VĂN
HỌC QUỐC NGỮ NAM BỘ TỪ CUỐI TK XIX ĐẾN 1945
THÀNH
TỰU VÀ TRIỂN VỌNG NGHIÊN CỨU
Đoàn Lê Giang
(*)
Văn học quốc ngữ Nam
Bộ cuối TK.XIX đến 1945 là một bộ phận
máu thịt của văn học dân tộc. Trong khoảng
hơn nửa thế kỷ từ khi h́nh thành cho
đến 1945, vùng văn học này đă có một
đời sống rất sôi nổi với hàng trăm cây
bút và hàng mấy trăm tác phẩm, cuốn hút hàng triệu
độc giả, và đă để lại những
vết son không phai mờ trong kư ức của nhiều người, nhất là
những người lớn tuổi ở Nam Bộ.
Nhưng từ sau 1945 văn học quốc ngữ Nam
Bộ có một thời khá dài bị giới nghiên cứu phê
b́nh quên lăng, ít được
ai nhắc tới, hoặc chỉ được biết
tới với vài ba gương mặt nổi bật:
Trương Vĩnh Kư, Huỳnh Tịnh Của, Hồ Biểu
Chánh… Sở dĩ có t́nh trạng ấy có thể v́
những nguyên do sau đây:
Trước
hết là do thiên kiến, nhiều người nghĩ
rằng văn học quốc ngữ Nam Bộ không có giá
trị. Người ta cho rằng các nhà văn Nam Bộ
viết sai chính tả đầy rẫy, tác phẩm
của họ chỉ là sản phẩm giải trí b́nh dân,
chứ không có giá trị văn học thực sự.
Người ta coi thường nó tới mức độ
nhà nghiên cứu Bùi Đức Tịnh phải cho rằng nó
là “Ḥn máu bỏ rơi” như nhan đề một cuốn
tiểu thuyết rất nổi tiếng của Phan
Huấn Chương.
Thứ hai là
người cầm bút Nam Bộ ít chú trọng đến
nghiên cứu phê b́nh văn học. Đây là ư kiến
của GS.Nguyễn Văn Trung, ông viết: “Người
miền Nam sống văn chương hơn là làm văn
học. Ít có người làm việc điểm sách, phê
b́nh, phỏng vấn và viết văn học sử. Cho
đến nay nếu chúng tôi không nhầm th́ các bộ
văn học sử Việt Nam đều là do các tác
giả gốc miền Bắc, miền Trung biên soạn.
Không phải là không thể làm mà đúng hơn là không muốn
làm, không cần làm”([i][1]).
V́ vậy những thành tựu
của văn học Nam Bộ không được sưu
tầm, phê b́nh và đánh giá đúng mức trong các giáo tŕnh,
cũng như các sách nghiên cứu khác.
Thứ ba, có
thể cũng do hoàn cảnh lịch sử. Trước
1975, do t́nh h́nh chiến tranh, nên các nhà nghiên cứu ở
miền Bắc không thể nghiên cứu văn học Nam
Bộ một cách khách quan với quan niệm “gạn
đục khơi trong” được. V́ vậy suốt
mấy chục năm không có ai nghiên cứu về văn
học quốc ngữ Nam Bộ, ngoài cuộc tranh luận
về Trương Vĩnh Kư trên tạp chí Nghiên cứu
lịch sử năm 1963-1964 với ư hướng chung
là kết tội. Nhiều nhà văn Nam Bộ khác cũng
từng cộng tác với Pháp, làm công chức cho Pháp hay
sống ở miền Nam nhiều chục năm sau đó,
giới nghiên cứu rất khó có điều kiện
sưu tập, kiểm tra tư liệu nên đă bỏ
trắng mảng này. Thế hệ nghiên cứu
trước bỏ, thế hệ sau cũng không biết
đến, không nói đến luôn.
Thứ tư,
có thể là do phong cách nghiên cứu. Nhiều nhà nghiên
cứu rất đề cao lư luận, phương pháp
luận mà rất coi nhẹ tư liệu và sự
kiện. Người ta đă phát ra một kết luận
hùng hồn nào đó, rồi cứ yên trí với nó, mà không
cần suy nghĩ lại, xem xét thêm, không cần biết nó
c̣n đúng nữa khộng. “Học phong” kiểu ấy
đă để lại di chứng nặng nề trong
nhiều người nghiên cứu trẻ sau này. Đối
với văn học Nam Bộ, công việc đầu tiên
là phải t́m kiếm tư liệu để đọc và
suy nghĩ, nhưng rất nhiều người nghiên
cứu đă không làm công việc ấy.
V́ thế
việc nghiên cứu văn học quốc ngữ Nam
Bộ vẫn c̣n ngổn ngang. Tuy nhiên khoảng 15 năm
trở lại đây, nhờ nỗ lực của
nhiều nhà nghiên cứu nặng ḷng với văn học
quốc ngữ Nam Bộ mà việc nghiên cứu, giới
thiệu văn học Nam Bộ đă tiến
được một bước đáng kể.
1 - Thành tựu
nghiên cứu văn học quốc ngữ Nam Bộ 20
năm gần đây
- Sưu
tầm, giới thiệu tác phẩm
Trước
1975 giới nghiên cứu miền Nam cũng có để ư
đến mảng văn học quốc ngữ Nam Bộ,
tuy thành quả nghiên cứu cũng chưa phải thật
nhiều. Ở miền Bắc th́ dường như ít ai
nhắc đến mảng văn học này. Sau khi
đất nước thống nhất, suốt 10 năm
từ 1975-1985, t́nh h́nh nghiên cứu về văn học Nam
Bộ cũng chưa tiến thêm được bao nhiêu.
Tuy nhiên từ 1987 trở đi, việc nghiên cứu về
văn học quốc ngữ Nam Bộ đă tiến
triển nhanh hơn hẳn.
Năm 1987,
nhân kỷ niệm 100 năm ngày ra đời cuốn
tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên của
văn học Việt Nam - Truyện thầy Lazaro Phiền của
Nguyễn Trọng Quản, GS. Nguyễn Văn Trung có
giới thiệu tác phẩm ấy trong một tài liệu
in ronéo dành cho học viên cao học với
nhan đề: Những áng văn chương quốc ngữ
đầu tiên: Thấy Phiền- Truyện của Nguyễn
Trọng Quản, sách do
Trường Đại học Sư phạm TP.HCM xuất
bản. Trong tập
sách ấy ông c̣n đề cập đến hàng loạt
các nhà văn Nam Bộ khác nữa: Nguyễn Khánh
Nhương, Trương Duy Toản, Michel Tinh, Biến
Ngũ Nhy, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt…
Năm 1989
Hội nghị về Hồ Biểu Chánh tổ chức
ở Tiền Giang chính thức “chiêu tuyết”cho ông. Hội
nghị ấy đă mở đường cho hai nhà
xuất bản Tiền Giang và Long An tái bản hàng loạt
sách của Hồ Biểu Chánh và một số nhà văn Nam
Bộ khác như: Nguyễn Chánh Sắt, Phú Đức, Tân
Dân Tử, Bửu Đ́nh, Nguyễn Ư Bửu…
Rải rác
trong thập niên 90 Tổng tập văn học Việt
Nam ra đời. Trong các
tập 20, 21, 26 có tuyển một số tác phẩm của
Trương Vĩnh Kư, Huỳnh Tịnh Của,
Lương Khắc Ninh, Trần Chánh Chiếu, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Văn
Vinh, Hồ Biểu Chánh, Bửu Đ́nh…
Năm 2000 Cao
Xuân Mỹ có giới thiệu nhiều tác phẩm của
nhà văn Nam Bộ, nhất là truyện ngắn của
Trần Quang Nghiệp trong Văn xuôi Nam Bộ nửa
đầu TK.XX, 2 tập
(Trung tâm Quốc học và NXB.Tổng hợp TP.HCM
xb, 1999-2000)
Năm 2002, nhà
nghiên cứu Nguyễn Kim Anh và
các cộng sự cho ra đời công tŕnh Thơ văn
nữ Nam Bộ TK.XX (NXB.TP.HCM, 2002), trong đó có giới
thiệu khá nhiều văn học nữ Nam Bộ, không
chỉ văn mà cả thơ.
Năm 2003
Trung tâm Quốc học xuất bản bộ Văn
học Việt Nam TK.XX (NXB.Văn học). Trong các
Quyển I (tập 3, 4, 5), Quyển II (tập 1), Quyển V
(tập I) có giới thiệu một số truyện
ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận, phê b́nh của văn học Nam Bộ.
- Nghiên
cứu, phê b́nh văn học
Năm 1988 các
nhà nghiên cứu Hoài Anh, Thành Nguyên, Hồ Sĩ Hiệp
đă phác thảo sơ nét về diễn tŕnh văn
học Nam Bộ qua cuốn Văn học Nam Bộ
từ đầu đến giữa TK.XX (NXB.TP.HCM, 1988).
Sau đó Hoài Anh, Hồ Sĩ Hiệp vẫn tiếp tuc theo
đuổi mảng đề tài này, đến năm 1999
hai ông cho xuất bản cuốn Những danh sĩ
miền Nam (NXB.Tổng hợp Tiền Giang, 1999) trong
đó có giới thiệu vắn tắt về Trần Chánh
Chiếu, Thượng Tân Thị, Sương Nguyệt Anh,
Nguyễn Quang Diêu. Liên tục trên tạp chí Văn, nhà
văn Hoài Anh có viết bài giới thiệu về nhiều
nhà văn Nam Bộ, sau đó ông đă tập hợp các bài
viết này thành cuốn Chân dung văn học (NXB.Hội
nhà văn, 2001), trong đó có giới thiệu 28 nhà
văn quốc ngữ Nam Bộ từ Trương Vĩnh
kư đến Huỳnh Văn Nghệ. Đây có thể coi là
một tập hợp nhiều nhất chân dung của các
nhà văn Nam Bộ từ trước đến bấy
giờ.
Năm 1990
trong Tiến tŕnh văn nghệ miền Nam (NXB.An
Giang), Nguyễn Q.Thắng đă giới thiệu sơ
giản khoảng 10 cuốn tiểu thuyết Nam Bộ
từ Truyện thầy Lazaro Phiền của
Nguyễn Trọng Quản (1887) đến Tam Yên di
hận của Nguyễn Văn Vinh. Tiếp tục theo
đuổi mảng đề tài này, năm 1999 trong Từ
điển tác gia Việt Nam (NXB.Văn hóa thông tin, 1999)
ông đă viết hàng mấy chục mục từ về
các tác gia văn học quốc ngữ Nam Bộ.
Liên quan
trực tiếp đến đề tài văn học
quốc ngữ Nam Bộ, có 3 luận án tiến sĩ :
- Tôn Thất
Dụng: Sự h́nh thành và vận động của
thể loại tiểu thuyết văn xuôi tiếng
Việt ở Nam Bộ giai đoạn cuối TK.XIX
đến năm 1932, Luận án tiến sĩ,
Trường ĐHSP Hà Nội, 1993
- Cao Xuân Mỹ: Quá
tŕnh hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam
từ cuối TK.XIX đến đầu TK.XX, Luận
án tiến sĩ, Trường ĐHSP TP.HCM, 2001
- Lê Ngọc Thúy: Đóng
góp của văn học quốc ngữ ở Nam Bộ
cuối TK.XIX – đầu TK.XX vào tiến tŕnh hiện
đại hóa văn học VN, Luận án tiến sĩ,
Trường ĐHSP TP.HCM, 2002
Với một
cách thức làm việc nghiêm túc, chú trọng khảo sát
tư liệu, cùng những kiến giải sắc sảo,
ba luận án này đă đóng góp không nhỏ vào việc t́m
hiểu văn học quốc ngữ Nam Bộ.
Các nhà nghiên
cứu Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Văn Y, Bằng
Giang đă có quá tŕnh sưu tập và nghiên cứu lâu dài
văn học quốc ngữ Nam Bộ ở miền Nam
từ trước 1975, vào thập niên 90 của thế
kỷ trước cũng tiếp tục có nhiều
đóng góp quan trọng.
Trong Địa
chí văn hóa TP.HCM, (tập 2, Trần Văn Giàu, Trần
Bạch Đằng, Nguyễn Công B́nh chủ biên, NXB.TP.HCM,
1998), với một bảng thư mục dài, nhà nghiên
cứu Nguyễn Văn Y đă phác họa những nét chính
bức tranh toàn cảnh về văn học quốc
ngữ Nam Bộ cuối TK.XIX - 1945
Nhà nghiên cứu
Bùi Đức Tịnh được biết đến
từ trước 1975 với công tŕnh Những
bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và
thơ mới (Lửa thiêng xb, S.1974; NXB.TP.HCM 1992, tái
bản 2002) lại tiếp tục phát huy những thành
quả nghiên cứu của ḿnh trong công tŕnh mới xuất
bản gần đây: Lược khảo lịch sử
văn học Việt Nam từ khởi thủy đến
cuối TK.XX (NXB.Văn nghệ TP.HCM, 2005).
Nhà nghiên cứu
Bằng Giang, tác giả cuốn Mảnh
vụn văn học sử (Chân Lưu xb, Sài G̣n, 1974), có
hai công tŕnh quan trọng: Sương mù trên tác phẩm
Trương Vĩnh Kư (NXB.Văn học, 1994) và Văn
học quốc ngữ ở Nam kỳ 1865-1930 (NXB.
Trẻ, 1992, tái bản lần thứ nhất 1998). Hai
cuốn sách ấy thực sự là cẩm nang cho những
người nghiên cứu về vấn đề này.
Gần đây
nhất là công tŕnh Tiểu thuyết Nam Bộ cuối
TK.XIX đầu TK.XX (NXB.Đại học Quốc gia
TP.HCM, 2004) do nhóm tác giả Nguyễn Kim Anh (chủ biên),
Nguyễn Thị Trúc Bạch, Hà Thanh Vân, Vũ Văn
Ngọc, Hoàng Tùng, Huỳnh Vĩnh Phúc biên soạn, đă giới
thiệu khái quát về văn học Nam Bộ cũng
như tiểu sử, sự nghiệp của từng tác
giả. Đây là công tŕnh công phu, nghiêm túc và dày dặn
nhất về văn học Nam Bộ từ trước
đến nay.
Nhờ cố
gắng của nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu mà
văn học Nam Bộ dần dần đă
được biết đến, đă có được
vị trí xứng đáng hơn trong lịch sử văn
học dân tộc. Điều ấy được
phản ánh qua Từ điển văn học (Bộ
mới), NXB.Thế giới, HN, 2004 do các giáo sư
Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng
Văn Tửu, Trần Hữu Tá chủ biên, trong đó
đă dành gần 20 mục từ cho các tác giả văn
học Nam Bộ, các mục từ này chủ yếu do
Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Q.Thắng và Trần Hữu
Tá viết. Chúng tôi hy vọng rằng trong những lần
tái bản sau, số lượng các mục từ dành cho
văn học Nam Bộ sẽ c̣n tăng lên nhiều hơn
nữa.
Ở trên chúng
tôi đă điểm qua những thành tựu chính trong
việc nghiên cứu văn học quốc ngữ những
năm gần đây, mặc dù đă đạt
được nhiều thành quả, nhưng vẫn c̣n
không ít vấn đề đặt ra.
Trước
hết là vấn đề tư liệu. Tư liệu
về văn học quốc ngữ Nam Bộ hiện c̣n
rất rải rác, tàn
khuyết rất nhiều. Cần phải có một công
tŕnh nghiên cứu sưu tập quy mô lớn với công
sức của nhiều người để sưu
tầm, chỉnh lư tất cả các tư liệu c̣n có
thể t́m được - cả sách cũng như trên báo
chí, để từ đó có kế hoạch bảo
tồn, nghiên cứu, giới thiệu cho độc
giả, cũng như để lại làm tư liệu
nghiên cứu cho những ai quan tâm về lĩnh vực này.
T́nh trạng thiếu tư liệu, khó khai thác tư
liệu làm cho việc nghiên cứu về văn học
quốc ngữ Nam Bộ luôn luôn phải làm lại từ
đầu, ít có tính kế thừa. T́nh trạng ấy làm
nản ḷng rất nhiều người nghiên cứu
cũng như các nghiên cứu sinh, học viên cao học.
Xuất phát
từ t́nh h́nh đó, từ năm 2005 Đại học
Quốc gia TP.HCM đă cấp kinh phí cho Khoa Ngữ văn và
Báo chí chúng tôi tiến hành công tŕnh Khảo sát, đánh giá,
bảo tồn di sản văn học quốc ngữ Nam
Bộ với mục đích khảo sát, sưu tầm,
chỉnh lư, nghiên cứu toàn bộ tư liệu về
văn học quốc ngữ Nam Bộ cả thơ,
văn xuôi nghệ thuật, lư luận phê b́nh. Công tŕnh có
sự tham gia đông đảo của nhiều nhà nghiên
cứu, giảng viên ở TP.HCM, Hà Nội, Tiền Giang,
Cần Thơ như: Mai Cao Chương, Trần Hữu Tá,
Nguyễn Khuê, Cao Tự Thanh, Trương Ngọc
Tường, Nguyễn Thị Thanh Xuân, Lê Tiến Dũng, Vơ Văn
Nhơn, Cao Xuân Mỹ, Lê Ngọc Thúy, Nguyễn Đức
Mậu, Tào Văn Ân, Trần Ngọc Hồng, Nguyễn
Văn Hà, Đào Ngọc Chương, Nguyễn Công Lư, Lê
Tâm, Phan Mạnh Hùng, Lưu Hồng Sơn, Hồ Khánh Vân,
Nguyễn Long Ḥa, Lê Thụy Tường Vy, La Mai Thi Gia,
Đào Diễm Trang, Trương Nữ Diệu Linh…Đoàn
Lê Giang được phân công làm chủ nhiệm đề
tài. Ngoài những nhà nghiên cứu, giảng viên nêu trên, c̣n có
sự góp sức của hàng mấy chục nghiên cứu
sinh, học viên cao học và sinh viên đă và đang học
tập ở Khoa Ngữ văn và Báo chí (Trường
Đại học KHXH và Nhân văn thuộc Đại
học Quốc gia TP.HCM) 5 – 7 năm trở lại đây. Công
tŕnh nghiên cứu Khảo sát, đánh giá, bảo tồn di
sản văn học quốc ngữ Nam Bộ là cơ
sở để thực hiện một bộ Tổng
tập văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối
TK.XIX đến 1945.
2 - Về bộ
Tổng tập văn học quốc ngữ Nam Bộ
cuối TK.XIX đến 1945
Nguồn
tư liệu để t́m hiểu vấn đề này có
nhiều loại: sách, tác phẩm đăng báo, chúng
tồn tại dưới dạng bản in, bản
chụp microfilm, microfic, photocopy hiện đang
được lưu giữ chủ yếu ở thư
viện, các hiệu sách cũ và các tủ sách tư nhân.
Báo chí đăng tải và
phản ánh đời sống văn học. Muốn
t́m hiểu phê b́nh văn học và t́m những sáng tác
đăng báo trước khi xuất bản thành sách th́
phải t́m vào kho lưu trữ báo này. Ngoài một số
tư nhân có giữ một số báo quư hiếm, th́ báo chí
chủ yếu nằm ở thư viện Quốc gia,
Thư viện Thông tin KHXH, Thư viện Khoa học
Tổng hợp TP.HCM, Thư viện KHXH TP.HCM, Thư
viện của chủng viện… dưới dạng báo
giấy và microfilm. Theo thống kê của chúng tôi, ở Nam
Bộ trước 1945 có đến trên dưới 50
tờ báo, trong đó những tờ báo có đăng
tải nhiều về văn học quốc ngữ là: Gia
Định báo, Thông loại khóa tŕnh, Nông cổ mín đàm,
Lục tỉnh tân văn, Nam Kỳ địa phận, Công
luận báo, Đông Pháp thời bao, Nam Kỳ kinh tế báo,
Phụ nữ tân văn, Tân thế kỷ, Kỳ lân báo,
Tiểu thuyết Nam Kỳ, Nữ giới chung, Thần
chung, Đuốc nhà Nam, Sống, Mai, Nữ lưu,
Đồng Nai, Đại Việt tạp chí, An Hà nhựt
báo…
Để khai
thác các tờ báo này trước hết cần phải
lập thư mục những bài viết có liên quan
đến văn học. Công việc ấy đă
được hàng chục sinh viên, học viên cao học
thực hiện liên tục trong suốt mấy năm
trời. Hiện nay đă có thể có một tập thư
mục về những tờ báo quan trọng. Những
tư liệu này cũng sẽ được công bố
để làm tư liệu cho những người nghiên
cứu sau này.
Về sách, các thư viện có
lưu giữ nhiều sách này là: Thư viện Quốc gia
(Hà Nội), Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM,
Thư viện KHXH TP.HCM và rải rác ở một số
thư viện khác nữa. Tuy nhiên không có thư viện nào
giữ được đầy đủ, v́ vậy
phải t́m thêm sách ở các tủ sách tư nhân. Các nhà nghiên
cứu có công sưu tập nhiều tư liệu về
văn học Nam Bộ là các ông Vương Hồng
Sển, Bằng Giang, Nguyễn Văn Y (các tác giả trên
đă mất) và những nhà nghiên cứu có công tŕnh về
văn học Nam Bộ đă kể ở trên. Qua thực
tế sưu tầm, chúng tôi c̣n thấy có một nguồn
sách về văn học Nam Bộ quan trọng nữa
đang nằm ở trong tủ sách của dân và những
hiệu sách lẻ. Nhiều gia đ́nh đă giữ ǵn
những cuốn sách của Nguyễn Chánh Sắt, Lê
Hoằng Mưu, Nguyễn Thế Phương, Ngọc
Sơn…như của gia bảo, sách được cất
trong tủ, được đóng thành gánh treo trên xà nhà (v́
sách ông cha để lại, dặn phải giữ ǵn). Và
tất nhiên cũng có một số đă bị đem bán
cho các hiệu sách cũ. Chúng tôi đă t́m đến gia
đ́nh hậu duệ của hàng chục nhà văn Nam
Bộ, và được cung cấp những tư liệu
vô cùng quư giá: gia phả, giấy tờ có liên quan, kỷ vật,
và cả một số tác phẩm tưởng đă
mất từ lâu.
Theo thống
kê của chúng tôi, có lẽ chưa thật đầy
đủ, số người sáng tác văn học có sách
đă được xuất bản ở Nam Bộ từ
đầu cho đến 1945 là trên 200 tác giả.
Số lượng tác phẩm th́ khó có thể có con số
chính xác, chúng tôi từng lập ra thư mục khoảng
trên 700 cuốn sách – tất nhiên phải hiểu là có
nhiều cuốn khổ nhỏ, dày chừng vài trang là
những bài vè, truyện ngắn được in riêng thành
quyển như: Bất
cượng của Trương Vĩnh Kư- 8 tr, Giấc mộng anh thợ vẽ
của Khổng Lồ - 12 tr…, cho đến những
tiểu thuyết dày hàng 400, 500 trang trở lên như các
bộ tiểu thuyết của Phú Đức: Bà chúa
đền vàng dày 438 tr, Lửa ḷng – 858 tr…
Hiện nay
số lượng tác phẩm của từng tác giả
chúng tôi đă thu thập được có thể kể
như sau:
- Trương
Vĩnh Kư, nhà văn quốc ngữ tiên phong, số
lượng tác phẩm của ông theo Bằng Giang là 118
cuốn. Tuy vậy, trong số ấy có rất nhiều sách
tiếng Pháp, sách dạy tiếng. Sách bằng tiếng
Việt của ông có nhiều loại, trong đó sưu
tập, dịch, phiên âm chú giải chiếm số
lượng lớn. Tổng cộng số này trên 50
quyển. Chúng tôi đă thu thập được khoảng
30 quyển.
- Huỳnh
Tịnh Của, nhà ngôn ngữ học, nhà nghiên cứu
văn học, nhà thơ, có khoảng 15 quyển, đă
sưu tập được hơn 10 quyển.
- Trương
Minh Kư, nhà dịch thuật, nhà thơ du kư, có khoảng 30
quyển, đă sưu tập được 17 quyển.
- Nguyễn
Trọng Quản, nhà tiểu thuyết đầu tiên, có 1
tác phẩm, đă sưu tập được bản in
lần thứ nhất và bản dịch ra tiếng Pháp.
- Trương
Duy Toản, nhà văn, nhà hoạt động duy tân, có 4
quyển, đă sưu tập được 3 quyển.
- Lương
Khắc Ninh, nhà báo, nhà thơ duy tân, có hàng mấy trăm bài
báo và thơ, đă sưu tập được phần
lớn.
- Trần Chánh
Chiếu, nhà văn, nhà báo, nhà cách mạng, có 9 quyển,
đă sưu tập được 7 quyển.
- Hồ
Biểu Chánh, nhà văn hàng đầu Nam Bộ, có trên 60
quyển, đă sưu tập được đầy
đủ trong đó có cả hồi kư hết sức quan
trọng của ông.
- Lê Hoằng
Mưu, nhà văn của những thử nghiệm táo
bạo, có 21 quyển, đă sưu tập được
17 quyển.
- Biến
Ngũ Nhy, nhà văn viết truyện trinh thám đầu
tiên của nước ta, có 12 quyển, đă sưu
tập được đủ.
- Nguyễn Chánh
Sắt, nhà văn, dịch giả “truyện Tàu” trứ
danh, có 21 quyển, đă sưu tập được 17
quyển.
- Tân Dân Tử,
nhà tiểu thuyết lịch sử hàng đầu, có 5
quyển, đă sưu tập được đầy
đủ.
- Phạm Minh
Kiên, nhà tiểu thuyết lịch sử và xă hội, có 18
quyển, đă sưu tập được 16 quyển.
- Bửu Đ́nh,
nhà tiểu thuyết xuất thân từ hoàng tộc trở
thành người tù Côn Đảo, có 22 quyển, đă sưu tập
được 20 quyển.
- Phú
Đức, nhà tiểu thuyết trinh thám, vơ hiệp cự
phách, có 22 quyển, đă sưu tập được 19
quyển.
- Phan Thị
Bạch Vân, nhà văn, người tù chính trị v́
hoạt động nữ
quyền, có 9 quyển, đă sưu tập được
8 quyển.
-Trần Quang
Nghiệp, nhà văn của thể loại truyện ngắn,
có 26 tác phẩm, đă sưu tập được
đầy đủ.
- Nguyễn
Văn Vinh, nhà văn, nhà giáo yêu nước, có 3 quyển,
đă sưu tập được đầy đủ.
- Sơn
Vương, nhà văn, tướng cướp,
người tù khổ sai, có 29
quyển, đă sưu tập được gần
đủ.
- Nguyễn
Bửu Mọc, nhà văn xă hội tả chân, có 10
quyển, đă sưu tập được đầy
đủ.
- Việt Đông,
nhà văn thị trường, có 62 quyển, đă sưu
tập được 29 quyển.
- Nguyễn
Thới Xuyên, Phan Huấn Chương, mỗi nhà văn
đều có 1 tác phẩm được giải
thưởng báo Đuốc nhà
Nam, đă sưu tập đầy đủ.
- Trần Hữu
Độ, Nguyễn An Ninh, hai nhà cách mạng, nhà văn
đă có nhiều công tŕnh nghiên cứu, sưu tập về
ông mới xuất bản gần đây.
- Nguyễn
Thế Phương, nhà báo, nhà tiểu thuyết
trường thiên liên hoàn, có 25 quyển, đă sưu
tập được 9 quyển.
- Nguyễn Ư
Bửu, nhà văn thời sự, có 3 quyển, đă sưu
tập được 2 quyển.
- Dương
Minh Đạt, nhà văn viết về những nhân
vật anh hùng, có 9 quyển, đă sưu tập
được đầy đủ.
- Dương
Quang Nhiều, nhà tiểu thuyết xă hội, có 10 quyển,
đă sưu tập được 7 quyển.
- Cẩm Tâm, nhà
văn tâm lư xă hội, có 14 quyển (trong đó có tác
phẩm được giải thưởng báo Đuốc nhà Nam), đă
sưu tập được đầy đủ.
Tổng
tập văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối
TK.XIX – 1945 sẽ bao gồm các tác giả trên, ngoài ra c̣n có
tuyển tập để đưa vào những tác giả
ít nổi tiếng hơn.
Để hoàn
chỉnh bức tranh văn học quốc ngữ Nam
Bộ th́ không thể thiếu được những
mảng về thơ và phê b́nh văn học.
-
Về thơ, thơ quốc ngữ Nam Bộ bao
gồm các truyện thơ cận đại: Thơ Sáu Trọng, Thơ
Thầy Thông Chánh, Thơ Cậu Hai Miêng…, thơ của
các tác giả nổi tiếng trước Thơ mới
như: Thượng Tân Thị (tác giả mười bài Tục khuê phụ thán),
Nguyễn Liêng Phong (tác giả hai tập thơ Nam Kỳ phong tục nhân vật
diễn ca, Điếu cổ hạ kim tập),
Sương Nguyệt Anh… cho đến các nhà Thơ mới
Nam Bộ: Nguyễn Thị Manh Manh, Lư Khê, Đông
Hồ, Mộng Tuyết, Hồ Văn Hảo, Huy Hà…Thơ
của họ ngoài một số ít thi tập ra, phần
nhiều được đăng rải rác trên các báo.
Chúng tôi đă sưu tập được trên 200 bài.
-
Về phê b́nh văn học, ngoài Kiều Thanh Quế
có thể coi như nhà phê b́nh văn học chuyên nghiệp
duy nhất của văn học Nam Bộ, th́ tư
liệu về phê b́nh văn học là các bài tựa, bạt
trong một số tiểu thuyết, và quan trọng hơn
cả là những bài phê b́nh giới thiệu tác phẩm và
tranh luận văn học trên báo chí. Từ việc lập
thư mục các báo, chúng tôi có thể h́nh dung ra bức tranh
phê b́nh văn học Nam Bộ khá phong phú, đa sắc,
trong đó nổi bật lên là các cuộc tranh luận
về Truyện Kiều, về tiểu thuyết của Lê
Hoằng Mưu, Hồ Biểu Chánh, và nhất là cuộc
tranh luận về Thơ mới.
Sau khi sưu
tập đầy đủ tư liệu trong khả
năng có thể, th́ việc chỉnh lư, chú thích các tác
phẩm của từng tác giả là một công việc
không kém phần khó khăn. Với mục đích vừa
đảm bảo trung thành với nguyên tác, lại vừa
có thể giúp cho độc giả rộng răi dễ dàng
thưởng thức, chúng tôi đề ra nguyên tắc là:
chính tả th́ sửa nhưng phương ngôn giữ nguyên.
Ví dụ một đoạn như sau trong Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân của
Trương Duy Toản:
“Vương
Thế Trân liền nép lại nơi cội cây mà coi
bọn ấy làm ǵ cho biết: giây phúc thấy có hai người đi
đầu, tuổi tác xấp xỉ nhau, chừng bốn
mươi ngoài, theo sau chừng mươi kẽ tùy tùng, thảy đều cỡi
ngựa, phăn phăn
đầu kia đi lại, đến gần lại nghe
người đi trước day lại hỏi
một người tùy tùng rằng: “Có phải lối này
chăng?” – Người ấy liền thưa rằng:
“Phải”- Người kia hỏi lại: “Sao mà chẳng
thấy?””([ii][2])
Như trên,
những từ có gạch chân là phương ngôn / cổ
ngữ th́ giữ nguyên, c̣n những từ gạch chân và in
đậm là sai chính tả, phải sửa lại.
3 - Triển
vọng nghiên cứu về văn học Nam Bộ:
Việc sưu tập đầy
đủ tư liệu về văn học Nam Bộ
sẽ mở ra những hướng nghiên cứu mới.
Trước
hết là văn học sử. Người nghiên
cứu phải trả lời nhiều câu hỏi
đặt ra:
- Giá trị,
phong cách, vị trí của từng nhà văn Nam Bộ
đối với văn học vùng và văn học dân
tộc như thế nào?
- Đối
với văn học Nam Bộ, với tư cách là một
vùng văn học, cách chia giai đoạn văn học
như thế nào? Có thể dùng cái khung chung mà chúng ta vẫn
chia lâu nay: Từ đầu đến 1930/ 1932, từ 1930/
1932 đến 1945 được không? Lấy ǵ để
làm mốc đánh dấu sự thay đổi đó? Hay
không cần phải phân kỳ như vậy?
- Phương
pháp sáng tác, các khuynh hướng trong văn học Nam
Bộ là ǵ? Có thể dùng mô h́nh: khuynh hướng lăng
mạn, khuynh hướng hiện thực phê phán và khuynh
hướng cách mạng như lâu nay được không?
- Đặc điểm
của văn học Nam Bộ là ǵ, nếu so với
văn học toàn quốc?
- Có thể nói
tới thi pháp tác giả ở một số nhà văn Nam
Bộ, hay thi pháp thể loại (thơ, tiểu
thuyết), thi pháp vùng văn học… được
chăng?
- Mối quan
hệ giữa công chúng và sáng tác như thế nào trong
đời sống văn học Nam Bộ. Đặc tính
của văn học Nam Bộ có liên quan như thế nào
đến thị hiếu của độc giả ở
đây?
Không chỉ
nghiên cứu về văn học sử, những tư
liệu về văn học Nam Bộ c̣n mời gọi
nhiều ngành nghiên cứu khác nữa như: ngôn ngữ
học, nghệ thuật học, văn hóa học, xă
hội học…
Có thể nói
văn học quốc ngữ Nam Bộ “đặt hàng” các
nhà ngữ học nhiều
công tŕnh trong những lĩnh vực khác nhau.
Trước
hết là phương ngôn / cổ ngữ. Trong các tác
phẩm văn học Nam Bộ có vô số những từ
địa phương, cổ ngữ không dễ hiểu
chút nào với người đọc hiện nay, ví dụ
như trong Hoàng Tố Anh hàm oan
của Trần Thiên Trung dưới đây (những
từ in đậm gạch chân):
- “Việc
ấy cũng c̣n hưởn
dăi”
- “Tía ở nhà gởi bạc ở hăng Băn nhiều lắm” (tr.21)
- “day lại, phụ
nhĩ với Tố Anh rằng” (tr.28)
- “anh cứ khổ
hạo củ mà ra dấu cho em” (tr.29)
- “bảo chấp tiên đậu xe ngoài đường”
- “tưởng là trẻ a
hườn đi chơi về” (tr.31)
Có thể
từ việc giải thích phương ngôn, cổ ngữ
mà làm một cuốn từ điển về phương
ngôn, cổ ngữ Nam Bộ.
Không chỉ
từ vựng mà ngữ pháp (cấu trúc câu, cách dùng hư
từ) trong các tác phẩm văn học quốc ngữ Nam
Bộ cũng có nhiều điểm khác so với tiếng
Việt hiện đại.
Về chính
tả, có thể thống kê các kiểu loại sai chính
tả thường gặp, tần số các từ hay sai…
để làm một cuốn từ điển chính tả
dành riêng cho học sinh Nam Bộ.
Trong kho tàng
văn học quốc ngữ Nam Bộ c̣n lưu giữ
một số lượng không nhỏ, đến hàng
trăm kịch bản
tuồng, cải lương mà
ít có người nghiên cứu nào để mắt
tới. Có thể kể ra đây một số vở trong
giai đoạn đầu:
- Tiên Bữu
thơ tuồng, Đặng Lễ
Nghi, Đinh Thái Sơn, In lần thứ 1, S.Phát Toán xb, 1908
- Bài ca cải
lương, Nguyễn Thường Kư sưu tập,
In lần thứ 1, S. Impr. Nguyễn Văn Viết, 1922
-Tối
độc phụ nhơn tâm, tuồng
hát cải lương, Triệu Văn Yên, Sài G̣n, Impr J. Nguyễn
Văn Viết, 1922
- Bội
phu quả báo, tuồng hát cải lương,
Nguyễn Trọng Quyền soạn, S.Impr. du Centre, 1923
- Bên t́nh
bên nghĩa, tuồng hát cải lương,
Trần Quang Hiển, H. : Impr. Mạc Đ́nh Tư, 1924
- Trinh nữ
sự nhị phu (Gái trinh thờ hai chồng),
tuồng cải lương, Dương Bá Tường, In
lần thứ 1, S. Impr. Nguyễn Văn Viết, 1924
- Hồng
phấn phiêu lưu, tuồng hát cải lương ba hồi,
Vương Gia Bật, In lần thứ 1, S.Impr. de l'Union Nguyễn Văn Của,
1924 …
Đấy là
những tư liệu vô giá cho việc nghiên cứu
lịch sử sân khấu Việt Nam, cụ thể là
cải lương Nam Bộ.
Triển
vọng nghiên cứu về văn học quốc ngữ
Nam Bộ rất lớn, trong đó công việc có thể
hoàn thành ngay trước mắt là bộ Tổng tập
về vùng văn học này như đă nói ở trên. Tuy
nhiên để thúc đẩy thêm việc nghiên cứu,
giới thiệu và lưu giữ những giá trị
của mảng văn học này, chúng tôi thấy có một
số việc nên làm:
- Xây dựng
một trang web về văn học Nam Bộ, vừa là
để đưa văn học đến với
mọi người, vừa làm diễn đàn giao lưu
giữa những người nghiên cứu, để có
thể bổ sung tư liệu và trao đổi kết
quả nghiên cứu([iii][3]).
- Đă
đến lúc TP.Hồ Chí Minh nên nghĩ đến xây
dựng Bảo tàng văn học Nam Bộ. Hiện con cháu
các nhà văn c̣n giữ ít nhiều kỷ vật, nếu
không có kế hoạch sưu tầm, ǵn giữ th́ sẽ
mất mát thất lạc hết.
- Ở các
tỉnh cũng nên xây dựng các nhà lưu niệm về
các nhà văn, nhằm ǵn giữ di vật, tác phẩm
của nhà văn, thể hiện thái độ tri ân, và giáo
dục thế hệ trẻ, về phương diện du
lịch th́ cũng là điểm tham quan cần thiết và
thú vị.
Chúng tôi
nghĩ văn chương nếu không ǵn giữ, không
giới thiệu, phê b́nh, nghiên cứu, giảng dạy th́
dù có hay đến mấy cũng sẽ bị rơi vào
quên lăng.
TP.HCM, tháng 5
năm 2006
CHÚ THÍCH