Trâu Già
Chẳng Nệ Dao
Phay
Võ Phước Hiếu
Xóm tôi nếu không
có chú Năm Nghê chắc buồn não nuột. Mọi người lớn nhỏ đều nhìn nhận như thế.
Chú độc thân, vui
tánh, thương mến bà con, quý trọng bạn bè thân hữu. Nhà chú lúc nào cũng có
tiếng tăm, hơi hướm tri âm tri kỷ. Người ra kẻ vào không ngớt. Ai có dịp tiếp
xúc với chú một lần, nhứt định hẹn sẽ có ngày trở lại, không bao giờ quên chú
được.
Chú nói chuyện rất
có duyên, lôi cuốn người đối thoại. Chuyện kể, chú đầy nhóc một bụng, ứng khẩu
thành văn. Đề tài hấp dẫn, lạ lùng, lại thay đổi luôn.
Chuyện bên Tây,
bên Tàu, chuyện Chà Và Ma Ní, Ả Rập "ngàn lẻ một đêm", chuyện người da đen, da
đỏ, da trắng, da mơn mởn ngà ngà ở các xứ Phi Châu sa mạc khô cằn... chỉ cần ai
đó khợi đến, dù vô tình hay cố ý, kể như chú độc diễn cả ngày cả buổi. Lắm lúc
chú quên giờ giấc, bỏ cơm nước dễ dàng.
Nghe chú kể chuyện
xưa tích cũ, nói thơ chàng Lía, thơ Thầy Thông Chánh, cậu Hai Miêng... nhứt là
thuật chuyện tiếu lâm châm biếm, mọi người đều cười nôn ruột. Họ lăn cù, nước
mắt ràng rụa đầm đìa.
Chiều nào cũng như
chiều nấy, nhà chú đều đông người ra vào rộn rịp, xôm tụ nhứt vào những đêm
trăng sáng. Kẻ ngồi trên ván ngựa, loại ván mỏng te, mỗi lần trở mình nhúc nhích
hoặc rung đùi nghe lụp cụp… lụp cụp.
Bộ ván nơi nhà chú
quả thực tượng trưng đầy đủ và đúng mức phong cách sống của bà con, chuộng người
mến khách, quý trọng bạn bè. Ai đến cứ tự tiện nhảy thốc lên ngồi chơi thoải
mái. Ai lỡ bước, không ngần ngại cứ ngã lưng ra nghỉ đêm. Bao đêm mà chẳng được.
Chú hay
nói:
- Ở xứ khỉ ho cò
gáy, quạnh hiu buồn tênh này, có thêm người càng vui càng quý. Muỗi mòng có
nhiều đối tượng nên tha hồ chọn lựa. Mình đỡ bị cắn chích.
Người khác ngồi
tòn ten lắc lư trên võng. Loại võng đan bằng lác mịn màng, được buột chặt ở hai
đầu gốc cột của chái nhà trước nhờ hai con găng bằng tre già. Chẳng những trông
nó có vẻ thô kệch lại còn chằng khíu đó đây khi được phình rộng ra.
Chú bác trọng tuổi
hay các cụ thuộc hàng trượng triều trượng quốc có bàn cây bằng ván tạp nhạp để ở
chính giữa nhà, tuy không tốt đẹp chắc chắn gì lắm nhưng dù sao cũng là nơi danh
dự. Thêm ưu tiên có bình trà lúc nào cũng nóng ấm, thơm phưng phức mùi bông lài
do chủ nhân tự ướp, để có hương vị quê hương đặc thù. Hầu như tục ướp trà bông
lài là thói quen lâu đời của bà con xóm tôi, nay qua bàn tay của chú đạt đến mức
tuyệt kỷ.
Mấy đứa quỷ sứ,
lục lăn lục lửa, chằn ăn trăn quấn chúng tôi thoải mái trên những tấm đệm phơi
lúa trải ở sàn đất. Có chỗ rách to cở bàn tay xoè con nít, ngồi lâu nghe lành
lạnh bàn tọa. Dù vậy, chúng tôi vẫn tỉnh bơ, quá ưng ý bằng lòng được chú tiếp
đón ân cần trọng hậu như người lớn. Sang lắm có mấy chiếc ghế đẩu cũ kỹ xiêu
vẹo, vô tình nhích qua nhích lại nghiến da non bầm tím, đau thấu mây xanh.
Hôm nào bận việc
không đến nhà chú được, bà con cảm thấy mất mác, thiếu thốn một cái gì, cứ nao
nao trong lòng. Họ nhớ chú, nhớ mùi hương trà bông lài, nhớ chuyện tào lao thao
thao bất tận chú kể. Thói quen giải trí lành mạnh theo nhu cầu tự nhiên của con
người, sống theo đoàn lũ, có người có ta, có bà con thân quyến ruột rà, có lân
bang bạn bè chòm xóm. Tất cả những cái đó không thể thiếu vắng được trong sinh
hoạt hằng ngày.
Đề tài của chú lúc
nào cũng phong phú, mới lạ. Ít khi nghe chú soạn lại bổn cũ. Chính nhờ vậy mà
chú quyến rủ người nghe. Họ không hề cảm thấy nhàm chán.
Có bữa chú cao
hứng thuật lại một câu chuyện cũ mèm, xưa từ đời ông Nhược ỉa cứt su, nhưng bà
con vẫn chăm chú theo dõi, hồi hộp với những cảm giác chưa từng có. Chú khéo léo
thêm thắc, bày vẻ nhiều tình tiết éo le gay cấn, cải sửa nội dung sao cho phù
hợp hoàn cảnh đang sống hoặc đúng khớp thời sự mới tinh khôi vừa xảy ra nóng hổi
ở xóm làng.
Hoặc chú dậm mắm
thêm muối bằng vài chi tiết lạ hoắt lạ huơ, người nghe chưa bao giờ nghĩ và
tưởng tượng đến, nhờ ba mớ kinh nghiệm sống thực, rất dồi dào trong cuộc đời
phiêu lưu bất đắc dĩ của chú trước đây. Và chính cuộc đời phiêu bạt đó của chú
khiến cho chất lảng mạn bay bướm, phảng phất hơi hướm ngoại lai, cứ tuôn trào
ngọt ngào trong câu chuyện.
Chú cười thoải
mái, hãnh diện nói trước khi chú vào câu chuyện:
- "Bổn cũ soạn
lại" nha! Nhưng cam đoan có phần phụ thêm hấp dẫn gấp bội.
Có một điều là bà
con tôi cũng không cần tìm hiểu hoặc hỏi xem những câu chuyện của chú thuật đó
có thực hay không? Hoặc do trí tưởng tượng trời ban cho, khiến chú vẻ vời, cường
điệu có duyên đến thế?
Dù thực hư hay hư
thực ra sao, bà con tôi rất bằng lòng và mãn nguyện lắng tai nghe. Còn đối với
những bậc hiểu biết cao kiến, họ vuốt râu hề hà cho rằng chú có lối nói dốc thần
sầu quỷ khóc nhưng có căn cơ dẫn tích, dù không một ai kiểm chứng được.
Chú được bà con
xóm tôi thương mến, nễ nang. Nhà chú trở thành nơi hò hẹn họp mặt thân tình của
bà con khi mặt trời phụp hẳn xuống chân trời sẫm đục xa xa. Sự thân tình này thể
hiện đậm nét qua phong cách hồn nhiên mộc mạc của bà con và anh em chúng tôi.
Hễ gặp việc, chúng
tôi xáp lại xăng tay áo khỏi cùi chỏ, nhảy xỏm vào tham gia không chờ chú cất
lời nhờ vã. Hễ gặp ăn uống đánh chén, chẳng đợi mời mọc dong dài, đói trúng bữa
cơm, chúng tôi tự tiện lên bàn cầm đũa xem như người trong nhà, trong tộc.
Nhờ vậy chú quên
đi cảnh lẻ loi quạnh quẽ sau bao nhiêu năm chìm nổi, lắm lúc thất vọng chán
chường. Và bà con tôi cũng được những dịp vỗ về, xoa dịu phần nào những lao nhọc
khó khăn trong cuộc sống hằng ngày.
Chú tự tạo niềm
vui, tự tạo những ngày tháng hạnh phúc cho chính bản thân mình. Vì chú quả
quyết, niềm vui và hạnh phúc chỉ do chính mình tạo dựng ra, chính mình suy nghĩ
phát kiến mà có, chớ không ai vào chéo đất hoang vu này ban bố cho bao giờ. Nhứt
là chẳng ai mang tiền mang của, dù tiền rừng bạc biển ra mà hòng mua được.
Nhưng cái ưu điểm
quý hiếm tuyệt vời ở chú Năm Nghê là biết chia xẻ niềm vui và hạnh phúc đó cho
mọi người xung quanh. Như vậy cuộc sống chung đụng hằng ngày thêm dễ chịu, hào
hứng và có ý nghĩa hơn.
Cuộc đời chú Năm
Nghê rất éo le, cay đắng trắc trở. Nó khởi sự bằng một chuỗi biến cố lịch sử
trên đất nước nhà. Chú nhổ giò không mấy chốc, tưởng chừng cuộc đời chú sẽ gắn
bó vĩnh viễn với cảnh thổ khẩn rừng lập rẫy còn hăn hắc mùi đất tân lập thì tình
hình Âu Châu căng thẳng cực độ. Các nước kình chống nhau, kéo bè chia phái bảo
vệ quyền lợi riêng tư. Thế chiến không sao tránh khỏi.
Chính quyền thuộc
địa ráo riết lùng sục khắp nơi, ngay cả ở những làng mạc xa xôi hẻo lánh để
tuyển chọn tráng đinh mạnh khoẻ, thành lập Binh đoàn Công nhân Không chuyên gởi
về Pháp chuẩn bị chiến tranh chống Đức Quốc Xã. Làng xã được phân công chọn
người và có nhiệm vụ thực hiện cho bằng được cấp số tuyển mộ theo nhu cầu ấn
định của cấp trên.
Phong trào "bắt
thăm đi lính" rầm rộ khắp nơi gây nhiều xáo trộn buồn lo trong mọi gia đình có
con em ở lớp tuổi chẳng may được gọi. Các giới chức có thẩm quyền trong Ban Hội
Tề một mặt tỏ ra kiêu căng hóng hách, một dịp để họ ra oai tác quái, mặt khác
khúm núm quỳ mọp làm thân khuyển mã.
Bà con tôi phần
lớn sinh trưởng và lớn lên quanh quẩn ở vùng đèo heo húc gió, chó ăn đá gà ăn
đất buồn tênh, suốt đời cột chặt với thửa mạ luống cày, lúc thúc bên lũy tre xóm
làng. Có người từ cha sanh mẹ đẻ tới giờ chưa ra tỉnh ra quận một lần. Cái thủ
đô Sài Gòn Chợ Lớn sát bên, lớn nhỏ ra sao, tròn méo, đông đúc thế nào còn chưa
biết, nói chi đi đó đi đây vạn dặm làm gì.
Nói đến đi Tây, họ
tưởng tượng một thế giới xa mút chỉ cà tha, một cách ngăn nghìn trùng diệu vợi.
Họ sẽ xa làng lìa xóm, biết thuở nào gặp lại đông đủ bà con ruột thịt?
Có người viễn mơ
nghĩ đến ngày về xóm cũ làng xưa sau bao nhiêu năm vắng mặt. Họ sẽ bùi ngùi ngỡ
ngàng, nửa lạ nửa quen.
Quen vì cảnh thổ
mến yêu vẫn mãi mãi còn đó. Bất diệt.
Lạ vì những đổi
thay dâu biển. Cỏ dại, năn sậy... chắc sẽ làm mất hẳn lối mòn thân thương quen
thuộc. Mấy cây cầu dừa no tròn, nặng trĩu bất động ở mỗi mương ranh hay những
cây cầu tre cầu khỉ lắc lẻo, gập ghềnh ở đầu ngõ hay cuối bến chắc cũng đã rả
mục gục đầu dưới lòng mương lòng rạch.
Hoặc chúng đã mất
hẳn dấu vết để họ buông lời nuối tiếc. Còn đâu những ngày thơ mộng, khập kha
khập khiển, chao đảo rắn rồng lúc "qua cầu gió bay" mong tìm về "nhà anh nhà em
đôi bờ chia cắt, tuy gần mà xa".
Chú hy vọng còn
cây dương duy nhứt, cao ngất nghểu đầu đình, mỗi tết nhứt về lại thêm một tuổi
để trở thành cổ thụ, da dẻ sần sùi. Trong khi bà con của chú trước sau đã quá
vãng, vẫn mãi mãi yên mồ yên mả, nằm yên nơi gò hoang hay vạt đất nơi góc vườn
góc xóm.
Hơn nữa, chiến
tranh với thảm cảnh chết chốc chia lìa là nỗi ám ảnh trĩu đè tâm hồn mộc mạc
dung dị của họ. Rồi đây, họ sẽ đương đầu với cảnh lạ, với người không quen,
không cùng ngôn ngữ, không chung phong tục tập quán và tâm tư tình cảm nữa.
Tuy quê mùa
cục mịch, họ thừa biết cảnh lính thú ngày xưa:
... Một
tay thì cắp quả mai
Một tay cắp giáo quan sai xuống thuyền
Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa
Và câu thơ cổ bất
hủ luôn cứ lãng đãng bên tai:
Cổ
lai chinh chiến kỷ nhân hồi.
Gia đình nào cũng
thấp thỏm lo âu. Họ ngóng chờ trông đợi cái ngày "bắt thăm" định số nghiệt ngã
ấy. Nó như kéo dài lê thê, ngăn ngắt trong không khí tẽ nhạt buồn tênh, nặng nề
còn hơn tang khó.
Chú Năm Nghê không
có ảo tưởng xa vời. Con người chú xưa nay rất mực thực tế. Đôi chân rắng chắc
của chú luôn bám níu, đứng vững vàng trên đồng chua nước mặn, trên thửa ruộng
luống cày. Chú mộc mạc như củ khoai hòn đất, nghĩ sao nói vậy.
Nhưng chú có trực
tính. Trực tính đó báo cho chú biết, với tấm thân cường tráng, vặm vỡ nhờ bao
năm lao lực cấy cày, ngày ngày vận động thường xuyên, chú khó thoát khỏi âm mưu
đen tối, những cạm bẫy mắc giăng của các chức dịch làng tổng.
Người dân thấp cổ
bé miệng lúc nào cũng chịu thiệt thòi lép vế. Hơn nữa, chú thuộc hàng nghèo mạt
rệp từ đường, một cục đất sở hữu tròn vo cở đầu ngón tay cái còn không có để
rình liệng đuổi chim chóc phá hại vườn tược, hà huống một tấc đất cấm dùi. Cho
nên sự lép vế thiệt thòi nơi chú còn trầm trọng hơn.
Chú thừa biết như
vậy. Xưa nay, dù thời cuộc có thay đổi sang trang, triều đại này tiếp nối triều
đại khác, vẫn thế thôi. Chẳng có gì khác cả. Cũng vẫn thế lực đồng tiền. Cũng
vẫn sức mạnh uy quyền!
Đầu óc chú không
sao đánh đuổi, lùa xa những lời kêu ca tuyệt vọng của đám dân lành cần cù thủ
phận. Chú rất bất mãn về những vụ úp bộ ruộng vườn thấu hoàng thiên, cứ xảy ra
luôn trên vùng đất bà con bạn bè chú đã bỏ cả một đời để khai khẩn, lên liếp lên
vồng.
Đất đai hoang vu
ngút ngàn không ai thừa nhận sở hữu chủ. Mạnh ai nấy vóc tâm gắng sức đổ mồ hôi
làm thành khoảnh, theo sự cổ võ khuyến khích của làng xã, đã chính thức cấp giấy
phép tạm thời cho vỡ hoang, cày cấy trồng trọt sinh sống.
Họ đến đây, "đất
nước lạ lùng", «chim kêu vượn hú», không một bóng người, đôi khi đơn độc một
mình. Tứ cố vô thân. Hành trang mang theo chỉ vỏn vẹn vài dụng cụ cần thiết cho
cuộc sống và nhu cầu làm việc hằng ngày.
Đại khái một nóp
bàng để ngủ đêm cuốn tròn gọn lỏn quải trên vai. Một chiếc áo tơi lá chầm, người
bạn đời không bao giờ rời, như bóng với hình mùa mưa dầm rả rích, gió lạnh thấu
xương. Rồi ít dao rựa, vài cái phảng cổ cò cổ diệc để phát cỏ hoang, năn sậy.
Và quan trọng hơn
hết, một cái cà ràng dễ di chuyển, đặt nơi nào cũng được, trong chòi vào mùa
khô, trên bè hay trên xuồng ba lá nhằm mùa lũ lụt. Quanh năm nó giúp ấm lòng ấm
dạ để an tâm trong hiện tại và phấn khởi ở những ngày dài trước mắt.
Thêm chiếc xuồng
con thon thon làm chưn làm cẳng, xê dịch đó đây hoặc dùng chuyên chở mạ non,
thóc lúa. Không có nó kể như bị chặt tiện mất hai chân. Không còn khả năng làm
ăn ra trò trống gì cả ở vùng sông rạch với những đường nước mà trời cao lồng
lộng, rộng rải ban cho thừa thải khắp nơi.
Những năm sau có
chút ít hoa màu, chẳng bán buôn gì được, chỉ để tiêu dùng trong gia đình, hy
vọng cầm hơi tiếp tục đốt rừng phá rẫy lấn chiếm đất hoang. Nhưng đến chừng ra
quận, lên tỉnh xin hợp thức hóa, họ mới tá hỏa tam tinh, té ngữa, kêu trời không
thấu.
Phần đất khai khẩn
bấy nay là sở hữu của thầy Cai tổng này, ông Hội đồng nọ, hoặc của ông lớn ông
nhỏ, bà thứ bà bé các quan ở quận ở tỉnh. Đôi khi còn ở xa mút tí tè tận Sài Gòn
Chợ Lớn hoa lệ nữa. Họ ngồi không, chưa hề động đến móng tay, chẳng nhễu một
giọt mồ hôi công khó, chỉ chờ đến thời điểm thuận lợi cấu kết nhau chia phần từ
thuở nào rồi.
Chú không sao quên
được câu nói thoát ra từ cửa miệng của người dân xứ Nam Kỳ Lục Tỉnh mà chú đã
từng nghe không biết bao nhiêu lần trong đời: «Nhứt Sĩ, nhì Phương, tam Xường,
tứ Định». Những ông huyện hàm Lê Phát Đạt thường gọi là Huyện Sĩ, bá hộ, ông
bang hay đại điền chủ có những cái tên Minh Hương Đỗ Hữu Phương, Lý Tường Quan,
Trần Hữu Định, nếu không âm mưu cấu kết chặt chẽ với thực dân, làm gì được chúng
đặt ân giúp mua úp bộ rẻ rề hoặc ban cấp cho khẩn trưng mỗi người năm bảy ngàn,
đôi khi cả mười ngàn mẫu ruộng rừng rãi rác đó đây.
Báo hại bà con chú
gạt lệ nuốt hận. Công lao họ từ bao nhiêu năm tháng dài quần thảo trên đồng
không mông quạnh, nắng cháy bỏng da, bỗng tiêu tan thành mây khói. Họ tắt ngấm
hy vọng để sau này trở thành tá điền muôn năm vạn thuở của những người họ không
bao giờ biết mặt. May mắn lắm họ chỉ nghe được vài cái tên man mán, tiếng Tây,
tiếng Tàu, tiếng Việt lẫn lộn, đọc trật vuột khó khăn.
Chú Năm Nghê không
lạ gì về những việc sắp xếp lươn lẹo, trồng tréo mờ ám đó. Khổ nỗi, người dân
hiền lành lương thiện luôn là những nạn nhân khốn khổ truyền kiếp.
Mà thật vậy.
Những suy đoán lo
âu của chú không sai xuyển chút nào. Hôm "bắt thăm" ở làng, tiêu chuẩn cấp trên
ấn định là ba người tính theo tỷ lệ đầu nhân mạng. Rốt cuộc ba thanh niên thuộc
hàng nghèo rớt mồng tơi, mờ đôi mắt trong xóm được "vinh dự trúng thăm". Trong
khi các con cháu ông cả, ông chủ, ông ban biện cùng chủ điền giàu sụ chẳng may
bị loại. Tất cả những quý tử quý tôn này đều lọt sổ gọn hơ.
Đút lót…
Chạy chọt…
Gian lận…
Chú Năm mĩm cười
thấm thía cho tình đời. Chú nhớ đến lời người xưa:
"Muốn nói gian, làm quan mà nói"!
Nhứt là câu ca dao
quen tai:
Con ơi nhớ lấy điều này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.
* *
*
Ngày xưa, người ta
đánh trống khua chiêng tiễn đưa những chàng trai lính thú đi làm phân sự. Phần
nhiều ở tận nơi xa xôi hẻo lánh, cách ngăn thăm thẳm, khiến tâm trạng người đi
thêm thê lương áo não:
Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.
Chẳng mấy chốc,
chú Năm Nghê gạt lệ như người xưa, giã từ gia đình, bạn bè thân yêu, giã từ xóm
làng thôn ổ. Không phải chú sẽ "bước chân xuống thuyền" mà để được chuyển thẳng
đến bến Nhà Rồng xuống tàu viễn dương, trực chỉ trời Âu. Chú đi Tây phục vụ mẫu
quốc!
Từ dạo đó, từ dạo
con tàu nghiệt ngã "xúp lê một... xúp lê hai..." chẳng chờ chẳng đợi, chẳng nuối
chẳng kéo, chầm chậm tách bến Nhà Rồng, phun khói đen ngòm để sau đó uốn éo theo
sông Sài Gòn, vượt Ô Cấp, chú Năm Nghê bắt đầu một cuộc đời mới. Tâm trạng chú
dào dào thương thương nhớ nhớ.
Chú khắc khoải
nhiều câu hỏi thầm kín trong lòng, đến giờ khắc đó vẫn chưa bao giờ có đáp số
thích nghi. Chuyến đi thì có, cũng rầm rầm rộ rộ trong không khí nô nức tiễn đưa
của chính quyền thuộc địa, nhưng ngày về lại mù mờ đến biết thuở nào?
Chú không bi quan.
Thái độ này không trái ngược với tánh tình chú. Chú vốn yêu đời, yêu người, yêu
vạn vật, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống... nhưng không vì vậy chú không ái ngại
cho tương lai.
Có thể một viên
đạn vô tình bất chợt nào đó sẽ cướp mất phũ phàng đời son trẻ của chú. Nỗi buồn
của chú là chết bơ vơ cô độc, tứ cố vô thân trên mảnh đất xa lạ, xa hẳn cái chéo
mạ, vồng khoai nơi quê hương chú.
Chú chết cho ai
đây?
Vì ai chú chết?
Chuyến tàu xuyên
đại dương hơn cả tháng trường diệu vợi, lắm lúc sóng gió hãi hùng tới tắp không
thôi, ghé Tân Gia Ba, cảng Djibouti, vượt kinh đào Suez Ai Cập với kim tự tháp,
kỳ quan thế giới. Sau cùng nó đến neo ở cảng Marseille, một hải cảng thương mãi
quan trọng ở miền Nam nước Pháp, rất phồn thịnh thời bấy giờ. Vì là cửa ngõ yết
hầu buôn bán với các nước vùng Địa Trung Hải, Trung Đông, Phi Châu và Đông Nam Á
Châu.
Chú Năm Nghê được
chuyển ngay về miền Bắc Pháp, nổi tiếng là xứ khoai lang tây và củ cải đường.
Chú được bố trí phục vụ ở quân cảng Dunkerque.
Chiến tranh bùng
nổ ác liệt trước đó không lâu. Chế độ phân phối lương thực được áp dụng rất khắc
khe. Cũng như các bạn đồng hội đồng thuyền lính thợ Việt Nam, chú thuộc hàng phó
công dân ở xứ thuộc địa xa xôi, được xếp hạng bét trong thang ưu tiên phân phối.
Ăn uống thiếu
thốn. Thời tiết lạnh buốt làm cho cơn đói càng thêm khó chịu. Ai có lâm vào cảnh
này mới biết cái đói nó dằn xé mình đến mức độ nào! Không chữ nghĩa nào có thể
diễn tả đúng mức và đầy đủ được. Làm việc lại cực nhọc, liền tay, không một ngày
ngơi nghỉ. Vì lúc ấy tất cả đều tranh thủ thì giờ phục vụ guồng máy chiến tranh
vào cao độ.
Chú cứ cười bất
mãn tự nhủ:
- Mình đầu den, da
vàng, mũi tẹt, con dân xứ thuộc địa mất tự do, số phận hẩm hiu chẳng có gì là lạ
cả.
Bấy giờ chú mới
nhớ, hơn bao giờ hết. Nhớ cồn cào trong tủi hận...
Chú nhớ khoảng
không gian thênh thang trước nhà mình, lung linh ánh nắng sớm chiều với tiếng
chim nô đùa hợp chợ ríu ra ríu rít không thôi trên những tàn ổi, tàn mãn cầu...
đâm tượt non mướt mùa mưa.
Chú nhớ những bữa
cơm đạm bạc với cá tép tôm cua, rau cỏ vườn nhà chú thường ăn, tuy không thịnh
soạn, nhưng lúc nào cũng no bụng ấm lòng.
Chú nhớ những con
cá rô to bằng bàn tay phóng nhảy rèn rẹt rèn rẹt rất cao khỏi mặt nước ở những
đám lúa trổ đồng đồng để táp bông lúa non thơm ngon, mà chú thường câu nhấp đem
về nướng lửa rơm căn phồng tươm mở.
Chú nhớ những ngày
ra giêng gió lành lạnh, những trái xoài con thon thon nho nhỏ đong đưa đồng
loạt với những bông xoài nở muộn, một màu trắng vàng giữa những lá non tim tím,
báo hiệu một mùa trái ngon ngọt hứa hẹn.
Chú nhớ mấy bầy
ròng ròng lớn nhỏ, màu đỏ hoe, quấn quít sát vào nhau, ganh đua trườn lên mặt
nước ngớp thở, bên cạnh cá lóc mẹ, thỉnh thoảng táp mống bụp bụp bảo vệ con, xua
đuổi ếch nhái khuấy rầy.
Chú nhớ vào những
mùa gió chướng bắt đầu thổi, mấy cây so đũa suông đuột trước nhà chú trồng cốt
để về sau lấy thân ủ làm núm mèo, trổ bông trắng ngần lòng thòng, phất phới lay
chuyển theo chiều gió. Chú đang thèm một nồi canh chua cá trào, cá chốt bụng
trứng nặng kè kè nấu với bông so đũa, ăn mệt nghỉ. Nhứt là phải để sót chút ít
nhụy bông so đũa để có mùi đăng đắng nhân nhẩn.
Giờ đây, nơi xa
xôi có lúc bất chợt nghĩ đến, chú càng thêm nhớ thêm thương quê hương khổ hạnh
của chú. Và cái mùi nhân nhẩn đăng đắng của bông so đũa ngày xưa càng làm cho
chú thêm thấm thía với cuộc sống giăng mắc đắng cay hiện tại...
Những năm đó, thời
tiết trở lạnh khủng khiếp. Súng đạn lại đì đùng khắp nơi không dứt. Người địa
phương rất lo sợ và luôn bị ám ảnh bởi thần chết.
Chết trận, thương
vong, lạc đạn đã đành, họ còn phập phồng về nạn chết đói, chết lạnh vì thiếu
than củi và nhiên liệu sưởi ấm. Một cái chết dằn dai đau đớn mới thê thảm hơn.
Tiền của chỉ lo vào miếng ăn cầm hơi hằng ngày, có đâu dư thừa để chi vào việc
sưởi nhà cửa.
Bạn bè chú chịu
lạnh không thấu, thêm vào đó ăn uống thất thường, thiếu dinh dưỡng trầm trọng
nên bệnh hoạn, chết rất nhiều. Bệnh nhân được nhập quân y viện hay bệnh xá, vừa
qua khỏi cổng trước. Một ngày sau, xe "bù ệch" đẩy thây ma ra cổng sau vào nhà
xác trước khi trực chỉ nghĩa trang.
Nhờ phúc đức ông
bà cha mẹ thuở trước khéo tu tâm dưỡng tánh, có thiện duyên bố thí giúp người sa
cơ lỡ bước hay sao mà chú được bổ nhiệm giúp việc vợ chồng viên Quan Năm chỉ huy
đơn vị để sai vặt. Vất vả khổ cực, chú thấm thía lắm, so đi tính lại còn gấp bội
lúc chú quần quật sớm tối ngày mùa nơi quê nhà.
Nhiều lúc chú thở
dài:
- Ăn lương bằng
đồng quan Pháp không phải dễ. Trần ai lai khổ. Quả thật là "đồng lương ói máu".
Tuy vậy, đối với
chú còn một chút an ủi cứu rổi. Mỗi sáng, chú có nhiệm vụ thức dậy thật sớm, đốt
lò sưởi. Đây là giây phút sung sướng nhứt đời chú trong suốt chuỗi ngày lưu lạc
ở xứ Phú Lang Sa. Chú trì hưởn kéo dài thì giờ, nấn ná chọn lựa, tâng tiu từng
khúc củi. Chú nán ở lại lâu chừng nào tốt chừng nấy để được hưởng thêm một chút
ấm áp hiếm hoi đó.
Bà vợ vị Quan Năm
còn quá trẻ nhưng tỏ ra thông cảm hoàn cảnh của chú. Bà dư biết người gốc gác
các xứ Đông Dương, quanh năm nóng nực không sao chịu nổi cái lạnh khắc nghiệt
của trời Âu. Bà làm ngơ để chú tự do hưởng vài phút quý báu và cần thiết đó.
Có lẽ nhờ hoàn
cảnh hi hữu này, chú Năm may mắn sống sót trong chiến tranh, dù ngắn ngủi vài
năm nhưng khốc liệt vô cùng. Cứ nhìn hình ảnh chú mang về nước làm kỷ niệm, với
hải cảng Dunkerque hầu như bình địa mới ý thức đúng mức sự tàn phá của chiến
tranh thời đại văn minh khoa học tân tiến.
Sau khi Đức Quốc
Xã bại trận, chú Năm Nghê thuộc nhóm lính thợ đầu tiên đăng ký hồi hương. Chú
thương cái xóm Rạch Rít của tôi. Chú nhớ quê hương, bà con lối xóm. Chú không
chần chừ rời khỏi mảnh đất xa lạ bị tàn phá với nhiều kỷ niệm chú cố gắng quên
mau, xem như một vấp váp trong đời mình.
Sau này, chú có
thố lộ tâm trạng của chú lúc đó như những chú cá lóc, cá trê, cá rô… ưa thích
sống trên đồng ruộng, bưng biền hay đầm vũng, nơi chúng được sinh trưởng và lớn
lên. Sau này nên hình nên vóc, dù cho đồng ruộng có cạn khô mùa nắng, dù cho
bưng biền có hết nước đi nữa, nhưng chúng nó không bao giờ phiêu lưu thoát ra
sông cái đầy cạm bẫy. Trái lại, chúng nó lần mò tìm mọi cách rút xuống ao sâu
đầm vắng, như chúng quyến luyến không rời bỏ được vùng đất dưỡng nuôi bảo bọc
chúng trước đây. Cũng như chú, chú không thể bỏ được quê hương Rạch Rít của chú.
Khốn nỗi, chú muốn
quên nhưng sao những kỷ niệm đó vẫn đeo đẳng chú không thôi. Chú nhất quyết hồi
hương không một phút giây do dự. Chú càng thêm thương một số ít bạn bè trong đơn
vị chú. Trong thời gian lưu lạc, chúng lỡ đụng một cô đầm mắt xanh mũi lỏ, đã có
con cái lóc nhóc vài đứa tóc hoe da bánh mật, nên đành bị cột chưn cột cẳng ở
lại, buông xuôi đời mình theo định mệnh đẩy đưa.
Phần chú, sau mấy
năm trôi nổi ở Pháp, chú trở nên lỡ thầy lỡ thợ. Thầy không ra thầy. Thợ không
ra thợ. Chú hồi hương trong tay không một nghề ngỗng đảm bảo nào, trừ cái bệnh
nghiện rượu mới chết.
Thời chiến tranh,
ai thiếu rượu thì có, chớ nhà Quan Năm chỉ huy trưởng đơn vị thì dư giả, tha hồ
mà uống. Rượu nhà quan thường là thứ rượu ngon. Không uống cũng uổng. Vã lại, có
rượu vào chú cảm thấy đỡ lạnh hơn và cũng để được ấm lòng những lúc nhớ nhung.
Uống riết trở thành thói quen. Bỏ không được nữa.
Lúc ở tàu thủy
lênh đênh trở về quê cũ, ngồi một mình trên boong tàu ngắm nhìn mặt nước trong
xanh với những con hải âu thỉnh thoảng chập chờn xa xa, chú tự an ủi mình. Chú
nhại theo câu "văn chương phú lục chẳng hay...." thuở còn đi học trường làng.
Chú ngâm nga khe khẽ qua nỗi buồn man mác cứ chực xâm chiếm tâm hồn lạc loài xa
xứ của chú:
Đi Tây lỡ dỡ phận này
Trở về làng cũ học cày nuôi thân...
Bọn chúng tôi xem
như thường xuyên có mặt ở nhà chú Năm Nghê. Lúc nào cũng vui nhộn lắm. Chú độc
thân nên chúng tôi rất tự do thoải mái bày biện. Chúng tôi thơi thới không lo có
bóng dáng đàn bà lãi nhãi tối ngày, hò hét, ong óng rầy la để nhà cửa được ngăn
nắp sạch sẽ, giữ trật tự nề nếp trong ngoài.
Người lớn thường
tụ năm tụ bảy ngồi nghe chú kể chuyện đi Tây, đi Phi Châu, những nơi chú từng để
chân đến. Tha hồ chú vẽ vời mê hoặc chúng tôi.
Có nhiều đoạn chú
day qua nhếch mép bảo nhỏ chúng tôi:
- Tụi bây còn nhỏ
quá, con nít con nôi, chưa tới tuổi để có quyền nghe đoạn này. Đợi lớn chút nữa
đã...
Nhưng bên vách
ngoài, chúng tôi nghe loáng thoáng những trận vui chơi "trả thù dân tộc" gì đó
với những tiếng cười ầm vang như muốn vỡ cả mái chòi của chú. Chú bảo đầm "phẹt"
(ferme), nhiều cô trắng bạch nhưng khổ nỗi lại to con, dình dàng như voi. Người
mình trái lại như con cá lẹp, như con mực khô trúng nắng, đứng kế bên bắt ớn
lạnh rùng mình.
Chú tắc lưỡi:
- Tội nghiệp! Tao
có mấy thằng bạn cùng đơn vị lấy vợ đầm. Ban đầu coi cũng được đến. Chúng nó
cũng hạnh phúc đáo để, mặc dầu không xứng lứa vừa đôi dưới con mắt quê mùa của
tao. Nhưng về lâu về dài, tình cờ gặp lại tụi nó, trông chúng nó thảm não xác
xơ làm sao! Chúng nó ốm tong ốm teo như con cắc kè phơi khô, xanh xao hết xíu
quách. Nhiều đứa chắc để làm cảnh mà chơi… chớ làm ăn gì nổi. Còn đa số bị mấy
mụ vợ đầm sung sức, chẳng ngần ngại đạp đít, lôi ra tòa xin ly dị cả.
Rồi chú kết luận
như đã tìm ra chân lý:
- Người Á Đông
mình làm sao bì được với người Âu Châu. Sức khoẻ họ như trâu cui trâu cổ trong
khi mình là con hái oé mà!
Riêng chúng tôi,
chúng tôi miệng mồm há hóc, rất thích nghe chú bật tiếng Tây tiếng u. Chúng tôi
chẳng đứa nào hiểu một tiếng nhứt một nhưng khoái lắm. Lúc chú nhậu ba mớ, cứ
thoải mái "mẹt, mẹt", "xà lồ", "phuốt mỏa lơ căng", "quì mông xừ", "măng
phú"... Chúng tôi phục chú quá cở thợ mộc.
Nghe chú nói chú
còn "xạc cà rây" mấy thằng Tây, ngang ngửa với chúng. Chúng tôi chẳng những
ngưỡng mộ mà còn thầm bái phục chú dài dài hơn ai hết, nhứt là khi chú quả quyết
mấy ông Tây này thuộc hàng Tây "chính cống con nai vàng" nữa.
Có đứa hít hà thốt
những lời khen chú tận mây xanh, không lời lẽ văn chương bình dân nào có thể so
sánh được. Khen là khen sự đương đầu can đảm của chú trực diện với Tây mẫu quốc.
Thay vì nhan nhản trước mặt chúng tôi, những ông Hương chức Hội tề đều khom lưng
xá xá, thập thò bẩm dạ với mấy tên Tây lai, lai cả ba bốn đời từ khi có mấy ông
Tây đầu tiên phiêu lưu đến đất Nam Kỳ Lục Tỉnh hoặc ngay với mấy tên Tây Đen,
Chà và Ma ní tào cáo.
Chú trở thành thần
tượng của lớp trẻ chúng tôi vì chú thường cao giọng xác nhận, ở xứ tự do dân chủ
như Pháp, chú không sợ, chẳng ngán ai cả. Có pháp luật đàng hoàng che chở và có
đủ thứ tự do. Sự hà hiếp bất công dẫu có đi nữa cũng có chừng mực, không đến đỗi
hà lạm lộng hành như bên mình.
Chú Năm Nghê ở một
mình nhưng không vì thế cuộc đời chú mất vui. Đối với chú, niềm vui là một cái
gì thiêng liêng cao cả. Thiếu nó không thể được. Nó hướng dẫn cuộc sống hài hòa
và quân bình của chú.
Có hôm chú nghiêm
nghị trúc bầu tâm sự. Và chúng tôi nhớ mãi cái triết lý sống lành mạnh và thực
tế của chú:
- Thật tình, tao
hiện sống một mình, không cha mẹ anh em, không vợ không con, nhưng tụi bây
tưởng tao cô đơn hà? Không đâu.
Chú khẳng
quyết:
- Tao không hề cô
đơn chút nào. Đối với tao, cô đơn làm sao được và hai chữ cô đơn chẳng có nghĩa
lý gì cả. Bây chẳng thấy, chính tao đã tạo ra bạn bè không thiếu gì, hằng hà lũ
khũ, trong đó có cả lũ chúng bây.
Ngừng một chút,
chú như người tìm ra được một lẽ sống tuyệt vời nên nói tiếp cho hả hơi:
- Cô độc chẳng có
gì đáng lưu ý cả. Cô độc vì chính bản thân mình chọn lấy làm phương cách sống
riêng của mình mà. Một sự tự nguyện trong tự do. Đâu có ai làm áp lực bắt buộc
mình chọn lựa bao giờ đâu? Nhưng khổ nhất chính là sự cô đơn. Tao nghĩ cho cùng,
sống cô đơn mới buồn tẽ thê thảm nhứt trong đời người. Cho nên nhiều người không
chịu nổi cảnh cô đơn, không còn thích sống
nữa!
Chú giải thích
thêm:
- Cô đơn là vì
mình chẳng có người đồng hành đồng điệu chung quanh để cảm thông, chia xẻ buồn
vui. Không có người đồng tâm cùng chí hướng để nương tựa những lúc trợt chân vấp
ngã. Chẳng có bạn bè thân hữu, chẳng có tri âm tri kỷ đỡ nâng tinh thần khi
xuống chó chán chường. Sống như vậy tức là sống bơ vơ lạc lõng ngay giữa chợ
đời, trong khi cô độc chẳng hề bơ vơ chút nào cả.
Hít một hơi thuốc
dài, đôi mắt rõi theo hai làn khói thuốc lững lờ bay lên hướng trần nhà, chú
tiếp:
- Tụi bây hiện còn
nhỏ. Sau này lớn lên lỡ trong đám tụi bây có đứa nào bất hạnh sa trong cảnh cô
đơn thì thiết tưởng chừng đó tụi bây cũng không nên trách ai cả. Đừng trách đời.
Đừng trách người. Đừng trách thiên hạ hay kẻ bàng quan. Trong trường hợp đó,
trước hết bây nên thành thật xét mình và tự trách mình cái đã. Vì sao? Bây biết
không?
Chú nhìn chúng tôi
với đôi mắt thiết tha trìu mến:
- Kinh nghiệm cho
tao thấy đời sống hằng ngày vô cùng tươi đẹp với muôn màu muôn sắc và ý nghĩa.
Tha hồ mà chọn lựa. Đời rất hấp dẫn, chất chứa bao nhiêu lôi cuốn quyến rủ gọi
mời. Đời lại muôn hình vạn trạng. Mỗi người nhìn một góc cạnh nào đó của cuộc
đời để qua cái đẹp mình vừa khám phá, đón nhận đời với niềm vui hạnh phúc tự
tạo. Từ đó dẫn dắt mình thêm thương yêu cuộc sống, thêm thương yêu những gì
chung quanh mình như yêu người, yêu thiên nhiên, yêu nội tâm, yêu ngoại cảnh…
Tất cả đều bao la không biên giới. Đời luôn luôn mở rộng cửa nẻo thênh thang để
vẫy mời đón đợi, mở rộng những ngõ ngách lối đi niềm nỡ tiếp rước mình. Chỉ có
những ai bi quan chán chường, những tâm hồn bịnh hoạn, trật đường rầy mới lạnh
lùng quay lưng lại đời. Những hạng người đó mới thực sự cô đơn thôi.
Như ngoái nhìn lại
thân phận mình, chú nở nụ cười mê hoặc chúng tôi:
- Tao quả tình cô
độc thật đấy nhưng chưa bao giờ tao thấy cô đơn bao giờ, dù cô đơn trong tâm
tưởng. Bầu bạn tao vây quanh, không lúc nào vắng. Cả đến mấy đứa nhóc con chúng
bây, có đứa miệng còn hôi sữa nữa nên tao vui đáo để. Tao đã nói nhiều lần rồi,
niềm vui và bạn bè là lẽ sống của tao mà! Hạnh phúc do chính mình tạo ra mà có.
Những năm về sống
nơi quê nhà, chú Năm Nghê có nuôi một con chó cỏ làm bạn hủ hỉ những lúc chúng
tôi vắng mặt và bè bạn chú bận việc đồng áng, nhứt là vào ngày mùa, công việc
thúc hối như chạy Tết. Nhu cầu xô đuổi cảnh lẻ loi cô đơn chăng? Dù sao, thấy
chú thân mật và thương mến nó lắm.
Đi đâu, nó tò tò
đi theo sát một bên quyến luyến. Nhớ lại lúc còn giúp việc nơi nhà Quan Năm ở
miền Bắc Pháp, chú săn sóc, cho ăn uống, chải lông, chiều chiều bách bộ dẫn đi
dạo quanh đường phố Dunkerque con chó "bẹc giê" Đức của bà vợ. Con chó được
huấn luyện đàng hoàng, cho thụ huấn ở trường chuyên nghiệp với những huấn luyện
viên lão luyện đầy kinh nghiệm nên rất dễ dạy bảo và sai khiến.
Nhờ ba mớ kinh
nghiệm học lóm đó, nay chú áp dụng cho con chó cỏ của chú. Nó gốc Việt Nam rặc
nòi nhưng khôn ngoan thông minh không kém. Nó biết nghe và hiểu rõ tiếng Tây
trong khi lũ chúng tôi bù trơ bù trớt, không một chữ nhứt một làm vốn để lên mặt
khoe khoan với xóm làng.
Chú Năm bảo "át
xi", nó lật đật ngồi cạnh bên, chăm chú hướng thẳng về phía trước như trong tư
thế đứng nghiêm chờ lệnh. Chú búng tróc tróc chỉ xuống đất nói khe khẽ: "cút sê,
cút sê", nó vội mọp xuống nằm yên bất động, đôi mắt tinh ranh lấm lét, trông nó
ngoan hiền dễ thuơng làm sao.
Nó lỡ làm chuyện
bê bối, chú Năm không vừa ý, thét to dằn mặt nó: "pờ pa, pờ pa", "ố là là, ố là
là". Con chó hoảng hồn, vừa đi vừa cúi xuống biết lỗi, đuôi nó cúp dài thòng
xuống sàn đất. Chú khen nó đáo để: "bi en, bi en"...
Chúng tôi thuộc
hàng Uất Trì Cung, nghe chú nói tiếng Tây như vịt nghe sấm trong khi con chó cỏ
của chú lại tỏ ra thông minh ngoại hạng. Chúng tôi phục con chó cỏ đã đành, còn
phục người khéo dạy nó, tức chú Năm Nghê, một nhân vật quả đặc biệt của xóm tôi.
* *
*
30/04/1975.
Chú Năm Nghê quay
về sinh sống ở xóm Rạch Rít sau thời gian khá lâu lánh nạn ở chợ quận do
chiến tranh vùng ven đô sôi động từng lúc, đè nặng áp lực uy hiếp thủ đô. Chú
trở lại ngôi vườn xưa, cất một mái tranh ọp ẹp hẹp té, vừa đủ tránh mưa che
nắng.
Con chó cỏ vẫn
trung thành, quấn quít theo gót chân phiêu lưu lang bạt của chú. Nay có nơi có
chốn ấm cúng, vào ra tự do thông thả, quẩn quanh hủ hỉ với chú. Nó vẫn tuân hành
răm rắp lệnh của chú qua mấy tiếng Tây chú học lóm trật vuột lúc được biệt phái
làm việc vặt nơi nhà ông bà Quan Năm.
Chú kiểm điểm và
quá xúc động nhận thấy bà con trong xóm không còn bao nhiêu người. Phần lớn đã
thành người thiên cổ trong những hoàn cảnh bi ai trầm thống. Lai rai còn lại vài
người lân cận sát cạnh hè.
Mấy đứa trẻ chồng
nhộng, ngu ngơ khờ khạo, ngày nào bị chú xô đuổi mỗi khi chú kể chuyện "nhứt dạ
đế vương", những cảnh ăn chơi cụp lạc, hưởng thụ ở Phú Lang Sa cho người lớn
nghe, nay già trước tuổi vì quá dày dạng gió sương. Tất cả đều dóc lòng bắt tay
xây dựng lại trên đổ vỡ, hoang phế.
Chiều chiều, họ
vẫn còn nhớ thói quen đến chòi lá của chú. Không phải để nghe chú kể tiếp chuyện
bên Tây bên Tàu hay Phi Châu như thuở nào, mà để thở vắn than dài, để trút bớt
phần nào tâm sự ngổn ngang hay bao nhiêu u ẩn uất ức trong lòng.
Ruộng nương mênh
mông bát ngát giờ đây không còn là sở hữu của họ nữa, để trở thành tài sản chung
của đảng và nhà nước. Ủy ban nhân dân xã quản lý hết đất đai ruộng vườn, không
sót một tất đất. Họ xét theo tiêu chuẩn nhân mạng trong mỗi hộ, mỗi gia đình để
phân phối nghĩa vụ sản xuất đối với quốc gia theo phương hướng hợp tác hóa.
Bước đầu là vậy.
Sau này dần dà sẽ tiến tới làm ăn sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, tập thể hóa
nông thôn như họ không ngớt lớn tiếng khoát lát rêu rao, lập đi lập lại nhàm
tai.
Chú Năm Nghê đã
quá xa cái tuổi "thất thập cổ lai hi" mà ngày xưa thi bá Đỗ Phủ mơ ước. Chú
không còn trong tuổi lao động, xem như ngồi chơi xơi nước, như Ông Táo bỏ xó gốc
đa đầu làng. Chú không có quyền cày sâu cuốc bẩm để thực hiện giấc mơ "Trở về
làng cũ học cày nuôi thân" theo sự thôi thúc réo gọi thầm kín của quê hương, lúc
chú mãn hợp đồng lính thợ không chuyên ở miền Bắc Pháp.
Ngôi nhà của chú
lúc này vắng vẻ buồn tênh. Lệnh của Ủy ban nhân dân cấm tụ tập đông người ngoài
trụ sở xã. Phần chú bị ghép vào thành phần phản động chống chế với lý lịch tèm
nhèm do quá khứ làm tay sai cho thực dân đế quốc. Nhứt là trong ngôn ngữ hằng
ngày, chú vẫn có thói quen không cải sửa được. Chú cứ tiếp tục xổ từng loạt,
tràng giang đại hải tiếng Tây tiếng u, không ai hiểu chú nói gì.
Các đồng chí ở Ủy
ban hay chi bộ với niềm tự hào "tam đại bần cố", chữ nghĩa mẹ đẻ không đầy lá me
lá mít. Họ nghe chú phát ngôn như nước đổ lá môn, đâm ra nghi kỵ, âm thầm theo
dõi từng bước đi của chú.
Bỗng nhiên, từ dạo
đó, chú vốn đã cô độc nay thật sự trở thành cô đơn. Một tâm trạng oái oăm đau
đớn, chú từng cực lực không hết lời lên án những năm trước đây. Chú chỉ còn cách
mai mĩa, ưng khuây khỏa qua ngày làm bạn với con chó cỏ một mực trung thành. Con
đường duy nhứt để chú tìm nguồn hạnh phúc và một chút niềm vui đã mất.
Hằng ngày, chú
chăm sóc vườn tược, trồng trọt hoa màu độ nhựt. Chú cải thiện bữa cơm với cá
tôm câu được lẩn quẩn bên nhà. Chú sống ẩn dật, thầm lặng như các tiên ông ẩn sĩ
thiền môn ngày xưa.
Họp hè ở Ủy ban,
kẻ réo gọi, người thúc hối, chú "xăn phú". Chú có đi tham dự lần nào đâu. Chú
thích ở nhà, nằm tréo ngoảy đọc chuyện đời xưa của nhà bác học Trương Vĩnh Ký,
mấy pho chuyện chương hồi của Tàu: Tam Quốc Diễn Nghĩa, Phong Thần, Thủy Hử...
do danh sĩ Nguyễn An Khương dịch thuật, Chung Vô Diệm, Tây Hớn, Mạnh Lệ Quân...
của dịch giả nổi tiếng một thời ở Miền Nam, Nguyễn Chánh Sắt hoặc Phong Thần
Diễn Nghĩa, Vạn Huê Lầu... của cụ Trần Phong Sắc mà chú còn giấu giữ được. Dù
nay các pho truyện này đã cũ mèm, lại mất trang mất chữ. Có quyển nói nghe xôm
tụ lắm nhưng không còn bao nhiêu trang do quốc nạn giấy quyến khang hiếm khó
tìm, chú lần lượt xé vấn thuốc rê hút hằng ngày.
Lâu lâu, chú "mẹt,
mẹt", "xà lồ" rùm lên. Con cho cỏ ngớ ngẩn vội chạy lại liếm tay chú một cách
trìu mến. Chú dịu lại, âu yếm lấy tay xoa nhẹ đầu nó như để quên đời, quên thế
sự, quên tất cả. Chú tự vỗ về qua chút hơi men chắt mót, loại hàng tiêu dùng cấm
kỵ ở những ngày đầu tiếp quản theo quan điểm đạo đức cách mạng trong khí thế
đang lên.
Tôi gặp lại chú
Năm Nghê hai ba năm sau ngày bộ đội cụ Hồ cưỡng chiếm thủ đô. Lúc bấy giờ có
chiến dịch giải tỏa thành phố, giản dân, đưa dân đi vùng kinh tế mới. Nói "đưa"
cho hợp với mỹ từ đầu môi chót lưỡi đường mật của cộng sản, chứ thực ra là bức
bách, làm áp lực ép uổn nặng nề đuổi nhà cướp của. Còn vùng kinh tế mới chẳng
qua là vùng đất khô cằn sỏi đá, hổn mang hoang vu, nơi người dân lương thiện bị
khống chế lưu đày mãn đời trọn kiếp.
Gia đình tôi được
Ủy ban phường thương yêu chiếu cố đặc biệt. Tên ủy viên phụ trách kinh tế mới
của phường và tổ trưởng tổ liên phố thay phiên nhau "làm việc", liên tiếp động
viên ngày này qua ngày nọ. Sau cùng họ lên danh sách những người ưu tiên được
hưởng biện pháp giúp đỡ của nhà nước cách mạng. Dồn dập, thúc bách lắm. Hộ khẩu
sẽ bị thu hồi và chế độ phân phối nhu yếu phẩm đương nhiên sẽ bị cắt hẳn, nếu
những đối tượng không tuyệt đối chấp hành chủ trương và đường lối cách mạng.
Nhưng trớ trêu,
oái oăm thay. Tôi chưa lên đường đi kinh tế mới, thì trái lại ông ủy viên phụ
trách kinh tế mới bỗng nhiên đứt mạch máu não, ngã chết bất đắc kỳ tử. Tên «cách
mạng ba mươi» này nổi tiếng hắc ám, trơ trẻn trở mặt với bà con. Vì vậy cả
phường đồn rùm, ông ủy viên, cán bộ giờ chót vốn rất tích cực lấy điểm trong
nhiệm vụ lùa dân giải tỏa phường khóm, đã "giã từ gác trọ" đi kinh tế mới rồi!
Tiếng đồn thấu tai
khiến Ủy ban phường ra lệnh trong những đêm họp tổ liên miên, cấm không cho phổ
biến những lời mai mỉa nhạo báng, lập luận phản động đó. Chúng còn chụp mũ là do
bọn CIA và tàn dư Mỹ Ngụy còn sót lại tuyên truyền chống cách mạng. Như vậy có
nghĩa người nào vẫn tiếp tục phổ biến xem như là thành phần chống đối, bất hảo.
Tôi bàn với tiện
nội hồi hương, thử trở về xóm cũ "học cày nuôi thân". Thật ra trong thâm tâm là
để có hộ khẩu đảm bảo cuộc sống hằng ngày, dù vất vưởng không ngày mai, chẳng ra
hồn ra xác gì cả. Tôi được chú Năm Nghê dang tay đón rước nhiệt tình như thuở
nào. Chỉ có khác là nay chú phong trần quá đỗi, còn tôi cũng lận đận gió sương
không kém.
Tuy vậy, cả hai
chúng tôi vẫn hưởng những giờ phút thoải mái tuyệt vời, thực sự tin cẩn, thực sự
thương yêu nhau. Bên ánh đèn con cốc yếu ớt, phựt phựt thiếu dầu, hằng đêm chú
tiếp kể những chuyện bên Tây bên Đức đến khuya lơ để nhớ nhung một thời khoảng
xa xưa và cũng để vỗ về giấc ngủ hiện tại.
Chú có chỏng tre,
mỗi lần lăn lộn nghe như nó vặn mình răn rắc, đau đớn lắm. Tôi tòn ten như ngày
xưa trên chiếc võng bắt ngang hai cây cột chòi bếp. Con chó cỏ của chú cứ đeo
theo cọ sát vào võng tìm nơi nương tựa. Quả sút vật cũng sợ cảnh lẻ loi cô đơn.
Đêm đêm cả hai chú cháu chui vào nóp bằng lác trùm phủ kín đáo tránh muỗi mòng
đâm chích rồi ngủ say sưa bất biết lúc nào không hay.
Dự tính của tôi
thất bại đau thương. Không phải vì tôi sợ khó khăn lao nhọc, chân lấm tay bùn.
Những năm lặn hụp nơi cái chéo quê hương ruộng rẫy, ít nhiều tôi cũng có nhúng
tay vào việc đồng áng và cũng thật sự có đổ mồ hôi trên thửa mạ luống cày.
Kỳ thực, Ủy ban xã
vốn đa nghi còn hơn Tào Tháo. Bản tính cố hữu của họ không tin một ai cả, trừ
đồng bọn đảng viên mà đôi khi chúng còn nghi ngờ. Họ nhìn tôi như một tên tội
đồ, thành phần ngụy, kẻ phản động của chế độ cũ, đổi vùng tránh né mạn lưới
trừng trị bũa vây của địa phương nơi tôi thường trú trước đây. Họ đâu ưng cấp
phát ruộng đất để tôi có cơ hội cạp mà ăn. Còn việc hợp thức hóa hộ khẩu là
chuyện mông lung xa vời.
Cán bộ xã được uốn
nắn nhồi nhét trong một khuôn mẫu tiền chế cố định, bất di bất dịch. Chúng không
bao giờ từ chối lời yêu cầu chánh đáng của tôi cũng như của bà con khác một cách
thẳng thừng dứt khoát. Chúng cố viện lý do này nọ để thả nổi, kéo dài cù cưa cù
nhầy, tránh né lấy quyết định cụ thể chung thẩm. Mỗi lần đối mặt, chúng vòng do
Tam Quốc, áp dụng chính sách câu giờ, «cứt trâu để lâu hóa bùn » hầu nhận chìm
xuồng luôn.
Bất cứ việc gì
cũng thế. Chúng làm cho người dân cứ bám đeo theo một chút ánh sáng hy vọng hão
huyền, không bao giờ có, chẳng bao giờ là sự thật. Người dân đành phải bấm bụng,
cắn răng chịu đựng.
Ông trời cứ chập
chập gầm gừ gào thét. Hằng ngày mây đen mỗi lúc thêm vần vũ. Mùa mưa sắp đến nơi
rồi. Ruộng nương không ngơ. Tôi thất vọng.
Chú Năm Nghê thở
dài não nề. Nhiều hôm chú bất mãn, phản ứng lớn tiếng. Tôi hết lời khuyên can,
nhắc lại chuyện Hàn Tín lòn trôn giữa chợ, lúc thanh thiên bạch nhựt đông người
mà mấy năm trước chú có kể cho chúng tôi nghe. Những bài học ẩn nhẫn, giả điên
giả dại đó giúp mình qua những truông nguy hiểm.
Dù vậy, chú vẫn
bực dọc cau có:
- Tao đâu ham
sống, nhứt là thời buổi này. Nói như vậy thật tình nghe trái tai quá! Ở đời ai
mà không ham sống? Người giàu có đã đành, nhưng đứa khổ nghèo gian khó cũng vậy
thôi. Trong những lúc vui, tao đã từng mơ ước sống đến trăm tuổi để xem đời
chơi. Nhưng thú thật bây giờ tao thích đời tao được kết thúc sớm chừng nào tốt
chừng nấy.
Chú chậm
rãi:
- Ông bà viễn tổ
mình nói đúng lắm: "Chết trẻ khỏe ma, chết già nhọc xác". Sống lâu trong chế độ
này thêm nhục nhã. Tao cầu nguyện ông Trời thương, ngủ một đêm đi luôn, khỏe ru
bà rù, không phiền hà ai, ngay cả cái bản thân của mình nữa. Sống thoi thóp, cơm
ngày hai buổi, chạy túi bụi, mệt cầm canh mà còn bữa đói bữa no. Chết đói cà dựt
cà dựt như vầy thêm đau đớn, tội cho xác thân.
Chú được nước thao
thao:
- Cái đám lãnh đạo
lãnh địa, chỉ đường chỉ ngõ này, dốt đặc cán mai. Chữ viết như cua bò, quọt quẹt
chấm phết như ở thời phong kiến La Mã. Nhiều tay vua chúa, tướng tá chém giết
không ngừng tay, oai phong lẫm liệt hò hét thét ra lửa, nhưng khi ký tên chỉ có
hai sổ ngang và đứng làm dấu thánh giá. Làm sao chú cháu mình ngóc đầu dậy nổi?
Họp hè thúc réo, tao đếch có đi. Tao "măn phú". Tới đâu thì tới. Đường cùng
rồi! Tụi nó có muốn làm gì thì làm. Sao cũng được. Đầu tao đã bạc trắng rồi!
"Trâu già chẳng nệ dao phay" mà!
Tội nghiệp chú Năm
Nghê. Chú "xăn phú", "mẹt, mẹt", "ố là là, ố là là"... tối ngày. Chú nhậu đế dài
dài, tìm niềm vui trong nội tâm, tìm an ủi trong trí nhớ.
Nếp men còn đâu
bày bán tự do cùng khắp như ngày xưa hầu nấu rượu tại gia. Rượu bị kiểm soát
chặt chẽ. Nguồn lợi của nhà nước mới, thay thế hệ thống đại lý độc quyền cũ R.A.
còn hơn Tây thực dân gấp bội.
Chú đành gởi mua
rượu quốc doanh nấu bằng đủ thứ thập cẩm xà bần theo đà phát huy sáng kiến làm
giàu xã hội chủ nghĩa của những nhà khoa bảng "nhảy dù" cù lần lửa, con cưng của
chế độ. Uống vào nóng rát phổi. Mỗi lần chú muốn quên đời, quên cuộc sống phũ
phàng, nghiệt ngã hiện tại, chú đành "chữa cháy" với chút ít nước dừa hoặc nước
trời mưa chứa ở khạp da bò ngoài hiên nhà.
Còn đâu những loại
rượu thuốc, loại tam xà thập xà đại hội ngày xưa gọi mời nhan nhản đầu hẽm cuối
phố. Có tiền cứ mua uống thả cửa. Dù sao, đối với chú cũng là một giải pháp tạm
qua ngày, chờ giờ phút trở về nước Phật.
Riêng đối với tôi,
những ngày về quê cư ngụ nơi nhà chú Năm Nghê, tôi cũng tìm được một chút bình
ổn trong tâm hồn. Tôi xa lánh thị thành, đỡ nhức đầu vì cuộc sống, tạm thời đỡ
hồi họp lo âu đêm ngày.
Tôi viện lý do về
quê sản xuất nhưng giấy tờ cư trú còn trục trặc nên cứ phải xin gia hạng giấy
phép di chuyển luôn. Khốn nỗi, thằng công an phường, mặt mày hắc ám, cứ dở cái
giọng Miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa "đỉnh cao trí tuệ", "bách chiến bách thắng" để
hống hách, làm eo làm xách người thua cuộc. Nhưng kỳ thực để kiếm chút cháo
trong lúc giao thời tranh tối tranh sáng. Đám con cháu Bác Hồ nghèo xơ nghèo xác
đang hồ hởi tập tành đổi đời qua những tiện nghi phồn vinh giả tạo của Miền Nam.
Thỉnh thoảng tôi
đáo về nhà vài ngày nửa tháng rồi lại xin vắng mặt tiếp lo thủ tục hồi hương. Cứ
tái diễn mãi cảnh bấp bênh không ngày mai ấy. Thực tình mà nói, đây là cách
"thực tập chiến lược" để phường khóm và tổ dân phố quen dần với sự vắng mặt
thường xuyên của tôi. May ra một ngày quang đãng tốt trời nào đó, tôi có vượt
biên, công an khu vực và tổ phó an ninh không kịp thời khám phá.
Một hôm, tôi đang
đong đưa trên võng, vừa mới thiu thiu thả hồn phiêu dạt nơi cõi mông lung mơ hồ,
chập chờn thời vàng son hun húc, thằng Bảy Bèo, con chú Năm Điều, vừa đi sanh
hoạt thanh niên ở xã về ngang. Tôi giựt mình choàng nhỏm dậy. Vì khi nghe tiếng
con chó cỏ sủa thúc lắm, rồi nó hực hực mấy tiếng nhè nhẹ như đã nhận diện được
người quen.
Bảy Bèo ghé vào
đấu chuyện tào lao cho vui giây lát. Trong lúc ấy chú Năm Nghê cũng trở vô nhà,
bỏ nửa chừng việc vỡ vòng khoai mỡ đầu ngõ.
Chú lấy giọng đàn
chú đàn bác, dỏng dạt gọi lớn:
- Thằng Bảy đó hả?
Vô đây. Có chú Ba bây ở trổng. Tao đang rửa tay rửa chưn nè. Không lâu đâu.
Thằng Bảy Bèo chào
hỏi tíu líu thân mật, làm như đã từng xa cách nhau lâu ngày mới gặp lại nhau. Nó
tía lia còn hơn cái loa phóng thanh ong óng mỗi buổi sáng và chập tối ở các trụ
sở quận huyện. Tay nó ôm kè kè bên mình mấy quyển sách mới tinh, bìa cáu cạnh,
còn thơm phức mùi giấy mực.
Nó vui miệng bảo:
- Tôi vừa sanh
hoạt ở Ban Thông tin Văn hóa về đây. Nhớ ông Năm và chú Ba nên tạt vào thăm.
Rồi nó tắc lưỡi
phiền hà ngay:
- Mình làm việc
quần quật tối tăm mặt mày vẫn trỏm lơ, đói dài dài, âu lo thấp thỏm, cái chết
đói chập chờn tới nơi ngay trước mặt. Vậy mà cán bộ trưởng ban khuyến khích phải
lấy sách cách mạng về đọc. Họ nói phải biết trao dồi kiến thức kiến ngủ gì đó để
được xứng đáng là con người mới xã hội chủ nghĩa. Dĩ nhiên là dưới sự lãnh đạo
«thần thánh» của đảng. Họ làm như chữ nghĩa giúp mình no bụng hằng ngày vậy.
Nó gãy gãy đầu,
đưa tay vuốt lại mớ tóc bùm xùm lâu nay chẳng được hớt, rồi khoan thai nói tiếp:
- Hồi xưa, lúc ba
tôi còn sõi, không biết để an ủi về hoàn cảnh khó khăn của mình hay không hoặc
thanh minh thanh nga bào chữa mà ổng hay hóm hỉnh nói, ở đời người ta lấy thúng
đong lúa bán cho lái để có tiền nộp chủ điền hay mua sấm chút ít trong nhà chớ
có thấy ai lấy thúng đong chữ bao giờ đâu? Ổng cũng hay ví von, "văn hay chữ
tốt" mà làm gì, khi ổng bắt tôi nghỉ học sớm phụ giúp ổng làm ruộng. Ổng đoan
quyết người trước có lý cho rằng "văn hay chữ tốt, không bằng thằng dốt có
tiền". Rồi ổng bảo "có tiền mua tiên cũng được".
Bảy Bèo tỏ vẻ suy
nghĩ hung lắm:
- Tuy ổng dốt thật
đó, nhưng được một cái là ổng lại thêm mấy câu chí lý đáng đồng tiền bát gạo
lắm: tiền ở đây không phải giấy con công hoặc giấy bộ lư bỗng dưng từ trên trời
rớt xuống, mà tiền nằm trong hai bàn tay của mình. Đôi lúc ổng chê tôi còn trẻ
chẳng hiểu gì, nhìn đời chỉ có nửa con mắt thôi. Còn nửa con kia khổ nỗi ổng
chê tôi nhìn không quá hai bờ bao ngạn trong xóm mình. Nhưng thật tình mà nói,
do hoàn cảnh nghèo túng của gia đình cũng khó giúp tôi học xa được, nên từ dạo
ấy, tôi sống nhờ hai bàn tay cũng không đến đỗi nào.
Nó đâm nghĩ ngợi
thêm, thoáng một nỗi buồn nằng nặng:
- Họ bây giờ đang
sống tận mây xanh. Tôi mang sách về chắc sẽ vứt vào một xó nào đó. Thời giờ có
đâu rổi rảnh trong khi vạt áo lai quần vẫn ướt mem suốt ngày. Không lấy đem về,
người ta nói mình không hợp tác, thiếu thiện chí trao dồi cải tiến hay nặng hơn
nữa là chống đối cách mạng. Học tập bỏ mẹ đời!
Nó bỗng cười ngất,
giọng châm chọc:
- Mấy chú nghĩ
xem, họ bảo đọc sách lúc đói lên đói xuống này cầm bằng chặt đứt hai bàn tay làm
ra tiền của mình. Có đâu mua gạo đừng nói đến mua tiên?
Thằng Bảy Bèo ngồi
trên chỏng tre nơi chú Năm Nghê nằm ngủ mỗi đêm. Hai chân nó thòng xuống đất,
lắc lư, đánh tới đánh lui liên hồi. Chỏng tre nghe cọt kẹt không dứt.
Nó thái mái giở
một quyển thơ, lấy tay thắm nước miếng lật lật nhanh lẹ mấy tờ liền. Hai con
ngươi nó đảo tới đảo lui, chạy qua chạy lại nhịp nhàng như con thoi. Trình độ
học vấn của nó cũng không đến đỗi nào nơi thôn làng đèo heo cách trở. Nó học hết
cấp tiểu học ở quận lỵ Bến Lức nhưng không thi tuyển vào đệ thất, bỏ hẳn nghiệp
"văn chương phú lục", ưng làm bạn với cán cuốc chuôi cày.
Có lúc nó được đề
nghị làm giáo làng. Nhưng nó cương quyết từ chối. Nó quyết chí noi theo cái
triết lý sống của ba nó: lấy đôi tay làm ra tiền của tạo lập sự sản.
Nó chê rậm
rề bà chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã dốt đặc. Nó bảo bà ta nắm cây viết cứng đơ,
sượng trân. Bả viết trật lất văn phạm. Nó trông tuồng chữ ngả nghiêng xiêu vẹo
của bà ta, không ngay hàng thẳng lối chi cả, giống hệt như gà bới rác không
bằng.
Nó liệng gọn lỏn
quyển thơ dày cui trên mặt bàn trà:
- Thơ gì đọc nghe
chỏi tai quá trời. Hồi xưa ở trường, tôi có đọc những bài như "Qua Đèo Ngang Tức
Cảnh" của bà Huyện Thanh Quan hay "Mùa Thu Ngồi Câu Cá" của cụ Tam nguyên Yên Đỗ
Nguyễn Khuyến, nghe êm tai, chan chứa tình cảm, vần điệu rung động khiến tâm hồn
tôi lâng lâng man mác. Nói lén với ông Năm và chú Ba nghe cho vui rồi bỏ qua chớ
"thơ con cóc" còn hơn một bực.
Nó bỗng nhìn dáo
dác xuống giọng, cảnh giác:
- Tôi thật tình
nghĩ sao nói vậy. Không khéo có người léo hánh dòm hành nghe lén, đồ tới đồ lui
thấu tai bà chủ tịch, tôi đi học tập "mút mùa lệ thủy". Vì tôi vốn là lính ngụy,
mới được trả quyền công dân mùa trước.
Nó rất hãnh diện,
tự đắc biểu lộ ra mặt, sau bao nhiêu năm dài rời khỏi mái trường Bến Lức thân
yêu, nó vẫn còn nhớ vanh vách khoa danh Tam Nguyên và cố thổ Yên Đỗ của cụ
Nguyễn Khuyến. Nó hướng về ông Năm đang cầm cái tô sành nước mát giải khát:
- Ông Năm ơi! Ông
nghĩ xem có cà chớn không? Mình thì nghèo vất vả quanh năm vẫn đói rách. Ủy
ban cứ rang rảng bảo khó khăn chỉ tạm thời. Nào là gia tài, nào là di sản, nào
là hậu quả của Mỹ Ngụy để lại. Tiếp tục làm việc sẽ khấm khá hơn. Thôi thế nghe
cũng tạm được. Nhưng mấy năm nay làm hoài chẳng thấy gì, càng thêm đói rách.
Bảy Bèo tỏ ra bực
tức:
- Ông Năm và chú
Ba thấy đó. Mình đọc thơ mong tìm một chút an ủi vỗ về, một chút thơ mộng làm
vui. Mình mong bắt gặp một cái gì mình thiếu thốn hoặc những thứ mình ước mơ
nhưng trong thực tế lại thiếu vắng trốn chạy mình. Như hồi xưa đi xem hát cải
lương hay hát bội, bà con nghèo của mình có màng chi để ý đến tình tiết trạng
huống tuồng tích. Chẳng qua họ chỉ cần nhìn xiêm y lộng lẩy, tranh cảnh thần
tiên sắc màu, đào kép son phấn sặc sở, những thứ đó đủ cho họ quên cảnh rách
bương rám nắng hằng ngày của họ.
Nó bất
mãn:
- Đằng này, thơ gì
cộc lốc, cứ xúi giục chém giết thù hận, cứ nhè đồng bào máu mũ ruột thịt của
mình mà nguyền rủa sỉ vả nặng lời. Thơ gì cứ đòi diệt tận gốc bốc tận rễ. Khiến
tôi rùng mình nhớ lại cảnh chặt cổ sởn đầu, mổ bụng dồn trấu, thọc huyết cho mò
tôm hay bắn tét gáy những năm khủng bố... Thơ gì mà lỏng lẻo sượng sùng thua xa
câu hò đối đáp, câu hát huê tình của bà con mình quá.
Nó quay về phía
chú Năm Nghê:
- Đâu ông Năm thử
bắt giọng hát vài câu nghe chơi đỡ buồn nghe ông Năm! Chắc chắn mấy câu nhão nhè
nhão nhẹt của ông Năm nghe sẽ đứt ruột, thấu tim thấu phổi. Lâu quá rồi, tôi
ghiền nghe lại ông Năm ơi!
Chú Năm Nghê bèn
dát đát:
- Mấy thứ đó bây
giờ thuộc về văn hóa đồi trụy. Lỗi thời rồi. Tụi bây muốn, tao cũng chẳng sợ gì.
Trâu già mà! Chết là hết. Sự nghiệp tao chỉ có bây nhiêu thôi: cái chòi nhỏ hếu
này với cái giường tre ọp ẹp. Đủ chán. Chết phủi sạch nợ. Ai cũng như ai. Giàu
có cũng xuôi tay, quan quyền cũng chẳng nắm níu được gì. Cát bụi trở về với cát
bụi thôi.
Chú choàng qua nắm
tay thằng Bảy Bèo âu yếm:
- Nhưng tao thương
tụi bây còn nhỏ, tương lai còn dài. Không khéo người ta quy cho bây tội này tội
nọ, khổ lây mà mang họa. Nhứt là mầy đó, Bảy Bèo, liệu hồn. Mầy còn cái thẹo gốc
"lính ngụy", không bao giờ lành lặng hẳn. Tao chẳng sợ, chẳng ngán ai. Tao chết,
tụi nó có ghét không cho chôn, để thúi cũng vậy thôi. Nhưng liệu chúng có dám
không?
Chú Năm Nghê lộ vẻ
buồn:
- Hồi xưa, Tây tà,
Tây đen Tây trắng, tao vô vài ly ngà ngà, thằng nào làn chàn cà chớn, tao "xạt
cà rây" bỏ ghét. Huống hồ gì đám đồ tể, đá cá lăn dưa, mặt mày đần độn bây giờ,
chữ nghĩa - nói xin lỗi tụi bây - tao nheo một cái bỏ tụi nó lẹt đẹt phía sau cả
dặm đường.
Chú vói lấy tập
thơ thằng Bảy Bèo vừa để trên bàn lò dò giở ra xem. Quả sách vừa xuất bản ở
thành phố mang cái tên nguyền rủa Hồ Chí Minh, ngày tháng còn mới ràng ràng nhờ
phương tiện hào nhoáng của Mỹ Ngụy để lại. Cách mạng làm gì có.
Chú cười mai mỉa:
- Chúng nó vào đây
tiếp thu với cái đít không. Trên răng dưới... tụi bây muốn thêm cái gì cũng
được. Hùn hạp, làm ăn chung tập thể, hợp doanh quốc doanh chỉ với hai bàn tay
trắng, ngoài ba mớ nước bọt với cái mặt mo không biết liêm sĩ và tình thương là
gì.
Chú Năm lật qua
lật lại, đọc lướt nên chẳng mấy chốc đã được quá nửa. Bỗng chú lấy tay chận lại
một trang, cười ruồi:
Đường ta rộng thênh thang tám thước
Đường Bắc Sơn, Đình Cả,
Thái Nguyên...
- Cứ theo giới
thiệu thì thi phẩm "Ta Đi Tới" này được sáng tác ngay sau kết thúc trận đánh
Điện Biên Phủ, trong khí thế sục sôi chiến thắng với thành quả xương máu vĩ đại
của cách mạng. Tao thì ít chữ lại thiển cận nhưng tao nghĩ nhà thơ hạng nhất của
chế độ hồ hởi dự phóng con đường đi tới trước mặt, con đường thênh thang ở tương
lai mà chỉ rộng có tám thước, không ổn chút nào hết.
Chú ngừng một chút
như để moi móc trong trí nhớ:
- Hồi lâu ở bên
Tây, tận vùng phía Bắc nước Pháp, tức xa thủ đô ánh sáng Ba Lê vài trăm cây số,
những con đường rộng rải na ná như thế không hiếm gì, nhan nhản khắp nơi. Đàng
này, xây dựng tương lai chế độ với những con đường rộng tám thước đã huyênh
hoang hãnh diện, đã thỏa mãn mừng húm, tao cho đó là đầu óc nông dân hạng bét,
cục bộ thiển cận, thua hẳn bà con khai rừng phá rẫy của mình ngày xưa quá cở thợ
mộc.
Rồi chú kết
luận:
- Thật đúng y chan
các ông bí thư, các bà chủ tịch bù trơ bù trớt, nhìn xa không quá mũi của xã
mình. Đất nước Việt Nam để cho những hạng người như thế lãnh đạo, chỉ lối chỉ
đường bạt mạng như vậy làm sao trở thành rồng? Tao dám nói không sợ lầm, tụi nó
sẽ biến xứ sở mình sẽ trở thành tôm thành tép, thành lươn thành lịch, hoặc thành
rắn ráo hay liu điu thôi.
Thằng Bảy Bèo để ý
chú Năm Nghê hơi lớn tiếng. Nó sợ thiên hạ đi ngang qua nhà nghe trộm. Thời buổi
bây giờ con người độc địa lắm, tráo trở như bánh phồng nướng lửa rơm. Nó lấp ló
nhìn chừng bên ngoài xem có ai núp ở hàng bông bụp hay không?
Chú Năm dịu giọng:
- Tao quên phức.
Tao cứ tưởng mình đang là công dân của nước Việt Nam Cộng Hòa hay ở bên Pháp tự
do. Nào dè... Buồn quá! Tao chẳng sợ dao phay đã đành. Nhưng tao cứ tội nghiệp
cho tụi bây. Tụi bây hãy còn cái búa cái liềm lòng thòng đe dọa trước mặt. Cho
dù tụi bây đều "sợ trước mặt" còn "sau lưng" tụi bây có thái độ nào tùy ý. Tao
là người lớn, tao không xúi biểu tụi bây thốt ra những điều thô tục.
Tôi vã lã khen chú
Năm Nghê có những nhận xét tinh tường và sắc bén. Chú dỏng dạt không đồng ý.
Chú cải lại như
một phản xạ tự nhiên:
- Sắc bén, tinh
tường cái quái gì? Nó đập ngay vào mắt, vào trí mình mà!
Chú lật tiếp mấy
trang, xem bộ ưng ý hay sao rồi ngưng lại một đỗi. Chú nhíu mày ra tuồng chăm
chú.
Gian nhà im lặng.
Giữa tôi và thằng Bảy Bèo chẳng có gì đáng nói. Bỗng chú lắc đầu, tắc lưỡi tỏ vẻ
thất vọng:
- Ô là là, là là.
Hết nước nói. Tao đọc đoạn này bây nghe rồi bây có ý kiến.
Chú quên câu thơ ở
đoạn nào, lấy ngón tay rà từng hàng, nhướng chân mày bạc phau, mở rộng tròng mắt
bực bội rồi tự ên một mình lẩm bẩm:
- Già lẩm cẩm,
quên trước quên sau. Ông Trời để sống làm chi thêm chật đất, tốn cơm tốn gạo,
chẳng làm gì ra trò trống. Để chỗ cho tụi trẻ tấn lên làm ăn.
Mắt chú bỗng sáng
lên:
- Đây rồi. Đây
rồi. Bây nghe đây:
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một,
thương ông thương
mười.
Ông ở đây là ông
Xít Ta Lin, trùm đỏ của Nga Sô đã về chầu hai ông Các Mác và Lê Nin mà nhà thơ
hết lời tâng bốc:
Yêu
biết mấy lúc con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Xít Ta Lin
Hoặc:
Giết!
Giết nữa! Bàn tay không phút nghỉ
Cho
ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho
đảng bền lâu cùng rập bước tơ lòng
Thờ
Mao chủ tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt...
Chú nói tiếp không
ngưng:
- Thật tình tao
không tưởng tượng được. Một người lạ hoắc lạ huơ ở tận vùng đất xa mút chỉ mà
nhà thơ vĩ đại khóc nức nở, thương gấp mười lần cha mẹ ruột thịt mình, những
người có công sanh thành, dưỡng dục, dạy dỗ, trông nom dìu dắt mình đến khôn lớn
trưởng thành, tao nghĩ họ "nâng bi" quá lời. Chớ thật tình như vậy thì đáng nên
tránh xa.
Như chưa bằng
lòng, chú giải thích cho rõ thêm:
- "Công cha như
núi Thái Sơn"... tụi bây đứa nào làm sao quên được. Cha mẹ như trời biển. Xem
nhẹ cha mẹ mình là phường bất hiếu, hết xài. Bỏ giỏ rác không tiếc tay. Con
người phải biết kính trọng, thương yêu cha mẹ mình trước rồi từ đó mới lan tỏa
ra người ngoài. Bây mà gặp những hạng người như vậy nên quay lưng, đừng có gần
gủi mang hại.
Chú Năm Nghê dào
dào trút hết bất mãn trong lòng:
- Thương yêu kiểu
đó chỉ ở đầu môi chót lưỡi. Tình thương bốc đồng, nhứt thời. Nó đâu có
thấm thía, chân thật. Nó sẽ đổi màu, phai nhạt bạch chản bây coi. Tao gọi loại
tình thương đó là tình thương có ý đồ quyền lợi cá nhân, tình thương nhắm một
mục đích riêng tư ích kỷ nhỏ nhoi hẹp hòi. Mà hễ dính vào quyền lợi thì có gì
vĩnh viễn đâu? Đụng chuyện là họ chuyển hướng trở cờ ngay.
Tôi thấy nơi gương
mặt xương xương gầy ốm của chú Năm thoáng một nét buồn khi đôi mắt chú mơ màng
hướng về phía chúng tôi:
- Từ trước đến giờ
tao có đọc thơ cách mạng cách miết bao giờ đâu. Nay bỗng dưng thằng Bảy mầy làm
tao thêm buồn bực. Bây biết không? Giá nếu cách đây mấy mươi năm về trước, tao
thương mấy ông Tây - hạng Tây chính cống con nai vàng, chớ không phải đám Tây
thực dân râu xòm bụng bự xứ mình đâu - hơn cha ông viễn tổ bên nhà thì tao đã ở
lại luôn bên Phú Lang Sa rồi. Tao đâu có nôn nóng trở về xứ mình làm chi như bây
thấy đó. Hạng người như vậy là bọn mất gốc quên nguồn, bán nước hại dân dễ như
chơi, còn hơn trở bàn tay. Chú cười bí hiểm:
- Nói cho vui chớ
đường đời khúc khuỷu quanh co lắm. Bây giờ họ ăn trên ngồi trước, lãnh tụ lãnh
tội mà. Còn tao là tay sai thực dân đế quốc. Lý lịch tao khai từ đời cha mẹ, ông
bà viễn tổ tao cho những đứa hậu sanh non chèo. Chúng biết khỉ khô gì. Cả cha mẹ
chúng nó còn chưa đáng tuổi con tao. Dù sao, tao vẫn sung sướng vì tao vẫn là
tao.
Câu chuyện còn kéo
dài trong chòi lá. Bên ngoài chim vịt đập cánh kêu chiều. Thằng Bảy Bèo vội kiếu
từ, hứa hẹn sẽ trở lại một ngày gần để nghe chú Năm Nghê nói chuyện về
"thơ cách mạng".
Nó khom lưng cúi
đầu xuống tránh cái phênh tre che cửa chánh rồi quay lại:
- Nhưng lần sau
ông Năm nói nho nhỏ vừa đủ nghe thôi nhé. Tai vách mạch rừng, nguy hiểm, ớn
xương sống quá.
* *
*
Rạch Rít, ngày
6/6/199...
Cậu Mợ Ba thương
mến,
Tôi đã nhận được
thơ và quà của cậu mợ. Phải mất mấy tháng trường, quà mới đến được. Nhưng không
biết đủ thiếu ra sao vì cậu mợ không có kèm theo bảng liệt kê. Tôi nghĩ chắc thế
nào chúng nó cũng xơi tái phần nào khi bày đặt bày điều kiểm tra này nọ.
Xóm mình rõ ràng
cách trở quá. Cám ơn sự lưu tâm giúp đỡ của cậu mợ vào dịp này rất đúng lúc.
Riêng số tiền do người quen mang về trao tận tay, giúp tôi củng cố thêm diện
tích trồng trọt vốn hạn hẹp, thường hay thất mùa.
Tôi ở quê thời
buổi này là điều thua thiệt vô cùng. Lợi nhuận do trồng lúa hay chăn nuôi dù
trong thời buổi có nới rộng đôi chút cũng chẳng được bao nhiêu. Mình làm lụng
khổ cực vất vả lại thiếu ăn triền miên, đói rách mãn đời trọn kiếp. Cũng may tôi
chưa chết đói!
Người khác ngồi
không hưởng trọn. Bọn con buôn, con Trời ở Đài Loan, Hương Cảng, Tân Gia Ba qua
Việt Nam làm ăn bây giờ mạnh lắm. Chúng được che chở có hệ thống, tha hồ bắt nạt
làm mưa làm gió. May là chúng còn chút nhân đạo cho đám dân nghèo sống cầm hơi
để suốt đời làm tôi mọi.
Hoan hô độc lập tự
do. Hoan hô làm chủ tập thể đất nước. Nhưng nói là nói như vậy chớ còn sống ngày
nào thì phải làm việc ngày nấy, dù tương lai mù mịt đen tối.
Như cậu mợ biết,
tôi gốc "ngụy". Tôi được anh bạn Mỹ chấp thuận cho tôi sang xứ cờ hoa nhờ có lúc
tôi làm công trong một sở Mỹ ở Sài Gòn. Nhưng ác thay, họ chỉ chấp thuận cho tôi
đi cùng với vợ tôi và đứa con gái út mà hồi cậu mợ chưa vượt biên, mợ thường hay
ẵm bồng khen nó ngoan ngoản dễ thương. Còn ba đứa lớn phải ở lại vì đã lập gia
đình và có con cái. Tôi thấy không ổn. Một cảnh hai ba quê, khó lòng.
Tôi lại nghĩ, qua
Mỹ phải có công ăn việc làm, chẳng lẽ ngồi không ngữa tay xin người ta cứu trợ
dài dài sao? Tủi thân tủi phận lắm. Thà mình nghèo ở quê nhà, đóng cửa có gì ăn
nấy, qua bữa qua ngày.
Tôi cũng biết thân
mình, tuổi cao, tài hèn, còn đi những chuyến tàu cuối mùa nhiều thua thiệt. Khó
khăn thì nhiều, thuận lợi mong manh quá nên tôi quyết định ở lại, mơ hồ hy vọng
với ngày tháng lấy bàn tay làm ra của tiền như ba tôi thường nói ngày xưa.
Ở nước ngoài, nói
là cực nhưng chí tình mà nói, ở đâu sướng cậu mợ? Cực mà chịu làm là có tiền.
Cũng có nhà cửa, xe cộ như ai, hằng năm tà tà dẫn vợ con đi nghỉ hè giải trí
tăng cường sức khoẻ.
Còn ở Việt Nam
mình, ở quê khổ lắm, vất vả khổ cực quanh năm nhưng đói trơ xương, thiếu thốn đủ
điều. Ở thành thị nhờ mánh mung, gạt gẫm, mình bóp cổ chẹn họng mình để làm
giàu. Không mánh mung chèn ép nhau thì phải có quyền thế hoặc a dua hào mé nịnh
bợ tâng bốc đám đảng viên lạm quyền mới có tiền nhanh. Nơi quê mình, bà con hiền
lành mộc mạc như củ khoai cục đất, thương yêu nhau không hết, đâu có ai bôi mặt
làm những việc thất nhân tâm như ở thị thành được bao giờ.
Thời đại mở cửa,
người Việt chỉ có làm ăn nhỏ theo kiểu cò con lặn lội ở đầm, ở bưng. Làm lớn
thua lỗ lớn, đưa đến phá sản rồi treo vòng cổ đút đầu vào.
Chế độ này muốn
cho ai giàu thì cho, muốn không cho thì bóp mũi cho ngủm cù đeo tức khắc. Chỉ có
mấy tay xì thẩu Ba Tàu ở nước ngoài như Tân Gia Ba, Hồng Kông, Đài Loan... bây
giờ rần rần đổ vào làm ăn là mạnh nhứt. Họ nhờ móc ngoặc, cấu kết với giới chức
quyền, "mua tiên" còn được, huống hồ chi nhà cửa đất đai... Mà không khéo, vài
năm tới đây họ mua luôn cả nước Việt Nam mình nữa đó!
Đó là chuyện chung
chung, chuyện thiên hạ mà mình lại là nạn nhân mới chết. Bây giờ xin trở lại
chuyện bà con thân quyến trong xã nhà.
Tôi báo cậu mợ hay
một tin buồn. Buồn lắm cậu mợ ơi! Tới nay tôi vẫn còn ngặt mình thương nhớ. Chú
Năm Nghê đã mất hôm hai mươi ba tháng chạp vừa qua, đúng ngày đưa ông Táo về
chầu Ngọc Hoàng. Chú đi rất êm. Chẳng một ngày đau đớn ho hen.
Cậu mợ chắc còn
nhớ ông Hai Khỏe, có một thời làm từ đình xóm mình ngày trước. Nay ổng cũng
trọng tuổi rồi, nhỏ hơn ông Năm chắc hơn một kỷ. Thấy vắng, không nghe tiếng ông
Năm bật tiếng Tây bên kia liếp mía như mọi hôm, ông Hai bước tréo qua chòi. Ông
khám phá ông Năm nằm bất tỉnh ở thềm nhà sau, kế cái võng cậu lắc lư mỗi đêm hồi
cậu về quê lánh nạn. Chú đi êm ái chắc cũng mới đó thôi.
Mình mẫy ông Năm
còn ấm hỉm. Cái cần câu cắm với con cá trê vàng núc ních mắc câu còn hoi
hóp. Ông Năm vẫn nắm chặt trong tay. Tri hô, bà con xúm lại phụ đưa lên chỏng
tre, ông Năm nhắm mắt đi luôn không một lời trăn trối vướng bận, gương mặt rất
phấn chấn vui vẻ, như thanh thản hỉ xả.
Buồn quá cậu mợ
ơi! Một đời người cũng đi Tây đi u, kết thúc như thế đó, trong nghèo khó tẽ
nhạt, không có một bộ ván ngựa để ghép chôn. Bộ ván ngựa mỏng tanh để tiếp bà
con ngày xưa ổng đã bán từ khuya để đong gạo ngày gạo bữa. Tôi nhớ mấy năm trước
ổng hay nói: "Chết là hết. Có đứa nào chôn tao cám ơn. Không chôn cứ để thúi".
Nói vậy chớ tụi
này đâu để tồi tệ như vậy. Thương ổng quá mà! Trại hòm lớn nhỏ trong quận đều bị
quốc doanh. Xứ mình cái gì bây giờ cũng quốc doanh hết trọi cậu mợ à. Đã chết mà
họ còn kết cấu với nhau làm ăn trong cảnh đớn đau tang khó.
Hòm dênh dênh,
loại hạng bét mỏng te, nhẹ như giấy quyến, mắc thắc họng. Ông Ba Kỷ nặng lòng
biếu bộ ngựa tuổi đời hơn cả thế kỷ nhưng xem còn được. Tụi này phụ nhau đóng
cái hộp tàm tạm, trông không đến đỗi nào. Mấy thằng cháu trong xóm hì hục tận
lực đào huyệt mả. Tôi căn dặn đào sâu một chút để ông Năm được ấm áp trong lòng
đất quê hương.
Cậu mợ cũng biết,
ông Năm thương quê hương mình lắm. Thiếu gì bạn bè ông lụy mấy bà đầm rồi bỏ
thây bên Tây. Riêng ổng, ổng nhứt quyết trở về xóm cũ nhà xưa. Do vậy mà thương
ổng thêm.
Hôm an táng buồn
thảm não. Lưa thưa vài bà con ngày xưa lân la, hiểu ổng. Làm gì có giá triệu!
Nhưng thằng Ba Nô ở đầu xóm, nhớ tình nhớ nghĩa, cho thằng con trai bịt khăn
tang xem như cháu đích tôn. Thằng nhỏ lầm lũi thui thủi bưng cái ly hương vừa
cấp bách làm bằng gáo dừa khô.
Riêng Ba Nô, nó
trịnh trọng phò khuôn ảnh, tấm ảnh duy nhứt còn sót lại hơn nửa thế kỷ dằn dặc,
chụp cảnh ông Năm lúc ở Dunkerque hồi thế chiến vào một buổi sương mờ nhàn nhạt.
Ông đứng chống nạnh trong bộ đồ nhà binh, đầu đội ca lô chệch một bên, đôi mắt
đâm chiêu nhìn ra biển khơi tận bên kia bờ đại dương, tìm về quê hương diệu
viễn.
Thấy cảnh đó, mọi
người đều sục sùi xúc động biết dường nào. Buồn quá! Tôi thẫn thờ mãi. Thôi cũng
xong một kiếp người! Nói nữa cậu mợ buồn lây.
Thơ đã dài mấy
trang giấy nhưng sao tôi vẫn muốn tâm sự thêm với cậu mợ. Xin chờ dịp khác vậy.
Tôi rất mong gặp lại cậu mợ trong tương lai rất gần.
Chẳng lẽ cậu cháu
mình lại bất hạnh sao? Ấy vậy, tôi vẫn hy vọng và càng ngày hy vọng của tôi càng
sáng tỏ thêm. Cuối thơ, chúc cậu mợ sức khỏe và mấy cháu học hành đỗ đạt.
Kính thơ
Bảy Bèo
(Thằng cháu nuôi
của cậu mợ)
Tôi buông bức thơ
ra, lòng buồn thương nhớ. Nhớ chú Năm Nghê, tôi nhớ nhiều kỷ niệm. Kỷ niệm nào
với chú cũng đáng nhớ.
Nhưng kỷ niệm nên
thơ nhứt, ý nghĩa nhứt đối với tôi có lẽ là hôm thằng Bảy Bèo tạt ngang ghé nhà
chú, để chú có dịp đọc và bình thơ Tố Hữu, "nhà thơ vĩ đại" trong thi đàn quốc
doanh. Nay con trâu già đã lìa đồng cỏ năm xưa để lưu trong lòng người ở lại
bao nhiêu hình ảnh tốt đẹp của một thời khó phai, mãi mãi ẩn hiện đậm đà trong
tâm thức tôi.
Tôi trực nhớ một
đoạn tin thời sự nóng hổi vừa mới đọc cách đây vài hôm trên báo chí Việt ngữ hải
ngoại. Tôi lật đật giở chồng báo, tìm đọc lại.
Nhà thơ Tố Hữu vừa
được giải thưởng Đông Nam Á Seawrite do Thái Lan tổ chức hằng năm, nhằm tưởng
thưởng vinh danh những văn nhân thi sĩ xuất sắc khắp vùng Đông Nam Á châu. Trong
trí tôi hiện rõ sáng trưng con người chú Năm Nghê, từ cử chỉ, thái độ đến lời lẽ
đanh thép, trong ấm, không lúc nào lạc giọng của chú về Tố Hữu.
Tôi bỗng đổi buồn
thành vui. Vui vì nghĩ rằng nếu chú Năm không bất hạnh sớm ra đi, chú sống thêm
năm ba năm nữa để có dịp đọc bản tin văn học quốc tế này thì chắc chắn chú sẽ
đau đớn biết dường nào.
Chú sẽ thất vọng
cho tình đời biết mấy. Chỉ vì một chút quyền lợi thấp hèn, con người đã trắng
trợn quay mặt chà đạp chữ nghĩa, bôi bẩn thi ca, hạ thấp nền văn học và xúc phạm
trầm trọng con người Việt Nam muôn thuở.
Cũng như chú, tôi
nghe nhói trong tim mình!
Võ Phước
Hiếu