Đám Cháy Đầu Xuân
Võ Phước Hiếu
Bà Bảy Nở vội kéo hai vạt áo
dài, buộc tréo phía trước lưng quần, miệng
rang rảng vọng xuống hướng bến sông.
Nơi đầu bến có cái cầu vó, cất bằng
thân cây mù u già chắc thịt, thêm tiện nghi nhờ có mái
lợp với chỏng tre dùng để ngã lưng đêm
hôm tăm tối:
- Bún! Bún!
Chiếc xuồng ba lá đổi bún quày
quả chĩa thẳng hướng bến sông. Thím Chín Tý
lanh tay, ghịt mũi xuồng vào chân cầu vó.
Thím nói như có ý trách vu vơ:
- Nước rặc quá! Bến cạn
queo. Nghe rồi chị Bảy. Tui neo ghe ở cầu vó
đây. Chị cảm phiền chịu khó xuống bến
nghe!
Chẳng mấy chốc, bà Bảy Nở
đã đối diện xuồng bún. Tay bà cầm cái
rổ quảo có lót một mớ lá chuối xanh um
mướt mượt. Trước đó không lâu, bà
vừa đi vừa rọc vội vàng trên đường
xuống bến:
- Hôm nay ăn mấy vậy thím? Lúa
của tôi kỳ này là nàng hương thơm ngon chớ
không phải loại sóc nâu, nàng phệt hay nàng quớt
như mấy lần trước đâu.
- Nàng hương sạch, tui đổi
hai quảo rưỡi. Quảo lum lúp. Còn sóc nâu, nàng
phệt, nàng quớt… phải ba quảo gạt mặt.
Thím Chín Tý độ non bốn mươi
tuổi. Nhà ở cheo chéo đình làng, có bến nước
công cộng với một cầu ván lâu đời láng o.
Nước lớn ngập khỏi chân cầu, nuốt trọn
tấm ván, chỉ còn lé đé đoạn kê trên bờ.
Nhưng lúc nước rặc ròng như
hôm nay, chảy mạnh như cắt, tấm ván cầu chúi
nhủi thòng xuống lòng sông cả đôi ba thước
tây, giúp người qua đò không phải lội sình,
lấm lem lúc bước lên bờ. Những lúc này, phải
tuyệt đối thận trọng, chú ý từng
bước đi. Tấm ván cầu trơn chùi đó do
bụi bùn non bám vào càng trơn như thoa dầu trét mỡ.
Không khéo, khách trợt chân nhào xuống sông như trở bàn
tay.
Nhờ ở sát bến nước công
cộng, có con đò nhỏ đưa rước khách
bộ hành, người qua kẻ lại tuy không tấp
nập rộn rịp nhưng chẳng ngày nào vắng bóng.
Ngoài công việc đồng áng phụ giúp chú Chín ngày mùa,
thím còn có cái nghề tay trái, bổ sung phần thu nhập
gia đình nơi vùng khẩn hoang lập ấp, lúc nào
cũng cần một số vốn tối thiểu
để chịu đựng đường dài.
Đất khẩn hoang, một hai mùa
đầu, đôi khi cả ba bốn mùa tiếp nối là
khác, đã vất vả khổ cực trần thân nhưng
đất mới còn ráo hổi nào có huê lợi chi đáng
kể. Mùa màn èo uộc. May mắn lắm mới đủ
ăn.
Thím nghĩ ra một cách giúp chồng khá
độc đáo. Thím xay gạo làm bún rồi đem
đổi lấy lúa kiếm chút lời. Cứ đôi ba
ngày đổi một lần. Riết rồi bà con tôi
thuộc lòng ngày nào lò bún của thím hoạt động.
Công việc cũng đăng đăng
đê đê liền tay. Xay lúa, giả gạo, tẻ
bột, giáo trùng, đổ bún... May nhờ có mấy cô cháu
chồng, tuổi vừa cập kê, tận tình tận
lực giúp một tay nên bà con trong xóm có bún ăn
thường xuyên.
Bún đổ xong từ hừng đông
được thím Chín bươn bả chất lên
chiếc xuồng ba lá, bơi dọc theo sông rạch, kinh
đào, từ ấp này qua ấp kia rao lanh lảnh gọi
mời:
- Đổi bún! Đổi bún!
Lò bún của thím Chín Tý rất đơn
sơ do hoàn cảnh phương tiện thiếu thốn
nơi vùng đất mới khẩn hoang. Mỗi lần
thím đổ không nhiều. Chỉ ngam ngám vừa
đủ nhu cầu tính theo đầu nhân mạng trong xóm
có thói quen đổi bún. Thím còn canh theo thời tiết mùa
màn hoặc lễ lộc, Tết nhứt. Có thiếu
cũng tốt. Nhưng tuyệt đối không cho dư.
Ế ẩm, lỗ vốn.
Bộ ván ngựa được tách đôi,
kẹp chặt khuôn bún với cần ép bằng lỏi cây
dẹt rắng chắc mà bọn róng mắc, lục lăn
lục lửa chúng tôi hay nhảy thót lên ngồi ép bún
hụ hợ với mấy anh chị lớn. Có
đứa quen thói trửng giỡn phá phách cứ đánh
đu lúc la lúc lắc khiến thím Chín la ó không ngớt
miệng.
Dưới bộ ván ngựa có nồi
nước to bình rỉnh, nám khói đen xì. Lửa củi
phừng phực, nước sôi bùng, khói nóng quyện
cuồn cuộn. Mặt mày thím thường xuyên
tươm lấm tấm mồ hôi hột cứ quyện
vào nhau nhỏ giọt xuống sàn đất nhưng
dường như thím không bao giờ để ý
đến.
Mỗi quảo bún được
đổi lấy mấy quảo lúa tùy theo lúa tốt
xấu, mới cũ, sạch dơ và cũng tùy theo sự
kỳ kèo mà cả của bà con. Bún của thím Chín trắng
ngần, mềm nhủn lại dai nên bà con rất ưa
thích. Nhờ cái nghề đổi bún
này, thím Chín đỡ vất vả so với bà con
lối xóm, dầm sương dãi nắng quanh năm
suốt tháng ngoài đồng không mông quạnh.
Bà Bảy Nở và thím Chín Tý trao
đổi thêm bớt một đỗi rồi sau cùng
cũng đồng ý với nhau về tỷ lệ bún và
lúa. Cả hai đều tỏ ra bằng lòng ưng ý
lắm qua những nụ cười giã từ níu kéo,
niềm nở cảm thông.
Chiếc xuồng thím Chín vừa trở
mũi tách khỏi cầu vó, bà Bảy Nở băng
tắt qua liếp mía huyết, khom lưng dưới giàn
bầu lòng thòng đôi ba chục trái lớn nhỏ
đủ cỡ. Có trái được gióng bằng một
vỉ tre, ghịt lên giàn để trái nặng không làm
đứt dây bầu cái.
Bà hối hả đổ bún vào rá, treo
lủng lẳng ở trần mái hiên nhà, đậy
đượm cẩn thận. Chó treo mèo đậy mà! Ông
bà xưa cảnh giác đề phòng nhưng thực tế
không sai chút nào.
Chiều nay cả gia đình bà có dịp
cùng quây quần ngồi chung nhau nơi một mâm cơm
ấm cúng, hạnh phúc và sẽ thỏa thê với bún
nước mắm tỏi ớt. Loại nước
mắm này lấp lánh những miếng ớt hiểm cay thấu
mây xanh, vừa xanh mơn mởn vừa đỏ au, to
nhỏ không đều, nổi lềnh bềnh hấp
dẫn nhãn quan. Bún ráo hổi, thơm ngon lại
được trộn với mỡ hành hương,
dậm thêm một ít tép mỡ gáy dòn rụm, ăn lúc
đói sau ngày dài làm lụng cực nhọc thấy
đời lên hương vô bờ bến.
Trong xóm, khi nói đến bún ngon là biết
ngay bún của thím Chín Tý. Hôm nào đau ốm ể mình, thím
đóng cửa lò bún, bà con phải gởi mua bún ở
chợ quận. Đường nước xa xôi cả
ngày cả buổi, bún để lâu lạnh ngắt,
đóng thành về, không sao so bì được.
Cái tên Chín Tý đã gắn liền với
lò bún quê hương tôi từ bao thập niên nay. Và cái tên
Chín Tý cũng đã đảm bảo phẩm chất bún
Rạch Rít, không cần phải dựng bảng hiệu
để giới thiệu hay quảng cáo lăng nhăng
phiền hà.
Chỉ cần cái tên Chín Tý là có sự tín
nhiệm của bà con tôi rồi. Họ lấy cái tên cúng
cơm cha mẹ đặt hay tục danh làng xóm gán cho
để đảm bảo uy
tín mình. Bún
thím Chín Tý cũng như ba xi đế ông
Bảy Sô, cối xay lúa của chú Bảy Cối... đã
đi vào huyền thoại trong sinh hoạt và sự phát
triển làm nên một thời của xóm tôi.
Bà Bảy Nở cất bún xong, têm
miếng trầu bỏ vào miệng nhai rào rạo ngon lành.
Bà đến giá áo, kéo cái khăn rằn choàng vai, đoạn
bước chéo ra hiên vói lấy nón lá cũ bạt màu,
bươn bả phóng nhanh ra hướng đầu ngõ.
Ông Bảy trước khi đi thăm
ruộng đã căn dặn bà đôi ba lần:
- Bà nhớ đánh một vòng xóm trên xóm
dưới, báo cho bà con biết rằm tới mình làm heo
chia thịt. Bà con nào muốn chia, đến chia.
Ông Bảy lại nhắc thêm:
- Bà nhớ đừng bỏ sót một
ai. Bà con đều là bà con cả. Không có ai trọng ai khinh.
Kỳ rồi mình sơ ý bỏ sót thằng Mười
Tống. Nó là em út dễ thương lại biết
điều nhưng để sót nó, tôi buồn và ngại
quá. Gặp nó tôi ngường ngượng làm sao! Nó nghèo
thật đó. Nghèo tiền, nghèo bạc nhưng không nghèo
nhân nghĩa. Xóm mình mấy ai lạ gì nó. Tôi chỉ sợ
nó hiểu lầm mình khinh dễ nó, bộ mình sợ nó không
tiền chia thịt sao mà không báo nó biết.
Từ dạo xóm Rạch Rít của tôi phát
triển sung túc, bà con an cư lạc nghiệp, phất lên
mau vùng vụt. Họ thoải mái thảnh thơi trong
cuộc sống hằng ngày. Nhà ba gian hai chái lợp ngói âm
dương đỏ au, chen lẫn với những nhà lá
vách bổ kho, nền cao cửa rộng, cùng lẫm
trại thênh thang dọc ngang ngang dọc.
Ngoài cháo rau cá tép, mắm muối ngày
xưa, thuở những năm đầu khẩn rừng
lấn vũng quần quật đêm ngày, bây giờ đã
là quá khứ. Nay trong mỗi bữa cơm thường
nhựt hầu như bà con đều có thêm thịt thà và
cả niềm vui nữa. Thường nhất là thịt
heo nhưng thỉnh thoảng ông Bảy Nở cũng
mổ bò giết trâu.
Những lần chia thịt này rậm
đám lắm. Kẻ nấu nước. Người
cạo lông, ra thịt. Nói cười inh ỏi, vui nhộn
cả góc vườn.
Họ lẩn quẩn ở mé
mương, được lót bằng tàu dừa
tươi xanh với những tàu lá chuối hột to
lớn. Con heo khá to vừa cạo lông xong, sạch sẻ
trắng phao, được treo tòn ten thòng đầu
ở nhánh ổi xá lị.
Ông Bảy Nở chìa cái nia có lót lá
chuối cẩn thận rồi ra lịnh cho Tư Ty
chịu trách nhiệm ra thịt kỳ này:
- Thằng
Tư! Mầy nhớ
cắt cái thủ vĩ rồi bảo
bầy trẻ làm lông cho thật sạch. Thêm bộ
đồ lòng nữa. Đừng để thiếu coi
không được à. Tao đã hứa từ mấy
tuần trước dành cho anh Hương thân Bưởi
để ảnh làm lễ cúng căn cho thằng cháu
nội đích tôn của ảnh. Cái nia của ảnh
đây nè. Xong, nhớ bảo bầy trẻ quảy qua cho
ảnh.
Tư Ty chọn con dao bén ngót nó ưng ý
nhứt, te te đi thẳng một mạch đến
miệng lu vú kê sát hè nhà. Anh lanh tay liếc qua liếc
lại nhiều lần cho dao bén thêm. Trông cử chỉ
cũng điêu luyện lắm.
Anh day qua nói với giọng khẳng
định:
- Chú Bảy đừng lo. Tôi nhớ mà. Quên
làm sao được. Tôi còn trẻ mà chú.
Lần xẻ thịt này vắng mặt
chú Bảy Cối, chuyên viên sành sõi của xóm tôi nên thằng
Tư Ty mới có dịp được chọn thay
thế. Dù đã chuẩn bị kỹ nhưng nó loay hoay
xoay trở vụng về thế nào khiến ông Bảy
Nở bực mình xăng tay áo, chê nó rậm rề:
- Tư ơi là Tư! Mầy ra thịt kiểu này,
đã mất thịt mà trông chẳng thấy thèm ăn chút
nào cả. Thôi đưa con dao cho tao. Cái
thằng chẳng phải
hạng làm biếng làm nhác chảy thây. Nhưng
nảy giờ tao thấy mầy làm bằng tay trái, tao
ngứa con mắt quá! Quả thực thiên hạ nói không
sai: “tay trái bóp dái không đau” mà. Tao nói mầy đừng
buồn nghe Tư. “Không có chó bắt mèo ăn cứt” làm sao
vừa ý được?!
- Chị Hai đưa rổ chị
đây. Hai kí ba chỉ phải không?
- Phải đó anh Bảy. Thêm cho tôi cái giò
sau, một khúc xương mông với cái đuôi về
hầm măng Mạnh Tông.
- Cảm phiền nhe chị Hai. Cái đuôi
không thể được. Anh Hương thân đã
dặn rồi cho đủ bộ để cúng căn
thằng cháu nội ảnh. Cái nia của ảnh kia kìa.
Chị thấy đó, bầy trẻ làm lông chắc cũng
gần xong. Chị lấy đỡ mấy cái khu lẳng
được không? Nói khu lẳng nhưng tôi ra nới tay
lắm, thịt thà còn hiếm. Chị thử lần này
đi. Lần sau chưa chắc có.
- Tất cả bao nhiêu tiền vậy anh
Bảy?
Ông Bảy Nở đưa tay vuốt
mồ hôi trán, chép miệng:
- Thì chị Hai đem về nhà
trước đi. Đăng đăng đê đê quá,
tính toán gì kham. Cứ lấy đi, thủng thẳng vài ngày
tôi quởn quởn sẽ qua tính sau. Bà con mà, mất mát
ở đâu?! Bộ nhiều nhỏi lắm sao chị?
Bà Hai Khánh
quày quả bưng rổ thịt, miệng rổ như
dính khắc bên hông, thong dong đi ra ngõ trong khi ông Bảy
Nở lấy ra tấm giấy lịch, có ghi bút chì
ngoằn ngoèo:
- Tư à! Mầy nhớ nhắc tao
kẻo tao lu bu để sót mếch lòng. Coi chừng
đừng quên cái nồi gọ, 3 kí 4 kí thêm bớt chút ít
cũng được. Phần của bác Sáu Ngởi
đặt cọc trước, căn dặn đôi
lần ba lượt, tao sợ quên nên ghi làm tin đây.
Đám giỗ đó, bây biết không? Quên là đến ngày
đó mình tren quẻn. Chắc tao phải bỏ xứ này
trốn đi tìm nơi khác làm ăn. Mặt mũi nào dám
nhìn ảnh.
Một đỗi sau, ông Bảy Nở
bấm từng đốt tay, chú ý kiểm tra từng
người một trong xóm rồi thở phào ra chiều
đắc ý:
- Tao duyệt kỹ rồi. Hầu như
đầy đủ cả. Thằng Mười Tống
cũng có chén huyết với non một kí thịt nọng.
Tội nghiệp! Nó nghèo bẩn chật. Dường
như bây có cắt thêm cho nó một chéo hông xôi thì phải.
Bây làm tao coi được đến. Thây nó! Mình rộng rãi
cho nó vui. Mà thật tình nó đâu có đòi hỏi gì mình!
Ông tiếp:
- Kỳ rồi mình quên phức nó. Nó
cũng chẳng nói gì. Nhưng khi gặp lại nó, tao ái nái
quá trời. Mình sống với nhau vì tình vì nghĩa chớ
có trọng khinh ai đâu. Hôm nay kể như xí xóa với
nhau và tao mới nhẹ nhỏm, thơi thới trong lòng,
xem như vơi phần nào bầu tâm sự.
Cái nồi cháo lòng bắt trên ba thỏi
đá xanh giữa sân phơi lúa trước nhà đang sôi
bùm bụp bùm bụp... Mỡ heo óng ánh trên mặt làm thành
một lớp dầy cui lềnh bềnh. Mấy miếng
thịt vụng được Tư Ty thả vào nồi
từ lúc bắt đầu ra thịt, lặn hụp trôi
lêu bêu.
Ba mớ thịt xà bần, loại
thịt và mỡ thập cẩm lớn bằng nắm tay
trở xuống, loại thịt tạp nhạp không
thể chia cho ai, được Năm Lịch xắt
nhỏ. Xong anh ướp xả ớt, củ hành
hương, tiêu hột, đường muối, thêm ít lá
chanh non thái nhuyễn, hòa với ruột non thố linh
bầm, dồn thành mấy xâu
dồi no phồng cả thước tây cũng được
thả gọn vào nồi cháo. Cả ban tổ chức
sẽ say sưa la liệt đêm nay.
Thím Bảy Nở đẩy củi vào lò
xong, gánh hai thúng thịt được buộc thành xâu
đem giao tận nhà bà con bận bịu đồng áng hay
đơn chiếc không đến được. Lúc
đi ngang nhà Tám Thôi, anh đang vỡ vồng khoai mỡ,
thím đánh tiếng:
- Chú Tám vẫn chưa qua lấy thịt.
Sao còn ở đó? Bà con ở bển sắp xong hết
rồi.
- Cám ơn chị Bảy có lòng
tưởng nhớ nhắc nhở thằng em. Mấy hôm
nay tôi bận quá trời nhưng chị an tâm. Tôi đã
nhờ thằng Tư Ty mang về giùm phần thịt
của tôi chiều nay. Mà cũng chẳng có gì nhiều.
Lấy tay vuốt mồ hôi trán, anh
tiếp:
- À lượt về, chị nhớ ghé
lấy vài củ khoai mỡ về ăn. Năm nay tôi
thả mấy vồng trúng mưa trúng nắng. Củ nào
củ nấy to bằng đầu gối người
lớn. Đã chắc thịt, dầy cơm mà chẳng có
sâu sùng chi cả.
Anh còn nói vói theo:
- Chị nhớ nhé chị Bảy.
* * *
Bà tôi cầm cái đèn dầu trứng
vịt để ở đầu giường, vén mùng chun
vào, cẩn thận ém đi ém lại rất kỹ.
Muỗi mòng ở xóm Rạch Rít của tôi cũng như
những nơi khẩn hoang lập ấp khác nhun nhúc, vo ve
ngày đêm như trẩy hội.
Bà nhè nhẹ thò tay ra ngoài, phất tay liên
tiếp mấy cái mạnh để tắt đèn. Tim
đèn hãy còn đỏ ửng, từ từ uốn thành
vòng cung rồi lịm dần trong u tối.
Cử chỉ quen thuộc đó, bà tôi
đã làm từ hơn nửa thế kỷ nay. Một
cử chỉ sản khoái toại nguyện vì bà tỏ ra
sung sướng đã kết thúc một ngày làm lụng
không ngừng tay, đón đợi giấc ngủ an
tịnh trong lành.
Bên ngoài vắng vẻ tĩnh mịch
như thường lệ. Nhạc bản ngàn đời
của côn trùng ếch nhái bắt đầu trổi lên dai
dẳng buồn tênh, ru giấc ngủ ông bà tôi thêm nồng
nàn say đắm. Vài tiếng chim ăn đêm quá quen tai
chập chập vút lên đâu đó bên liếp mía, vồng
khoai, ngoài vườn cau vườn dừa, cũng không
thể phá giấc ngủ vùi đó, chuẩn bị sức
lực cho ngày mai đón đợi.
Bỗng cặp chó Mực, chó Mốc
của ông bà tôi cất tiếng sủa thúc bách lắm. Chúng
nó hùa nhau sủa càng lúc càng thêm hậm hực. Khi nhảy ào
tới ngừ ngừ to tiếng như ở tư thế
đối đầu tấn công, khi khịt khịt
sợ hãi như muốn thối lui cầu cứu bên trong.
Ông tôi khẽ thức. Tuổi già đêm
đêm khó ngủ. Đêm nào ngủ đuợc khoảng
bốn năm tiếng đồng hồ, ông cho là ngon
giấc. Ông biết ngay có động tịnh. Nhanh như
chớp, ông choàng phóc dậy xem xét tình hình.
Bà tôi cũng vừa giựt mình, vói tay
lấy ống quẹt để ở đầu
giường. Bà định đốt đèn để
dễ quan sát. Ông tôi suỵt nhỏ vừa đủ nghe,
ra dấu cản ngăn.
Thình lình con chó Mực bị một đòn
độc hiểm kêu ăng ẳng thiểu não vang trong
đêm vắng. Dù đau đớn, nó vẫn hùa với con
Mốc tiếp tục sủa về hướng sát hàng ba
nhà.
Có tiếng chân người đi thình
thịch vội vã bên ngoài. Ông tôi đoan quyết có tai
biến. Ông lanh chân đến sát cửa sổ, nhìn xuyên qua
mấy lá sách. Trăng non còn lu lúc đầu hôm, nhưng ông
tôi cũng dễ dàng nhận định:
- Cướp! Cướp! Tôi đếm
kỹ chúng nó ít lắm cũng năm sáu đứa với
dao mác, gậy gộc. Bà vào buồng tìm nơi ẩn
trốn với đám nhỏ. Để mình tôi ngoài nầy
ứng phó.
Bà tôi chưa kịp quay gót, ông tôi đã phi
thân nhanh như gió, giống như những nhân vật
huyền sử huyền thoại trong bộ truyện
chương hồi Phong Thần của Tàu. Ông âm thầm
biến dạng trong u tối đêm đen khiến cho bà
tôi thêm âu lo sợ hãi.
Ở ngoài hàng ba và chái hiên, cửa cái
cửa hông bắt đầu bị bọn cướp chia
nhau đập phá ầm ầm, dồn dập khẩn
trương lắm. Mấy khuôn ảnh, ông bà tôi chụp
chung nhau lúc còn thanh xuân cùng hình ông bà cố tôi treo trên vách
trang trí lâu ngày, bị động mạnh sút đinh
đứt giây, rớt xuống nền gạch, kiếng
bể rổn rảng. Bà tôi càng thêm hồn phi phách tán. Bà
bắt đầu chắp tay lâm râm cần nguyện.
Tiếng lao xao giục giã thúc hối nhau
bên ngoài, nghe tiếng được tiếng không, chen
lẫn tiếng sủa của hai con chó Mực và Mốc
vẫn tiếp tục làm phận sự. Mấy cái song
hồng gài cửa bị nện mạnh liên hồi cọ
vào cột nghe lập cập lập cập… như run
rẩy trước bạo lực. Cửa trước
bị đập, bị dọng nhưng chưa hề
hấn.
Nhà ông tôi rất chắc chắn. Nơi
khỉ ho cò gáy xa xôi cách trở, quyền lực cách ngăn
vời vợi nên ông tôi chuẩn bị phòng vệ kỹ
càng từ lâu. Ông lo xa đối phó tai biến do bọn
lưu manh đàng điếm, lòng tham không đáy,
chực chờ chém giết, khủng bố người dân
lương thiện, khảo tra cướp của. Song
hồng dọc. Song hồng ngang. Tầng trên, tầng dưới
dầy cui. Cửa nẻo bằng ván gỗ chắc
nịch.
Thuở nhỏ, cứ chiều chiều,
tôi hay lẻo đẻo theo ông
tôi đóng cửa.
Hết cái nầy đến cái kia. Mỗi
lần gài song hồng xong, ông còn rà tới rà lui xem nó ngám
chưa?
Nhà ngói ba gian hai chái, cửa trước
cửa sau, cửa cái cửa sổ khoản khoát nên đóng
cửa xong, đốt nhang cắm lên dãy bàn thờ ba
bốn cái, trèo lên trang gióng chuông, thắp hương trong thế giới
tĩnh lặng như đong quánh lại, cũng phải
mất một thời gian dài. Thường cứ chạng
vạng tối, ông tôi đã làm xong an toàn cả. Ông có ý
thức cảnh giác và thận trọng lắm.
Cướp càng hung hãn.
Bên trong bà tôi đâm lo, hiệp cùng
người ăn kẻ ở trong nhà bắt đầu la
ó kêu cứu inh ỏi, đập thùng thiếc ầm
ầm, vang vọng chát chúa trong đêm. Dọng cửa
trước không xong, cướp chuyển ra phía sau. Chúng
dùng búa bửa cửa, cũng ì đùng, cũng bóp chát
rờn rợn. Lại thêm tiếng quát tháo hăm dọa
vọng ngược vào nhà. Bên trong vẫn ở tư
thế ứng phó, sợ hãi.
Chập
chập, bà tôi ngồi bệt nơi kẹt vách, lần
chuỗi hột, miệng tiếp tục lâm râm khấn vái
Phật Trời, các đấng khuất mày khuất
mặt hộ trì cho sớm tai qua nạn khỏi. Bà
lắng tai nghe phía trước đã im tiếng hẳn và
phía sau đang bị tấn công dồn dập nhưng bà
tỏ ra an tâm hơn. Dù cửa sau có bị phá vỡ,
cướp còn phải vượt qua một giàn cửa
ăn thông lên nhà trên nữa.
Bên ngoài đã có tiếng mõ hồi một
vang vang. Lúc đầu rời rạc ở đầu xóm.
Dần dần có tiếng cốc cốc, cốc cốc…
sát bên nhà. Chừng một đỗi sau, mõ rợp trời.
Đầu trên xóm dưới không ngưng, rền tai. Có
tiếng kêu gọi nhau dồn dập xa xa.
Loại mõ này làm bằng rễ tre già,
được đục đẽo khéo léo láng nhẵn, to
bằng bắp chân, cong cong ở hai đầu. Ruột
được khoét rỗng. Tiếng thanh tre đánh vào mõ,
dội khoảng trống nghe vừa to vừa thanh.
Nhưng
cái mõ to
tiếng nhất là cái mõ ở
đình làng. Nó lớn cả hai tay thanh niên lực
lưỡng ôm chặp lại, dài hơn thước tây.
Thường xuyên nó được đặt trên cái giá cây
với cặp dùi bằng cườm tay người
lớn. Bà tôi tỏ ra an tâm hơn với tiếng mõ
hồi một đó.
Bọn cướp dường như nao
núng nên việc đập cửa, dọng vách có mòi lơi
hơn trước nhiều. Chúng nó cãi cọ nhau, chỉ
trích chê trách nhau, chưởi thề với những ngôn
từ tục tằn, bẩn thỉu xa lạ vang rân ngoài
sân, mà bà con tôi vốn mộc mạc chất phác, chí thú làm
ăn với mồ hôi nước mắt ít khi nghe lọt
tai.
Một
tiếng súng nổ đoành, xé tan màn đêm làm cho
lũ chim chóc giật mình thức giấc, kêu lên vài
tiếng ngơ ngác hoảng hốt. Bị động quá
sớm do sự đoàn kết nhất trí của bà con trong
xóm quyết tâm chống bọn bất lương
cướp của giết người và chán nãn
trước viễn ảnh thất bại chua cay không tránh
khỏi, bọn cướp giục nhau thu dọn
đồ nghề, chém vè chuồn nhanh.
Bà tôi nghe rõ ràng giọng thúc hối của
chúng và tiếng chân người hấp tấp ngoài vách
nhỏ dần, nhỏ dần… Trong khi hai con Mực và
Mốc bị chúng đập mấy hèo chí tử, thấm
đòn chui trốn nơi nào không biết, im hơi lặng
tiếng.
Số là ông tôi rất nhanh trí. Thêm bản
tính tự vệ bao phen trước đây đã giúp ông tôi
vượt hiểm thêm lần này nữa. Khi nhận
định có cướp, ông trổ lên nóc, tuột gọn
theo máng xối hiên nhà sau, thòng chân nhảy nhẹ nhàng
gọn gàng trên nắp hàng lu vú, vừa cao vừa chắc
chắn. Ông thoát thân ra ngoài báo động bà con chòm xóm nên
mới có phản ứng đồng loạt mõ hồi
một làm cho bọn cướp núng thế. Đến khi
Hương quản Quan bắn một phát súng hai nòng kể
như dứt điểm. Cướp đành bườm
ấm ức.
Ông tôi, con người từng trải,
lưu lạc nhiều nơi, lăn lóc chốn phiêu lưu giang hồ
trước khi trụ hình trụ bộ đến xóm
Rạch Rít khẩn đất hoang. Ông thành công lên vồng
lên liếp thành khoảnh với đìa rộng mương
sâu, nuôi cá nuôi tôm ngoài việc đồng áng lúa nếp.
Ông biết và thuộc nằm lòng
địa thế cuộc đất nên khi báo động
bà con xong, ông trú mình ẩn núp ở mấy đống
rơm cao nghều nghệu cạnh con đường mòn
ăn thông xuống lạch ô rô. Ông đoán chắc thế
nào bọn cướp cũng bườm qua con
đường độc đạo này.
Ông đoán trúng phong phóc.
Chúng nó sáu đứa khuân vác hèo gậy và
quơ quào vật dụng làm mùa của ông tôi chứa
nơi lẫm trại bên ngoài. Ông ẩn nhẫn đếm
từng tên một khi tạt qua trước mặt ông.
Chờ đến tên đi chót, ông phóng ra khất
nhượng bằng rựa đốn củi thủ trong
tay lúc thoát thân.
Thằng cướp đau đớn ngã
quỵ, kêu la cầu cứu. Đồng bọn khựng
lại, lôi nó khiêng đi trong lúc nó vẫn kêu la đau
đớn. Nó bị đồng bọn lấy khăn
bịt mồm bịt miệng, sợ bà con nương
dấu rượt theo.
Xóm Rạch Rít của tôi phát đạt,
trù phú. Ruộng lúa bát ngát, óng ánh vàng hực mùa gặt. Cây
trái oằn cành. Kinh đào tăm tắp ngút mắt. Nhà ngói
kinh dinh đỏ au. Đêm đêm, đèn «măng-soong»
rực trời ngày lễ lộc.
Ghe máy xình xịch, sông rạch dậy sóng,
tung bọt trắng xóa làm cho mấy chiếc xuồng ba lá
và ghe tam bản nhảy sóng liên hồi, chồm lên sụp
xuống dịu dàng. Hội hè đình
đám tấp nập người xem. Hát cải
lương, hát bội dù là những đoàn hát bầu tèo
nghèo xơ xác chỉ lưu diễn ở làng ở
tổng, thỉnh thoảng tạt ngang trụ lại trình
diễn năm bảy đêm liền.
Nhưng cảnh giàu sang, thoải mái
thạnh mậu đó quến bọn trộm cướp
kiêu căng bất lương. Nhiều băng đảng
nổi tiếng lưu manh đàng điếm, giết
người không gớm tay, từ những vùng xa xôi tận đâu đâu,
vượt vạn dậm đường dài thường
kéo tới ăn hàng. Chúng manh tâm khảo tra đánh
đập, đả thương ngay cả chém giết
người dân lương thiện để vơ vét
của. Chúng là một lũ ăn không ngồi rồi,
bản tánh gian trá, chuyên dòm ngó theo dõi những người
giàu có để thỏa mãn lòng tham không đáy cố
hữu của chúng.
Bà con tôi đã từng chung lưng đâu
cật biến rừng thiêng nước độc,
đất đai hoang vu, không ai quan tâm để ý tới
trước đây, thành nơi phì nhiêu màu mỡ, huê lợi
đảm bảo trong cảnh an sinh hạnh phúc tập
đoàn. Bao nhiêu thế hệ đi qua, vất vả
khổ cực trăm bề mới có ngày sung túc hôm nay. Bây
giờ bà con tôi còn phải đối đầu với
bọn bất lương đầy tham vọng.
Sự chung lưng đâu cật,
nương tựa nhau trong tang khó, hoạn nạn
được củng cố thêm mãi. Họ đoàn kết
vì sự sinh tồn, bảo vệ cơ ngơi sự
sản dày công tạo dựng bằng mồ hôi nước
mắt của chính mình.
Ngoài
gậy gộc, song hồng, chỉa đôi, chỉa ba, mõ
tre, thùng thiếc, trong xóm còn có cây súng hai nòng của ông
Hương quản Quan. Sự bảo vệ xóm làng nhờ
đó có phần hữu hiệu hơn xưa. Bà con rất
mực an tâm vững bụng.
Nhiều lần, xóm Rạch Rít của tôi
bị cướp nhưng chúng đều gánh lấy
thất bại chua cay. Nhưng mỗi lần chúng đáo
lại, chúng tỏ ra hung hãn hơn, võ trang đầy
đủ hơn với mưu thần chước quỷ
hiểm độc.
Tuy thất bại nhiều lần, chúng
chẳng bao giờ buông tha cái xóm mới đang trên đà
phát triển thịnh vượng này. Và bà con tôi vốn
nhẫn nhục, chịu đựng, trông cậy ở tình
đoàn kết keo sơn gắn bó, ở sự hy sinh
bất kể đến sinh mạng mình để bảo
vệ xóm làng.
Cái triết lý tự vệ để sinh
tồn, duy trì sự sống đáng sống ấy là niềm
hãnh diện lớn lao của bà con tôi. Niềm hãnh diện
ấy cùng với khí thế tự hào chung được
thể hiện tròn đầy qua tiếng cười vui
bất chợt trong những câu chuyện dong dài nhắc
nhớ nhau sau mỗi đêm thức trắng. Họ ríu rít
không ngưng ở những buổi sáng uể oải chống
cướp quấy nhiễu dân tình.
* * *
Những ngày cuối năm, ở xóm
Rạch Rít quê mùa của tôi cũng rộn rịp đáo
để. Tết sắp đến trong vài ngày. Mấy ai
không nôn?
Ghe lúa của khách trú vừa ăn hàng xong
ở nhà ông tôi, vội vàng chèo chống neo ở bến sông
nhà ông Xã Kề cho kịp con nước. Người
người bận rộn, nói cười vui nhộn.
Lực lưỡng, vai u thịt bắp, họ vác lúa,
mỗi lần hai bao chỉ xanh chồng lên nhau, chạy
nhanh như gió, không biết mệt. Cái cầu ván bắt
xuôi từ mé sông lên thành ghe chài nhún lên nhún xuống nhịp nhàng
như muốn gãy làm đôi.
Bà Hai Khánh bán một lượt tám, chín con
heo ú na ú nú, mập lút chỉ, ăn rồi nằm ụ
một chỗ, không còn sức di chuyển dù trong chuồng
chật hẹp. Cái vòng bắt chân heo được
giựt mạnh. Hai ba nhân công xáp lại, lần
lượt đè từng con xuống. Họ trói giò
chụm vào nhau, cạy miệng kéo lưỡi ra khám xem heo
có gạo hay không, khiến heo la té đái té cứt, ầm
cả xóm.
Mái nhà của thím Chín Tý ngun ngút khói từ
tang tảng sáng đến tối thui tối thủi
vẫn chưa dứt. Thím đổ bún gấp ba bốn
lần ngày thường. Thím bảo mệt đừ, làm
không nỗi nữa trong khi bà con đặt mua tới
tấp. Đành phải ráng vậy. Vui vẻ phục
vụ bà con, một năm chỉ có một lần.
Đỡ một phần là thím khỏi phải bơi ghe
đi đổi hay giao bún.
Nhưng nôn ruột hơn cả là
việc ông Bảy
Nở kéo về
hai con bò tơ, vàng
hực, non chèo. Đại kỵ loại bò vá mà
bà con tôi có thói quen, không biết căn cứ vào đâu,
bảo ăn thịt bò vá nổi phong, ngứa ngáy khó chịu.
Trông chúng nó hồn nhiên vô tư lự
ngoạm cỏ ở ngôi vườn sau nhà ông, thật là
dễ thương làm sao! Chúng nó không ngờ cuộc
đời của chúng vắn số quá, chỉ thọ vài
giờ nữa, đến sáng hôm sau thôi.
Trời còn tờ mờ. Mặt trời
ưng ửng ở chòm tre.
Ông Bảy Nở dắt một con,
cột ở gốc trâm bầu, nhanh tay buộc choàng
một tấm vải đen che hai mắt nó. Linh tính báo cho
biết nó sắp về bên kia thế giới nên bỗng
dưng hai hàng nước mắt nó chảy dài thảm
thương. Con bò còn lại chờ đến lượt
mình, dâm ra bơ phờ, lẻ bạn buồn hiu, không màng
ăn cỏ nữa.
Một phát búa tài xồi được Út
Quyên phóng mạnh vào tam tinh. Con bò thét lên một tiếng
trầm thống rồi ngã quỵ xuống đất ngay.
Nó tiếp tục giãy dụa lạch đạch. Bốn
chưn nó vẫy vùng rung rẩy yếu dần. Vì nó không còn
sinh lực như những cánh tay con người sắp
chết đuối, vận dụng sức tàn còn lại
cố giơ cao lên không trung diệu vợi bao la, cầu
cứu Thượng Đế một cách tuyệt
vọng.
Nó thở hào hển trước khi
nhắm mắt xuôi chưn trong khi tôi ngoảnh mặt
nơi khác, không còn dám tò mò chứng kiến những gì
xảy ra sau đó. Cảnh chia thịt bò Tết năm
ấy đã để trong tôi một hình ảnh khó phai.
Chiều ba mươi Tết rước
ông bà. Mâm cỗ, thịt cá ê hề. Xóm Rạch Rít tôi
tưng bừng nhậu nhẹt. Pháo nổ đì đùng.
Đầu trên chưa dứt tràng pháo
điển dài từ ngọn cây mãn cầu xiêm sát thềm
nhà, lốp bốp, lốp bốp… inh tai chen lẫn
tiếng pháo tre nấc cục nặng nề bưng óc.
Đầu dưới xóm không chịu thua, cho nổ
ống tre với hơi khí đá nghe nhức óc điên
đầu. Tiếp theo là trận la ó, cười vui,
vỗ tay rầm rập như thể thách thức nhau.
Đèn đuốc sáng rực. Trong nhà
lư đồng và hai chân đèn óng ánh. Hoa quả thơm
ngào ngạt, sắc màu đẹp mắt.
Ông tôi chuẩn bị sẵn sàng, chờ
đúng mười hai giờ khuya rước Xuân. Bánh in
Bổn Lập hảo hạng bày biện trên bàn với
mấy dĩa thèo lèo, cứt
chuột mà mấy tay buôn bán chuyên nghiệp con cháu Thiên
Triều ở Chợ Lớn sản xuất lục
cục lòn hòn pha trộn lẫn lộn. Có cái hình thù bầu
dục, cái vuông vức, cái thon thon hình chữ nhựt,
bọc đường quện mè chung quanh, màu sắc vàng
có, đen có, xám có.
Nhang đèn bày biện xong. Ông tôi tới
lui kiểm tra đầy đủ, tỏ vẻ bằng
lòng. Bộ tách với bình trà xưa đã được
lau chùi kỹ lưỡng để trên khai chờ pha trà
Thiết Quan Âm mà ông tôi còn ướp thêm bông lài cho trà thêm
thơm tho mùi vị vườn tược quê nhà.
Mọi việc được chuẩn
bị chu đáo, chỉ chờ đúng giờ ông tôi
rước Xuân. Giờ phút thiêng liêng truyền thống duy
nhứt đầu năm từ bao nhiêu đời nay.
Một dịp huyền bí để mọi người
lớn nhỏ trong gia tộc hội nhập Đất
Trời, hồi hướng Tổ Tiên dòng tộc. Ông
cũng cầu nguyện năm mới mưa thuận gió
hòa, xóm làng được mùa, bà con an cư lạc
nghiệp.
Bỗng có nhiều loạt súng nổ chát
chúa, rải rác khắp nơi. Ông tôi đâm nghi, nhíu mày
lắng tai nghe tiếng nổ là lạ như để
phân biệt tiếng pháo, tiếng nổ của hơi khí
đá.
Linh tính báo cho ông tôi biết lại có tai
biến. Ông ngạc nhiên tự hỏi thầm, chẳng
lẽ bọn cướp lại ăn hàng nhân ngày Tết
thiêng liêng sao? Ông hỏi
thầm nhưng sự thực phũ phàng là thế!
Bọn cướp đồng tình kết hợp với
vài ba băng đảng khét tiếng hung bạo từ
phương xa kéo đến đánh phá, ăn hàng xóm tôi
trong lúc mọi người trong xóm đang chung vui nên quá
bất cập, thiếu đề phòng, không kịp trở
tay.
Nhà bà Hai Khánh mới bán hôm trong năm
mấy bồ lúa nàng quớt trúng mùa, bị chúng xông vào
ăn hàng trước tiên. Mấy phát súng chát chúa chúng
dằn mặt thị oai trước hành lang nhà bà đã có
hiệu quả.
Chúng ập vào, hùm hổ như cọp
đói vồ mồi, bừa bãi lùa mấy bó rơm khô
lớn đại giữa nhà trên rồi phóng lửa
đốt phừng phừng, khói lên nghi ngút. Bà Hai Khánh run
rẩy, lập cập, ú a ú ớ không nên tiếng nên
lời. Chúng bắt trói cả gia đình, hành hung khảo
của.
Cận bên, nhà ông Xã Kề cũng cùng chung
một cảnh tượng hồn phi phách tán đó. Ông Xã
Kề bị chúng trói thúc ké, xô té nằm ngửa bất
động trên nền gạch tàu. Chúng đổ dầu
lên rún, hươi hươi ngọn đèn chong, bảo
phải chỉ chỗ dấu vàng vòng, nữ trang, của
tiền. Chúng hăm dọa đốt rún cháy lở tầy
hoầy nếu không nộp của.
Xa xa văng vẳng tiếng kêu la đau
đớn vì bị cướp đánh đập dã man.
Mấy con chó trong xóm im hơi thin thít. Chúng đã hoảng
sợ chui rúc tìm chỗ trốn từ khi có mấy tràng pháo
đầu tiên rước ông bà.
Lần này bọn cướp đông
lắm. Chúng võ trang tận răng với dao găm mã
tấu và súng ống lớn nhỏ. Chúng huy động bọn
giết người không gớm tay, đám đàng
điếm khắp nơi, có tổ chức hẳn hoi,
phối hợp phân công đàng hoàng dưới sự
chỉ đạo của tên đầu đảng tuy
trọng tuổi với râu dài bạc trắng nhưng uy
quyền.
Chúng đánh cùng một lúc nhiều nơi,
nhiều nhà. Dương đông kích tây. Những nhà kiên
cố, chúng uy hiếp cầm chân. Thỉnh thoảng chúng
bắn cầm chừng vài loạt trấn áp tinh thần,
ngăn ngừa tiếp ứng.
Kỳ
ăn hàng này, chúng áp dụng hỏa công, tiêu thổ áp
đảo bà con tôi, khảo người giựt của.
Tiếng kêu la thảm thiết vang vọng cả một
góc trời. Lửa phựt cháy phừng phừng nhà bà Hai
Khánh vô phương cứu chữa. Nhà nào nhà nấy hầu
như bị kềm chân, thúc thủ tự đối phó
với bọn cướp dùng chiến thuật phân tán
mỏng.
Khổ
nỗi, lần đánh cướp này, bọn cướp
lạ mặt lại được mấy thằng
mất dạy khù khờ trong xóm, nghe lời khuyến
dụ đường mật của chúng để
tiếp tay chỉ lối dẫn đường. Bọn
mặt trơ mày trẻn này bôi mặt với lọ
chảo đen xì, giọng nói ú ớ để đánh
lạch hướng bà con. Nhưng chúng tỏ ra tận tình
tận lực lắm để lập công. Do đó, bà con
tôi phải một phen trầy vi tróc vãy đối
đầu, ứng phó trối chết.
Bọn
này là những con dòi trong xương, ngày ngày ăn cơm bà
con tôi mòn răng nhưng lại đan tâm muối mặt
thờ ma bọn cướp bất kể hậu quả
về sau. Nhưng chúng có biết đâu một khi đã
vơ vét đầy hồ bao, bọn cướp nào có
đối hoài công lao của chúng bao giờ đâu. Một
khi thức tỉnh vỡ mộng thì mọi việc đã
rồi, chỉ còn chuốt lấy chữ nhơ nhuốt
đến chết và tiếng nguyền rủa muôn
đời cả họ hàng nữa.
Chẳng mấy chốc, lửa cháy lan
rộng thiêu rụi mấy nhà lân cận, tạo thành
một cảnh tượng não nề, tang khó chưa
từng thấy trong chuỗi ngày dài khẩn hoang lập
ấp ở đây. Lúc trăng vừa lặn, chúng vơ
vét xong tiền của, vật dụng quý giá, chất
đầy mấy ghe lườn khẳm sát be rồi
bắn nhiều loạt súng thị oai dằn mặt
trước khi bườm theo hướng kinh rạch um
tùm chằng chịt.
Bà con tuông ra chữa cháy tận lực.
Nhưng đã muộn, chỉ cứu được
một phần xóm, những nhà rải rác xa xa tàn lửa
phun phún bay theo gió chỉ bám phớt sương.
Sáng hôm sau, một cảnh đổ
vỡ điêu tàn trong xóm. Mọi gương mặt
đều mệt mỏi, thiểu não, buồn xo qua
một đêm kinh hãi, lưng tim vỡ mật.
Nhà ông bà Bảy Nở chỉ còn trơ
vơ mấy cây cột gỗ nám đen, chĩa thẳng
lên không trung.
Cây cầu vó nên thơ nơi thím Chín Tý
cột ghịt xuồng đổi bún ngày nào cũng bị
thần lửa viếng, nằm chúi nhủi dưới
bến sông.
Cây ổi xá lị thường
được ông Bảy treo lủng lẳng con heo cạo
lông sạch sẽ trắng bông mỗi lần chia thịt,
lá nám vàng, đứng cú rũ buồn tênh.
Cây trâm bầu nơi buộc con bò tơ
cách đây mấy ngày để xẻ thịt ăn
Tết, cháy đen, gãy ngang, chỉ cần một luồng
gió nhẹ cũng đủ ngã lăn trên mặt
đất ngổn ngang.
Nhà thím Chín Tý còn non non nửa mái, nhờ
đám cháu chồng phụ giúp đổ bún xả thân
cứu chữa trong lửa đạn hiểm nguy. Riêng
chiếc xuồng ba lá dùng làm phương tiện di
chuyển đổi bún, thím vừa kéo lên bờ trét chai hôm
cuối năm, nhạy lửa bắt cháy chỉ còn
lại một đống than vụn.
Tội nghiệp Mười Tống.
Vốn nghèo lại mắc cái eo. Cướp chê nghèo rớt
mồng tơi đâu thèm đến viếng. Khốn
nỗi, nhà Mười Tống là nhà tranh, vách lá phênh tre,
bắt lửa dễ dàng. Mười Tống tiêu tan sự
nghiệp chắt chiu ký cóp từ hai ba đời chưa
kịp ngóc đầu. Nay anh đành tuột xuống
hố, nghèo khổ thêm, trắng tay chỉ trong một phút
chốc phù du.
Nhà ông bà tôi bị cháy lốm đốm.
Rất may. Lu hũ chứa nước mưa để
uống quanh năm liền được dùng để
chữa cháy, cái ngã lăn, cái hư bể la liệt ngoài
sân.
Ông tôi đánh một vòng thăm hỏi bà
con, an ủi ủy lạo trong khi mọi người thu
dọn những gì có thể dùng được trên bãi
đổ vỡ còn nóng hổi. Vài nơi im ỉm hừng
hực. Có chỗ khói uể oải vẫn tỏa lên
từng không để sau đó tan loãng trong không khí chán
chường, uất hận.
Đi đến đâu, ông tôi cũng
vỗ về, nâng đỡ tinh thần bà con:
- Bọn cướp lần này quá quắt
thật. Không còn xem luật pháp là gì. Bây giờ xóm mình
mất mát hết. Bà con coi như trắng tay. Có xây dựng
lại được như xưa cũng phải năm
ba thập niên hơn. Tai ách cơ Trời! Dù sao mình vẫn
còn có nhau. Mình sẽ gầy dựng lại. May là bà con mình
ai ai cũng còn quyết tâm. Còn người là còn của. Còn
sống là còn hy vọng. Còn sức lực, còn tiềm
năng là còn tin tưởng ở tương lai mai
hậu.
Bà con lặng tinh, tiếp tục dọn
dẹp trong âm thầm ấm ức như hàm ý tán thành ý
kiến của ông tôi. Và cái Tết năm đó không
được tổ chức riêng rẽ ở mỗi gia
đình theo truyền thống dân tộc mà được
tổ chức tập thể tại đình làng. Tuy không
linh đình rình rang nhưng vẫn ấm áp trong cảm
thông, chịu đựng và hy vọng.
* * *
Mấy mươi năm lăn xả vào
đời, vui ít buồn nhiều trên đất
nước quê hương triền miên khói lửa theo
với dòng lịch sử đa đoan với bao kiếp
nạn oái oăm bi đát, cảnh thổ xa xưa nơi
cắt rốn chôn nhau, nơi xóm Rạch Rít buồn teo
hẻo lánh của tôi không lúc nào phai mờ trong ký ức và
tâm thức tôi. Nào ngờ, nghịch cảnh của dòng
sử mệnh đó đã đưa đẩy tôi bồng
bềnh trong kiếp đời lưu đày sống
tạm.
Hơn hai mươi mấy năm lần
lửa trôi qua như chớp mắt. Đông đi Xuân
lại, Hè đến Thu tàn, phũ phàng như giấc
mộng vội bay. Nỗi buồn lưu đày ray rứt,
nỗi tủi nhục về thân phận lạc lõng bơ
vơ nơi xứ lạ quê người, nỗi chán
chường đeo đẳng hiện tại với
niềm uất hận tràn dâng ngút ngàn... tất cả
nỗi niềm thầm kín đó gặm nhấm tim tôi
khiến tôi càng thêm vọng nhớ quê hương xa xôi
ngăn cách.
Tôi nhớ, tôi yêu dậm đà tha thiết
cái xóm hẻo lánh, nghèo nàn, nơi tôi sinh trưởng,
cất tiếng đầu đời. Cái quê mẹ, quê cha,
quê ông bà thân thương đó với những kỷ
niệm chia thịt thà ngày tư ngày Tết thuở quê
hương tôi thanh bình sung túc, những cảnh trao
đổi thổ sản, thóc lúa, biếu xén không vụ
lợi, không mảy may hậu ý... đương nhiên
đã trở thành một cái gì thiêng liêng, quý giá nhất trong
cuộc sống của tôi.
Quê nhà đó cứ vấn vương réo
gọi, thôi thúc không thôi, nhắc nhớ gọi hồn,
giục giã hướng đến mùa Xuân ước mơ,
thanh bình thực sự, hạnh phúc ấm no tràn
đầy, vĩnh cửu.
Bỗng nhiên nước mắt tôi nghèn
nghẹn tuôn trào.
Tôi nhớ đến những lần liên
miên bị cướp, đến đám cháy lớn vào
dịp Tết thuở xa xưa với những ngọn
lửa màu đỏ máu, một màu đỏ nguyền
rủa ghê tởm đã để lại bao nhiêu hoang tàn
đổ vỡ. Tôi liên tưởng giờ đây
đến hố thẳm sâu hun húc của nghèo đói, sa
đọa và phá sản nơi quê nhà do bọn lưu manh,
cướp của, cuồng tính bất lương, mù quáng
gây ra. Bao nhiêu cảnh tượng và ý nghĩ xô bồ
lần lượt diễn ra trong tâm trí tôi.
Bất giác trong sự hổn độn
đó, lời nói an ủi, vỗ về của ông tôi
thuở nào văng vẳng bên tai tôi, xoáy quyện vào lòng:
- Thôi không sao! Tai ách cơ Trời rồi
cũng sẽ qua. Còn người là còn của. Còn sống
là còn hy vọng. Còn quyết tâm là còn cơ gầy dựng
lại và còn tin tưởng ở tương lai con cháu sau
này. «Mấy ai giàu ba họ, mấy ai khó ba đời».
«Hết cơn bĩ cực tới hồi thới lai».
Nắng đã lên.
Trời Xuân sáng trong, cao vời vợi.
Niềm tin nơi tôi hừng hực, rạng ngời
như ánh bình minh.
Võ Phước
Hiếu