.
‘Hồi nẳm họ quần thảo nhau quá
mạng, đánh giết nhau dữ lắm. Người ngả
như rạ. Bây giờ tới dân ở xóm Lưới nầy.
Ứ hự. Ngày nào cũng nghe ong óng tiếng chửi
rủa nhau vì mấy con nghêu bò từ bãi nầy qua bãi
nọ. Thả giống nhiều lại thu hoạch ít, để
bãi trống vậy mà có khi hốt của... Nhưng như
mấy cháu biết đó, ai mà dụ nghêu chạy qua bãi
của mình được đâu. Vậy mà cũng đánh
nhau u đầu tét trán, mới chán chớ. Tưởng sao rồi
hai bên cũng ra xách nước suối Ông Tiên, vừa
uống vừa vái van cho vết thương mau lành để
kịp mùa đi biển. Giống như hồi xưa
họ đánh nhau chí tử. Rồi thì, ai còn sống hay
bị thương cũng đều lết lại múc
nước suối Ông Tiên mà uống cho vết
thương mau kéo da non. Kẻ núp trên núi. Người
nằm dưới rừng. Hai bên có ý ngầm tạm
ngưng chiến ra suối uống nước. Ông Tiên vét nước mắt mình
cung cấp cho cả hai bên giữa mùa khô tháng hạn sông
hồ cạn queo bò còn phải rống lên vì khát.
Tuốt trên cao, nhiều thân cây còn ôm thẹo
đạn bom, nhựa rút lên ra sức vá víu lâu lắm
rồi mà sao chưa thấy lành lặn trơn tru. Có
chỗ đâm nhánh cho loài cây chùm gởi che kín quá khứ
đau thương, gượng gạo dấu đi di tích buồn nãn của một thời
tang tóc. Có thân cây vẫn phơi trần nỗi nhọc nhằng,
không cần băng bó, thâm quần theo năm tháng, ngạo
nghễ nhìn xuống bọn tôi, đồng cảm với
cuộc sống hẳm hiu đầy khổ nhọc
nhưng vẫn vươn lên sống, vẫn trẻ trung
với lá xanh trong tuổi đời già nua hơn bọn
tôi mấy kiếp. Ông Ba giở đồ nghề ra
tiếp tục gọt đẻo.
‘Nó bị miễng bom chặt đầu
hồi còn nhỏ. Nhưng có lẽ tụi con không bao
giờ để ý nó đương lớn mỗi ngày, mỗi
khắc đồng hồ. Nó vẫn còn sống ở bên
trong. Có đời nào con người thấy
được những chuyện trước mắt
đâu. Thử hỏi cửa chuồng bò nhà tụi con
đóng mấy thanh ngang, mấy thanh dọc. Lùa bò ra vô
hằng ngày nhưng tụi con có biết đâu nè. Gốc
cây nầy cũng vậy. Nó cố ngoi lên sống trong
tật nguyền. Nó câm lặng lớn theo ngày tháng
đầy hất hủi và vô tình của mọi
người. Nhưng nó đương sống và vẫn
sống.’
Ông Ba ú ớ muốn nói thêm điều gì
đó nhưng lại bỏ ngang. Ông lôi đục, búa ra gò
lại đôi vai cong mảnh của người con gái, dưới
sự điều khiển tài hoa của mấy ngón tay chai
cứng cục mịt kia, bức tượng lần hồi
nên dạng, toát ra nét trẻ trung và gánh đầy gian khổ.
Rõ thiệt ông đương thổi hồn vô gốc cây
què quặc một sức sống lẻ loi giữa
rừng lọt tót ra khỏi tầm nhìn của mọi
người. Rồi ông nghiêng người trầm trồ
đầy mãn nguyện với chính mình. Hình như ông
cũng ôm những xúc cảm lẻ loi như tượng
gỗ nầy, hất hẳn bọn tôi ra ngoài tri giác. Một
lũ chỉ có mắt lùa bò đi tìm cỏ non và
đếm coi bò còn mất. Những đôi mắt bị
kéo màn, mù lòa thẫm mỹ, đương sống mà không
thấy sự sống, càng không thấy được cái
đã chết vẫn còn sống chung quanh mình.
‘Ông Tiên là một vị thần Độc Nhãn,
bắn nước xuống chưn núi bằng mắt. Hay
tụi con kêu đó là nước mắt Ông Tiên cũng
được. Dân vùng khác uống nước giếng,
nước sông ô nhiễm nên trỗ ra đủ thứ
bịnh thập tử nhất sinh, dân làng mình cứ gánh
nước suối Ông Tiên về uống là sống dai
như đỉa, khoẻ như trâu, bách bịnh tiêu trừ.’
Rồi ông Ba bỏ nhỏ thêm vài lời gì
đó, hình như tiếng Tàu thì phải, cười banh
miệng, nhếch môi kéo hai bờ nướu trống
răng đỏ màu ghẹ luộc. Tôi rón rén đến
bươi cái gùi đặt cạnh Mỹ Tề. Vài bó
măng rừng phủ lên mình con kỳ nhông trói quặp lè
khè đe dọa. Mỹ Tề nhoài người nằm
nghiêng nghiêng trên cỏ, nón lá úp mặt. Ngực căng
phồng sức sống. Lai
quần bèo nhèo rút lên cao phơi bày bắp chưn trắng
màu măng non lấm tấm đất bụi. Mỹ Tề nằm yên rất lâu.
Bất động. Không thấy trở mình. Một
giấc ngủ hờ nhưng sâu như hang động
ăn luồn vô lòng đá núi. Thanh thản và quên đời.
Cơn gió lạc riu ríu lùa tảng lá trên cao hốt theo rung
cảm nơi tôi trải ra bạt ngàn tận bãi cỏ non
xanh mỡn ngoài xa.
‘….Trực thăng cứ xà quần, xà
quần cho tới nửa đêm. Hỏa châu nổ phụp
phẹt xé rách nền trời tối thui rồi cứ
lủng lẳng như ai treo đèn sáng trưng trên
đỉnh núi, kéo sau đuôi vệt khói ngoằn ngoèo
như có người đương nhả khói thuốc
lơ lửng giữa trời. Bò rống. Tiếng bò
rống tụi con nghe quen tai rồi hén. Trời đất
quỉ thần ơi! Trực thăng nhả đạn
liên thanh y hệt như bò rống vậy đó. Họ
đâu dám đổ quân xuống núi. Còn mấy anh du kích
cứ núp trong hốc đá chỉa súng bá đỏ bắn
lên. Đố dám ló mặt ra ngoài. Số còn lại lo
thủ súng ngựa trời chờ máy bay rớt là dập
liền. Nhưng nó cứ bay xân xẩn, hạ thấp quanh
sườn núi. Rồi lại bò rống. Nghe phát nổi da
gà. Lượm được dù trái sáng bị mắc trên
ngọn cây đem về làm mùng ngủ cả nhà cũng còn
dư chỗ. Thiệt đã đời Vân Tiên.
Thằng Phiên nằm mẹp dưới
cỏ, tay chỏi đầu dán mắt ngó ông Ba trân trân. Ông
đương thôi miên nó. Mỗi lần ông xoè bàn tay làm chiếc
trực thăng đảo đi liệng lại, nó vo
miệng trố mắt rà theo như đương lâm
trận. Mỗi lần nghe ông Ba kể chuyện xưa tích
cũ, cái nhìn của tôi vô cảnh vật bao quanh lại
được cộng thêm những hình tượng
mới lạ. Thần linh vẫn còn đằng hắng
trên cao qua tiếng sấm sét của những cơn mưa
đen kịt dội tràn, cơ hồ như muốn
đập nát núi rừng. Vong của những người
chết trẻ hắt thở trên ngọn cây, đuổi
nhau, cười đùa khi mặt trời đứng bóng, chạy
u ra biển nhồi sóng cao hơn.
Hơi thở của Ông Tiên, của người
chết, của tôi và Mỹ Tề bấu bám nhau, rào rạt
thổi thốc trên cao, nhập nhằng giữa huyền
thoại và hiện thực, giữa cái chết và sự
sống không sao phân cách được.
‘Ngày mai mẹ đổ bánh xèo. Để trưa
trưa em đem ra cho anh. Nhớ chờ em dưới
gốc cây Tim.’
Mỹ Tề vẫn nằm yên không trở
mình. Nón lá vẫn che kín mặt. Thế mà tôi cứ
tưởng em đã thiếp đi trong mỏi mệt. Tóc
xếp trên lá khô đánh thức nét đẹp của úa tàn.
Tóc và lá đương thở. Sống và chết không
nối tiếp nhau nhưng đương ôm chầm nhau
để tồn tại ở một dạng tràn trề
du dương của hơi thở và cơn gió lạc loài.
‘Anh rọng mấy con cá trắng trong bịt
ny-lông. Em nhớ mang về làm liền. Nó cũng ngộp rồi.’
Mỹ Tề vói nắm tay tôi luồn
dưới nón lá, cắn nhẹ, tôi nghe Thiên Đường
hạ xuống trần gian:
‘Anh đừng mon men theo lạch nước
bắt cá nữa nha! Đêm qua em nằm chiêm bao thấy anh
bị trợt chưn đập đầu vô đá. Máu me
đầy mặt. Cặp mắt thất thần ngó quanh
ngó quất. Rồi nước cuốn phăng anh ra
biển. Em lội theo hụt hơi mà không nắm
được tay anh. Tĩnh dậy em nhận ra mình đã
khóc từ lúc nào không hay. Có lẽ em đã khóc trong chiêm bao
thiệt nhiều. Rồi em lại tiếp tục khóc khi
vừa thức dậy, vừa sợ điềm ác mộng
đã qua, vừa mừng cuộc đời thiệt đã
có mặt. Không vỗ giấc lại được. Nằm
chờ trời sáng rồi chờ mặt trời mau
ngả bóng để sớm gặp lại anh. Em sợ anh
bị trợt chưn thiệt. Em nôn nao muốn gặp
lại anh. Em sợ mất anh. Con người ta sống lâu
mới khó chứ chết sớm thì dễ quá, chỉ cần
một nháy mắt là xong. Mất tiêu!’
Tôi nghe nước mắt Mỹ Tề
chảy ấm trên tay tôi. Và tôi gục mặt trấn an em. Bên
kia trũng cỏ, thằng Phiên bỏ đi ra coi chừng
đàn bò. Chỉ còn thằng Mẫn vắt tay gối
đầu, nằm phơi rún tư lự theo giọng nói
kéo dài lệ nhệ của ông Ba, một máy hát dĩa cũ
rích chạy được mấy vòng phải ngừng
lại thay kim và lên dây thiều cót két. Đó là lúc ông đằng hắng
lấy giọng hòa nhập hồn phách vô những ngày
cũ, đẩy lùi ra khỏi cuộc đời của
bọn tôi. Mịt mù sương khói. Xa tận đâu
đâu. Nhưng nó tô vẽ thêm ý nghĩa cho mỗi lần
nhìn vô cảnh vật bao quanh. Ngoài nét khắng khít như da
thịt với bọn tôi trong lịch sống hằng ngày,
vùng đất nầy còn là một dĩa hát bị trầy
xướt theo năm tháng nhưng lời ca luôn luôn mới
lạ. Nếu ai trong bọn tôi nghe chỏi tai thì cứ gát
chưn chữ ngũ nằm lim dim mơ nghĩ đến
chuyện khác. Một nghệ sĩ già bị đời
đào thải nhưng vẫn tha thiết muốn còn được
người nghe. Cung điệu cũ mèm nhưng ca từ vẽ
ra đầy hình tượng mới lạ tựa như
mạch suối Ông Tiên tuy ngàn đời không vét cạn
nhưng có lúc vơi, lúc đầy.
‘Một hôm tụi nó ỷ y bay xà xuống
sườn núi, vắt vẻo đậu lại trên không, chỗ
có một cụm mây đen, làm bò rống. Ai dè mấy
ổng chụm súng bá đỏ bắn lên. Một tiếng
nổ tưởng chừng như tét núi. Chiếc trực
thăng đâm đầu vô đá núi, phang mảnh vụng tứ
phương, xẹt đi rào rạo như rải trấu.
Họ túa ra reo hò thu lượm chiến lợi phẩm. Ai
dè gần sáng máy bay phản lực bất thần vẹt
trời kéo đến lẹ như tên bắn. Lớp
nả đạn. Lớp rót hoả tiễn. Đúng là
một trận đánh hai bên ngầm giao ước là không
có thương binh. Thiệt chí tử. Chết sạch. Chết
ráo. Vậy mà suối Ông Tiên vẫn chảy, vẫn mở
lòng mời gọi hai bên cùng uống. Nhưng tất cả
im rơ. Và lần đầu tiên trong đời ông
thấy Ông Tiên khóc ra máu. Mắt Ông Tiên sưng phù lên. Máu và
mũ cứ kéo thành một vệt ngoằn ngoèo chảy
tủa xuống chưn núi. . .
Bụm vốc tay lên nếm thử nghe trào mùi tanh
tửi. Vậy mà mấy ngày sau thấy êm êm, thiên hạ
vẫn mò đến đây gánh nước suối đem
về uống. Họ còn đồn uống nước
mắt máu Ông Tiên thì được trường sinh
bất tử. Trị được bá bịnh. Ông Tiên là thần
cứu nhân độ thế từ đời kiếp nào
chớ có phải mới đây đâu. Họ lại nói bên
kia núi có người đạp trúng miễng bôm chôn dưới
đất lâu ngày, bị phong đòn gánh giựt cong lưng
té xuống giường nằm chờ chết. Nghe
tiếng thùng thiếc đánh liên hồi, tiếng chó tru
lẫn với tiếng chưn người đốt
đuốc chạy la inh ỏi, dân xóm Lưới xách
nước máu Ông Tiên đến cạy miệng đổ
vô. Vậy mà mấy hôm sau thấy ông kia lành lặn, xông
xổng vác bừa cào ra ruộng muối.
Rồi ông Ba vuốt râu bật cười
hả hê một mình. Dường như ông mất khả
năng xô đẩy mọi chuyện đã qua chạy lùi
về quá khứ để làm một khoảng cách nhận
diện hay nhớ lại. Một bản ngã đương
sống trong nhị trùng. Hư hư, thiệt thiệt. Cũng
như làm gì có chuyện cây Tim. Chính tôi và Mỹ Tề
cạo vỏ khắc hai trái tim mình dưới gốc. Và
hai đứa tôi đặt tên cho nó là cây Tim. Mỗi
lần ngồi bên nhau dưới gốc cây Tim là mộng
mị đổ ập về, quên mất thời gian. Cái
đồng hồ tự động nơi tôi đột
ngột ngừng phắc lại. Hồi nãy và lát nữa
chỉ còn là bây giờ, bứng mất cột mốc
định hướng nơi hai đứa tôi. Chắc
ông Ba đương bềnh bồng như chúng tôi, lúc
đó. Chuếnh choáng như vừa nốc cạn ly
rượu mạnh của thời gian, bí tỉ say mèm quên
trời quên đất.
‘Mấy con hay tin gì chưa? Bọn lâm tặc vừa
rầm rộ kéo về đây ém quân sau hốc đá. Ở
đằng kia kìa. Đầy đủ cưa máy, xe ben và
mã tấu. Chắc có cả súng ống nữa. Nghe chúng lên
cò lắc cắc. Hôm nay
tụi con lo lùa bò về sớm đi nha. Đừng lén
phén đến gần đó lại xảy ra chuyện không
hay. Chắc tối nay tụi nó làm thịt khu rừng
nầy. Tối nhớ đóng kín cửa. Tắt đèn. Lùa bò vô chuồng nhốt kỹ. Nghe
động tĩnh đừng có dại dột chạy ra
ngoài la làng. Tụi nầy dám đổi mạng với
tất cả mọi người. Mấy tuần
trước bên xóm Ruộng Muối đã xảy ra
chuyện đổ máu rồi. Thôi, lo tóm tém gọn lại
rồi lùa bò về ngay đi tụi con! Ngày mai nhớ lùa bò
đổ lên hướng trên cho ăn vài bữa để
nghe ngóng xem sao rồi hả trở lại. Tụi nó
thường cử người canh gác không cho ai vô rừng
hết. Cà rà lại đây là đổ máu với chúng nó liền.
Thôi, tránh voi chẳng xấu mặt nào. Tụi con còn quá nhỏ,
không thể mất mạng cho chuyện chẳng đáng!’
Ông Ba bất thần hóa kiếp làm
người của hiện tại, thấy rõ nhân tình
thế thái, rờ đụng những chuyện sắp
xảy ra, kéo đôi mắt bọn tôi chưng hửng dán
lên bộ tịch quýnh quáng tội nghiệp của ông.
‘À, phải rồi. Tụi con xách can đi múc
nước suối tưới lên gốc tượng
gỗ nầy dùm ông. Lẹ lên. Tưới thiệt nhiều. Rủi mà tụi nó có phóng hoả
đốt cháy hết khu rừng nầy để phi tang
thì lửa cũng giạt ra xa để tránh nước
mắt Ông Tiên. Ông nói vậy để rồi tụi con
chống mắt lên coi. Thủy khắc Hỏa. Với
lại, đây là Thần Thủy.’
Ông Ba lại lẩm bẩm một mình. Tựa
như hồi tôi mới lưu lạc về đây ở
đợ cho má Bảy. Một hôm trời tối mịt
mới lùa đàn bò về tới nhà vì chưa quen
đường. Ông Ba và chú Bảy Phú, ba của thằng
Mẫn, đương ngồi lù lù dưới gốc
dương bàn chuyến đi biển. Thông báo rùm beng trời
sắp có bão, cấm tất cả thuyền đánh cá ra
khơi. Bỗng dưng ông Ba vụt đứng phắt lên
vung hai tay ra sau, phủi đít bành bạch, hít thở khí
trời lặng thinh không thấy rớt một miếng
gió làm điềm. Vậy mà ông nói chắc nịch:
‘Bão lớn lắm. Nhưng gần tới
bờ nó đổi hướng thổi tạt lên phía
Đông Bắc. Cháu cứ lén đâm tàu ra khơi lúc giờ
Ngọ rồi xả hết tốc độ chạy
về hướng Tây Nam. Lúc đó chỉ có một mình tàu
cháu, vét khẳm cá ngừ đại dương quay về
là hốt bạc.’
Lần đó hốt bạc thiệt. Cha
của Mỹ Tề làm công trên tàu đánh cá của chú
Bảy Phú nên em xin tiền lén đi xe đò ra chợ mua cho
tôi hai bộ đồ để dành ăn Tết. Quần
áo còn thơm phức chưa kịp mặc Tết thì chú
Bảy Phú ra khơi chuyến kế tiếp. Mùa nầy sao
bão cứ thổi ập tới liên miên. Hết cơn
nầy quây qua cơn khác phá. Cũng là ông Ba. Ông nheo mắt
đọc ráng trời rồi vỗ tay nghe cái đét.
‘Phen nầy chắc chắn giàu to. Gió mà
thổi tới đó là hết đà rồi. Nghe đài
gọi vô bờ thì cháu cứ chạy rề rề lanh quanh
đâu đó vét xong mẽ cá rồi hả về. Trúng
đậm lắm nghe!’
Lần nầy không ai sống sót trở
về. Mấy tuần liền, Mỹ Tề úp mặt vô
vai tôi dưới gốc cây Tim khóc khàn giọng. Đêm nào
nằm mơ em cũng
thấy nước minh mong và xác chết trôi lềnh.
Giờ đây tụi tôi lại hối hả
chạy băng rừng khá xa để chữa cháy cho
một tượng gỗ chưa hề phát hoả.
‘Hãy cứ tưởng tượng như
tụi mình đi xách nước tắm cho cô gái sống
giữa rừng lâu ngày vậy đó. Tưởng tượng
như vậy thì thấy khỏe ru.’
Thằng Phiên cứ pha trò, tụi tôi hè nhau
cười lên cho đỡ mệt. Rồi cuối cùng
cũng xong chuyện. Bọn tôi chạy đi lo lùa bò
về, bỏ lại ông Ba ngồi sụp người mân
mê bức tượng bán thân quạnh hiu giữa rừng. Tuồng
như ông sắp chết bên cạnh người con gái
bất tử.
Đêm hôm đó lâm tặc không kịp đốt
rừng. Lâm tặc chỉ kịp cưa toàn bộ những
cây cổ thụ rồi tẩu tán gọn gàng, mau chóng trước
khi bửng mắt. Sáng ngày, bọn tôi vẫn chầm
chậm lùa bò theo đường cũ. Khu rừng mà tôi
cứ tưởng mênh mông bạt ngàn giờ đây chỉ
còn là một mảnh đất nằm co rúm lại với
mớ cây non lưa thưa giang tay ra đỡ những cành
nhánh bị chặt khúc máng vắt vẻo trên cao.
Bọn tôi hết sức kinh ngạc
đứng ngó dòng suối cạn. Nước bỗng
dưng ngừng chảy như có ai đứng trên cao
chậm nước mắt cho Ông Tiên nhưng không buông tay ra,
bưng bít luôn dòng nước mắt. Không phải
nước thu hẹp dòng chảy vào mùa khô như mọi
khi mà rõ ràng ngừng chảy thiệt sự. Không còn tới
một giọt nhỏ tráng đáy lòng suối đương
phơi sỏi đá kho trắng. Bây giờ đây hình
như Ông Tiên mới khóc hết nước mắt. Lần
đầu tiên Mỹ Tề và tôi mới thấy ông Ba
đứng thút thít, nghẹn ngào rồi đột ngột
gào thét lên từng lúc từng lúc như đứa nhỏ
mới lớn thất tình đậm. Chúng tôi không sao
ngăn lại được nỗi đau đương
cuộn trào vọt bắn ra từ toàn thân run rẩy lật
bật rồi ngả sụm xuống đất như
thân cây cổ thụ vô tri không còn phản xạ nấm níu
kia. Mỹ Tề và tôi cố sức lắm mới
đỡ ông ngồi dậy được. Ông khoác tay ra
dấu biểu chúng tôi đi đi, hãy để ông
ngồi một mình với yên lặng.
Tôi kéo Mỹ Tề đi về hướng
cây Tim. Họ cũng đã cưa mất thân cây kỹ niệm
của hai đứa rồi, chỉ còn trơ lại
gốc vẫn gân guốt chạy rễ bám chặt cả
một vuông đất rộng.
Chúng tôi ngồi lọt tỏm giữa hai sóng rễ
che chắn như hai tay vịn của một cái ngai cao sang.
Mỹ Tề vẹt vài cành lá gảy, chà mạnh lòng bàn tay
lên hai trái tim vẫn còn in sắc nét rạo rực trên thân
cây. Rồi em níu rịt vai tôi
ngồi sát lại nhau hơn, mơ hồ như sợ
vết cưa nào đó bất chợt đoạn lìa không
thương xót. Mỹ Tề nũng nịu nhìn tôi mĩm
cười. Tôi vụng về và ngu muội không đoán ra ý
nghĩa nụ cười đó trong tim em. Tôi gỡ tay
đẩy nhẹ em ra lúc nghe tiếng chưn ông Ba quét
lạo xạo trên lớp đất lót đầy lá
chết xanh gảy dập. Mỹ Tề bẻn lẻn
vội úp mặt vô gốc cây. Ông Ba ngó tôi đăm
đăm. Tôi đương chờ đợi một
lời quở trách nghiêm khắc. Nhưng không phải. Tầm
mắt ông đương xoáy vô Mỹ Tề. Tôi muốn nói
lời trần tình nhưng môi miệng tê cứng lại không
mở ra được, chỉ còn cái chưn gượng
gạo sủi đất che bớt tẽn tò. Rồi ông
buông tiếng ứ hự
quen thuộc trước khi đánh chưn lẹt phẹt
phủi bụi sửa soạn ngồi phệt xuống
lớp lá tươi nát.
‘Các cháu đâu bao giờ nhìn ra những gì đương
có trước mặt mình há. Đâu bao giờ nhìn ra cái
chết vẫn còn đương sống. Như gốc
cây nầy nó vẫn sống và khao khát được
sống. Từ xa, ông đã nhận ra nó là con mắt. Ngày
mai ông sẽ bắt đầu gọt đẽo nó thành mắt
Ông Tiên để Ông Tiên tha hồ ngắm nhìn những cây
non từng ngày một nhích lên nhích lên cao, lớn thành
những cây cổ thụ như từng từng lớp lớp
trước. Ông Tiên đã nuôi những cây do bọn lâm tặc
cưa đi bằng nước mắt của chính mình. Và
bây giờ cũng chính Ông Tiên tha thiết muốn nhìn thấy
những cây chết hồi sinh. Mấy cháu biết đó,
tha thiết còn hơn con người vốn hờ hững
vô tâm và bội bạc với thiên nhiên cung dưỡng.
HaiNgườiBạn
(Sàigòn-Sàigòn
04-07)