Hồ Hữu Tường (1910-1980)

Huỳnh Ái Tông

Ông sanh tại làng Trường Thạnh, quận Châu thành tỉnh Cần Thơ ngày 8-5-1910 trong một gia đ́nh nông dân tá điền. Học trường làng rồi trường tỉnh. Năm 1926 tham gia vào cuộc tranh đấu với thực dân Pháp nhân dịp tang lễ Phan Chu Trinh, và lănh đạo cuộc băi khóa tại trường Cần Thơ để chống bản án Nguyễn An Ninh, nên bị đuổi học. Sau nhờ bà con cho tiền sang Pháp học (1) <http://chimvni.free.fr/phuctrun/phul052d.htm>. Năm 1930, chuẩn bị thi thạc sĩ Toán th́ phong trào cách mạng ở Việt Nam bùng nổ, được kiều bào đưa ra lănh đạo cuộc chống đối bản án tử h́nh 13 liệt sĩ ở Yên Bái. Đầu năm 1931 về Việt Nam, dạy học, viết báo, tham gia vào phong trào cách mạng cùng những bạn học cũ bị trục xuất trước khi ông về nước. Sáng lập tả phái đối lập ở Đông dương, và làm lư thuyết gia cho tổ chức ấy. Năm 1932, bị bắt và bị kết án ba năm tù treo.

Năm 1933, cùng với Phan Văn Hùm chủ trương tạp chí Đồng Nai. Năm 1934, cùng với nhiều nhà cách mạng như Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm ... sáng lập nhóm La Lutte. Năm 1936 chủ trương Phong Trào Đông Dương Đại Hội. Năm 1938, tách ra khỏi nhóm La Lutte, thành lập tờ báo Militant, tạp chí Tháng Mười và chủ trương tuần báo Tia Sáng (sau thành nhật báo). Giữa năm 1939 ly khai Đệ tứ Quốc tế Cộng Sản và rời bỏ chủ nghĩ Marx. Tháng 9 năm ấy bị bắt và bị án tù 4 năm, bị đày ra Côn đảo, đến năm 1944 mới được thả về.

Khi bị an trí tại Cần thơ, có gặp giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, bàn luận về tiền đồ dân tộc, Sau đó ra Hà nội, Việt minh cướp chính quyền, bị kẹt ở đó đến cuối năm 1947, mới trốn đượvc về Sàig̣n, trong thời gian ở Hà nội, ông có sáng tác một loạt tác phẩm, sau mang về xuất bản ở miền Nam. Trong đó có Tương lai văn hóa Việt Nam, Tương lai kinh tế Việt Nam, Muốn hiểu chánh trị, Phi lạc sang Tàu (Ngàn năm một thuở, tựa in lần đầu năm 1949). Năm 1948 gia nhập vào làng báo Việt Nam, sát cánh với thi sĩ Đông Hồ, viết cho nhiều tờ báo ở Sàig̣n, cộng tác với nhóm Sống Chung, gồm có Sơn Khanh Nguyễn Văn Lộc, Lư Văn Sâm... xuất bản Thu Hương, Chị Tập, Ngàn Năm Một Thuở.

Năm 1949 sang Pháp, ra tờ Cảo thơm, mở lớp làm báo hàm thụ, xuất bản tạp chí song ngữ Anh, Pháp Pacific theo chủ trương thuyết đă gẫm trong tù " Đường lối thứ ba ". Năm 1954, nhơn có hội nghị Genève, đứng ra chủ trương nhật báo Phương Đông ở Sàig̣n để phổ biến " Trung lập chế ".

Năm 1955 muốn ngăn sự Nam Bắc tương tranh sang B́nh Xuyên (2)

<http://chimvni.free.fr/phuctrun/phul052d.htm> giải ḥa giữa Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia gồm : Cao Đài, Ḥa Hảo và B́nh Xuyên với Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm, bị mắc kẹt trong binh lửa giữa mặt trận Quốc Gia với B́nh Xuyên, rồi bị bắt. Năm 1957 bị kết án tử h́nh, án chưa thi hành nên bị giam ở Côn Đảo. Cuộc Cách Mạng 1-11-1963 lật đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm, ông và một số tù chánh trị được Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đưa về Sàig̣n, đến năm 1964, án tử h́nh giảm xuống c̣n án tù 13 năm.

Năm 1965, giữ chức Phó Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, dạy môn Xă hội học tại Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn, nơi đây ông cũng chủ trương phổ biến khoa EOMIR.

Thời gian nầy ông cho tái bản một số tiểu thuyết cũ như Phi Lạc Sang Tàu và cho xuất bản một số tác phẩm mới viết như Nói Chuyện uân, Thằng Thuộc Con Nhà Nông, Trầm Tư Của Một Tên Tội Tử H́nh, Kế Thế, Hồi Kư 41 Năm Làm Báo ...

Năm 1967, án tử h́nh của ông được ân xá. Đắc cử Dân Biểu tại Sàig̣n, năm 1970, xuống tóc tu tại gia theo phái Bửu Sơn Kỳ Hương của đức Phật Thầy Tây An, từ năm nầy trở đi, ông chuyên hoạt động về văn hóa, đề tài ông thường diễn thuyết để đề cao nền Văn hóa Dân tộc. Ông có trí nhớ, hiểu biết sâu rộng về nhiều lănh vực, do đó ông được nhiều người tôn trọng là một học giả.

Sau ngày 30-4-1975, ông bị Học Tập Cải Tạo, được thả ra rồi mất tại Sàig̣n năm 1980.

Cuộc đời của ông lúc c̣n nhỏ con nhà nghèo, học giỏi, được giúp đỡ sang Pháp du học, ông có bằng Cao Học Toán, suốt đời hoạt động chánh trị và văn hóa, ông dùng văn chương chỉ là phương tiện để hổ trợ cho hoạt động chánh trị và văn hóa của, ông chủ trương dùng văn hóa để dành chiến thắng trong chiến tranh Quốc Cộng.

Một loạt tiểu thuyết Ngàn Năm Một Thuở, Phi Lạc Sang Tàu, Phi Lạc Đại Náo Hoa Kỳ, Phi Lạc Bởn Nga nói lên những suy tư chánh trị của ông.

Ông cũng muốn làm sáng tỏ huyết thống của ḿnh, ḍng dơi của Hồ Thơm Nguyễn Huệ, con cháu của Hồ Quí Ly của Đế Thuấn. Chỉ cần đọc lại đoạn cuối của Phi Lạc Sang Tàu chúng ta cũng thấy rơ điểm nầy.

Số là mấy tháng trước đây, khi bom nguyên tử chưa nổ làm cho Nhật đầu hàng, th́ có một người quê quán ở Nam bộ, đi ra Bắc, định vượt biên giới sang Nam kinh, Trùng Khánh mà du thuyết. Đến Hà Nội th́ bị Nhật bắt, v́ Nhật biết người ấy là tay lợi hại. Người ấy chạy trốn nơi làng Phù Ninh, nhờ tôi cứu và giấu dùm trong làng. V́ muốn trả ơn cho tôi và thấy tôi ưa nói khoác, người ấy mới bày ra chuyện trào phúng, du thuyết mà nói cho tôi nghe chơi cách du thuyết bên Tàu, phải làm ǵ, nói ǵ cho các nhân vật bên Tàu phục. Đến đây, tôi chỉ nhai lại tràng lư luận trào phúng ấy chơi, chớ tôi nào có phải là tay du thuyết ǵ đâu ?

C̣n như tôi lỡ làm cho chú, ủa quên ... làm cho ngài lầm mà nh́n bà con, th́ tôi xin nhận lỗị Mà nghĩ cho kỳ cùng lư đă, dầu tôi có thiệt là họ Hồ hay chăng điều đó có quan hệ chi?

Giả danh họ Hồ, mà làm cho rạng danh họ Hồ th́ là một điều đáng cho Ngài mang ơn vậy ... Cũng như ai họ Nguyễn, phải mang ơn người Tây Sơn áo vải là Hồ Thơm đă làm rạng danh họ ḿnh với cái tên Nguyễn Huệ.

Đoạn chót của truyện ngắn Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp, Hồ Hữu Tường cho chúng ta thấy phần nào lư thuyết văn nghệ ông chủ trương :

- Chúng tôi đây là bọn chơi văn giỡn chữ, quanh năm chỉ lấy việc đem ư hay lời đẹp mà làm cho vui ḷng kẻ đọc ḿnh, rồi lấy sự vui của người làm sự sung sướng của ḿnh, cho đó là sự “đắc đạ” của ḿnh. Nếu phải mong muốn điều ǵ, th́ cố gắng tŕnh bày cho bóng bẩy, văn hoa: được thời tốt; bằng không th́ thôi, chớ chẳng hề khi nào phạm đến tự do của người...

Nghe đến đó, th́ một điểm linh quang bắt đầu hiện trong trí con thằn lằn. Người khách thứ hai nói tiếp:

- Xưa nay, trong bọn chúng tôi cũng được một vài tay lỗi lạc, kể một chuyện lư thú, hát một bài thơ hay, chuyện ấy thơ nầy được truyền ở hàng triệu miệng. Vậy, nếu ngươi có ḷng muốn độ hằng hà sa số chúng sanh, th́ cố gắng trau dồi văn tài cho tương xứng, văn ngươi tung ra là có thể cảm hóa triệu triệu người... Rồi, cũng phải luyện văn tâm, để cho văn ngươi có thể nhen nhúm được trong ḷng mỗi người một điểm lửa thiêng. Lửa bắt cháy, văn của ngươi như dầu rót thêm vào, làm cho ngọn lửa sáng lên...

Văn nghiệp của ông gồm có :

. Thu Hương,

. Chị Tập.

. Phi Lạc Sang Tàu (c̣n có tên là Ngàn Năm Một Thuở, in lần đầu tiên năm 1949)

. Phi Lạc Đại Náo Hoa Kỳ.

. Phi Lạc Bởn Nga.

. Thằng Thuộc Con Nhà Nông.

. Hồn Bướm Mơ Hoa.

. Kế Thế.

. Trầm Tư Của Một Tên Tội Tử H́nh.

. Hồi Kư 41 Năm Làm Báo.

. Nói Chuyện Tại Phú Xuân.

Trích văn : Truyện ngắn

Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp

Giữa một con đường truông thăm thẳm, vắng vẻ âm u, không một xóm nhà, ít người qua lại, có một cái am nhỏ. Am ấy mới cất, độ non ba năm thôi. Trong am chỉ có một sư cụ già, thui thủi một ḿnh quanh năm chẳng được ai thăm viếng. Trước am, nơi giữa sân, chất sẵn một đống củi, vừa lớn, vừa cao ngất; củi xếp rất vuông vắn, thẳng thắn, dường như được săn sóc chẳng khác một vườn kiểng do một vị lao trưởng giả chăm nom.

Một hôm trời đa tối rồi, nhà sư vừa lên đèn được một chặp, th́ có hai người khách đến trước ngưỡng cửa, vái mà thưa rằng:

- Bạch sư cụ, nhờ ngọn đèn dắt dẫn, chúng tôi mới doi đến đây. Mong nhờ sư cụ cho tá túc một đêm, sáng mai chúng tôi sẽ lên đường.

Nhà sư ung dung, chắp tay đáp:

- Mô Phật. Cửa thiền bao giờ cũng mở rộng cho người lỡ bước.

Rồi dừng một phút, dường như để trấn tĩnh nỗi vui đương sôi nổi trong ḷng, nhà sư tiếp:

- Ngót ba năm nay, tôi mở am nơi nầy, không được một ai đến viếng. Ngày nay là ngày ước nguyện may được hai ngài quá bước, ghé nghỉ chân. Âu cũng là duyên trước...

Nói xong, nhà sư dọn cơm chay cho khách dùng, và câu chuyện không đề, vô t́nh dẫn khách đến câu hỏi:

- Bạch sư cụ, chẳng hay sư cụ thích tụng kinh nào?

Vui sướng, ví như gặp bạn tri âm, nhà sư đáp:

- Tôi quy y Phật pháp từ thuở bé, rừng thiền có thể nói rằng đă viếng khắp nơi. Cách ba năm nay, ḷng huệ được mở ra... Và từ ấy tôi chỉ tụng kinh Di Lặc.

Một người khách hỏi:

- Sư cụ có thể cho tôi biết duyên cớ v́ sao chăng?

- Mô Phật. Chỉ có lời nói, mà độ được người, tôi sao dám tiếc lời! Vậy tôi xin vui ḷng mà nói cho hai ngài rơ. Bởi tôi đọc qua các kinh sách, thấy rằng Phật Thích Ca khi đắc đạo, có dạy: Hai ngh́n năm trăm năm về sau, Phật pháp sẽ đến chỗ chi li: Ấy là hồi mạt pháp. Di Lặc sẽ xuống trần, cứu độ chúng sanh và chỉnh đạo lại. Nay kể cũng gần đến kỳ hạn. Chắc là Phật Di Lặc đă xuống trần mà độ kẻ thành tâm tu hành. Bởi lẽ ấy cho nên tôi có nguyện tụng đủ một ngh́n lần kinh Di Lặc. Nếu lời nguyện được y, ấy là tôi sẽ đắc đạo.

Người khách thứ hai hỏi:

- Sư cụ đă tụng được bao nhiêu lần rồi?

- Đă được chín trăm chín mươi chín lần rồi. Bây giờ, chỉ cần lần thứ một ngh́n, lần tụng của đêm nay. Chắc hai ngài trước có duyên lành, đêm nay đến mà chứng kiến tôi tụng lần thứ một ngh́n ấy.

Đến đây, bữa cơm chay đă măn, khách mệt mỏi, xin ngả lưng. Nhà sư dọn dẹp trong am cho thanh khiết, rồi bước lại trước bàn Phật, khêu bấc đèn dầu, mở kinh ra mà khởi sự tụng. Tiếng tụng kinh chậm răi, như nện vào không gian. Thỉnh thoảng một tiếng chuông ngân lên đánh dấu chuỗi tiếng mơ dài đằng đẵng...

Trước khi nhắm mắt ngủ, hai người khách c̣n trao đỗi vài câu:

- Tội nghiệp thay cho sư cụ già, quá mê tín, mất sáng suốt, mà không giác ngộ. Phật pháp lập ra đă hai ngh́n năm trăm năm về trước, tránh sao cho chẳng có chỗ lỗi thời. Nhận thấy chỗ lỗi thời, các môn đệ ắt phải lo tài bồi, phát xiển mối đạo. Thế là có tư tưởng này, học thuyết nọ; rồi sinh ra môn, ra phái, ấy là nguồn gốc của sự chi li. Nay rừng thiền có hơn tám mươi bốn ngh́n cội khác nhau, ấy là lẽ dĩ nhiên vậy.

- Tôi cũng đồng ư với anh về chỗ đó, và nghĩ thêm rằng: nếu bây giờ có một vị Di Lặc xuống trần, th́ vị ấy có trọng trách cất nhắc Phật pháp cho cao kịp với sự tiến hóa của mọi sự việc từ hơn hai ngh́n năm nay. Và trách nhiệm của mỗi tín đồ của Phật là dọn ḿnh cho sẵn, để đón rước cái pháp mới sắp ra đời. Chớ mê mải trong việc gơ mơ tụng kinh, há chẳng phải là phụ ḷng mong mỏi của Thích Ca chăng?

Lời nói của hai người khách, giữa một cái am vắng vẻ, không dè có kẻ trộm nghe. Kẻ nghe trộm nầy là một con thằn lằn, đến ở am, khi am vừa mới dựng lên, và đă từng nghe chín trăm chín mươi chín lần kinh, nên có linh giác, nghe được tiếng người, biết suy nghĩ và phán đoán. Câu phê b́nh của hai người khách đa giúp cho con thằn lằn giác ngộ. Nó vốn biết nguyện vọng của nhà sư: là hễ tụng xong lần thứ một ngh́n, th́ nhà sư sẽ lên dàn hỏa mà tự thiêu... Rồi nó nghĩ: nhà sư ḷng c̣n mê tín, chưa được giác, phỏng có thiêu thân th́ làm sao nhập được Niết Bàn. Hay là ta t́m thế ngăn người, đừng để cho người thiêu thân, đợi chừng nào người giác, rồi sẽ hay.

Rồi con thằn lằn quyết định: phải ngăn ngừa, đừng để cho nhà sư tụng xong lần thứ một ngh́n. Nó nghĩ được một kế: ấy là ḅ lên bàn Phật, đến đĩa đèn dầu, rán mà uống cạn đĩa dầu. Bấc sẽ lụn, đèn tắt, nhà sư không thấy chữ mà tụng nữa.

Một sức mầu nhiệm đa giúp con thằn lằn đạt được ư nguyện: chỉ trong một hơi mà đĩa dầu đa cạn; bộ kinh chỉ mới tụng quá nửa mà thôi. Đèn tắt, nhà sư ngạc nhiên nhưng nghĩ: hay là hai người khách là kẻ phàm tục, không được duyên lành chứng giám việc đắc đạo của ḿnh? Âu là xếp kinh, nghỉ, chờ ngày mai khách lên đường, sẽ tụng lần thứ một ngh́n ấy.

Nhưng sau đó, đêm nào cũng vậy, buổi kinh đọc chưa xong mà đèn lại tắt đi. Nhà sư có lúc tính tụng kinh lần nầy vào khoảng ban ngày, nhưng nhớ lại rằng khi xưa đa có lời nguyện tụng kinh vào khuya, tĩnh mịch, nên không dám đổi.

Và một đêm kia, dằn ḷng không được, tuy tụng kinh mà mắt chốc chốc nh́n đĩa dầu để xem sự thể do đâu, nhà sư bắt gặp con thằn lằn kê mỏ mà uống dầu. Nổi giận xung lên, nhà sư dừng gơ mơ, mà mắng rằng:

- Loài nghiệt súc! Té ra mi ngăn ngừa không cho ta được đắc đạo!

Rồi tay cầm dùi mơ, nhà sư nhắm ngay đầu con thằn lằn mà đập mạnh. Con thằn lằn bị đánh vỡ đầu, chết ngay. Hôm ấy, nhà sư tụng xong lần kinh, bước lên dàn hỏa, tự châm lửa mà thiêu ḿnh.

Và cũng đêm ấy, hai cái linh hồn được đưa đến trước ṭa sen của Phật. Uy nghiêm, ngài gọi nhà sư mà dạy:

- Nhà ngươi theo cửa thiền từ thuở bé, mà chẳng hiểu bài học vở ḷng của Pháp ta là thế nào! Pháp ta đa dạy phải trừ hết dục vọng th́ mới đắc đạo, mà ngươi dục vọng lại quá nhiều: bởi việc muốn đắc đạo, để được thành Phật kia cũng là một cái dục vọng. Có dục vọng ấy là THAM; bởi tham nên giận mắng con thằn lằn ấy là SÂN; bởi sân nên tưởng rằng trừ được con thằn lằn th́ tha hồ tụng kinh, rồi đắc đạo, ấy là SI. Có đủ THAM, SÂN, SI, tất phải phạm tội sát sanh, th́ dầu ăn chay trường trọn đời cũng chưa bù được.

“Tội của ngươi lớn lắm, phải tu luyện rất nhiều mới mong chuộc được. Vậy ta truyền cho Kim Cang, La Hán hốt hết đống tro ấy tung khắp bốn phương trời. Mỗi hột tro đó sẽ hóa sanh làm một người. Chừng nào mọi người ấy đắc đạo, đám chúng sanh ấy sẽ được qui nguyên, trở lại hiệp thành một, th́ nhà ngươi sẽ đến đây mà thành chánh quả”.

Rồi Phật cho gọi hồn con thằn lằn mà dạy:

- Nhà sư chưa được giác mà làm tội, tội ấy đáng giá là một mà thôi. C̣n nhà ngươi, được nghe lời hai người khách, được giác một phần rồi, mà làm tội, tội ấy đáng kể là mười.

Hồn con thằn lằn lạy mà thưa rằng:

- Bạch Phật tổ, ḷng của đệ tử vốn là muốn độ nhà sư, dầu nát thân cũng không tiếc. Chẳng hay đệ tử có tội chi?

Phật phán:

- Muốn độ người, kể thiếu chi cách, sao ngươi ngăn đón việc tụng kinh của người? Đă đành rằng tụng kinh như nhà sư là một việc mê tín, song vẫn là một tín ngưỡng. Coi Phật vốn là coi tự tại, nếu phạm đến tự do tín ngưỡng, gọi để dắt người vào, th́ làm sao cho được? Bởi ngươi không dùng phương pháp tự do, người là kẻ mất tự do, th́ cả hai làm sao được vào coi tự tại?

Một lần nữa, con thằn lằn được giác, qú lạy mà xin tội:

- Xin Phật Tổ mở ḷng từ bi, cho đệ tử hóa sanh một kiếp nữa, để dùng phương pháp tự do mà độ vô số chúng sanh do những hột tro, mà các vị Kim Cang, La Hán vừa tung ra đó.

Phật đáp:

- Ta cho ngươi được toại nguyện.

Hồn con thằn lằn vừa muốn lạy Phật mà đi đầu thai, th́ sực nhớ lại, nên bạch rằng:

- Xin Phật Tổ dạy đệ tử phải hóa sanh làm kiếp chi?

Phật đáp:

- Nhà ngươi đă gần bến giác, phải tự ḿnh chọn h́nh thể mà hóa sanh. Tự do chọn lựa mới có thể luyện ḿnh để bước vào coi tự tại.

Hồn con thằn lằn từ ấy trôi theo mây gió, không biết trụ vào đâu, để có thể vừa dùng phương pháp tự do mà độ người, vừa có thể độ được đông người, số người đông như số hột tro do một cái xác thiêu ra. Thật chưa hề lúc nào có một linh hồn bị trừng phạt phải đau khổ đến thế.

Một hôm, trong hồi xiêu bạt, nó trông thấy bóng của hai ông khách khi xưa đă đến ngủ ở am. Vội va, nó bay theo, vái chào và kể nỗi niềm đau đớn:

- Hai ngài đă giúp cho tôi giác ngộ được một ít, có hay đâu tôi phải mang cái nghiệp vô định này. Đă trót làm ơn, xin độ cho tôi đến bờ bến.

Hai ông khách đáp:

- Chúng tôi đâu dám lên mặt thầy đời mà dạy người, huống chi lại dám đèo ḅng mang lại một giải pháp cho một vấn đề nan giải. Nhưng đă lỡ gieo trong trí ngươi một ư nghĩ làm cho ngươi phải khổ như bây giờ, th́ phải góp ư kiến để cho ngươi suy xét mà gỡ rối. Ấy gọi là chuộc lỗi.

Hồn con thằn lằn gật đầu, cảm ơn trước. Một người khách nói:

- Chúng tôi đây là bọn chơi văn giỡn chữ, quanh năm chỉ lấy việc đem ư hay lời đẹp mà làm cho vui ḷng kẻ đọc ḿnh, rồi lấy sự vui của người làm sự sung sướng của ḿnh, cho đó là sự “đắc đạo” của ḿnh. Nếu phải mong muốn điều ǵ, th́ cố gắng tŕnh bày cho bóng bẩy, văn hoa: được thời tốt; bằng không th́ thôi, chớ chẳng hề khi nào phạm đến tự do của người...

Nghe đến đó, th́ một điểm linh quang bắt đầu hiện trong trí con thằn lằn. Người khách thứ hai nói tiếp:

- Xưa nay, trong bọn chúng tôi cũng được một vài tay lỗi lạc, kể một chuyện lư thú, hát một bài thơ hay, chuyện ấy thơ nầy được truyền ở hàng triệu miệng. Vậy, nếu ngươi có ḷng muốn độ hằng hà sa số chúng sanh, th́ cố gắng trau dồi văn tài cho tương xứng, văn ngươi tung ra là có thể cảm hóa triệu triệu người... Rồi, cũng phải luyện văn tâm, để cho văn ngươi có thể nhen nhúm được trong ḷng mỗi người một điểm lửa thiêng. Lửa bắt cháy, văn của ngươi như dầu rót thêm vào, làm cho ngọn lửa sáng lên...

Hồn con thằn lằn gật đầu ba cái để tạ ơn và nói rằng:

-Con đường ấy khó đi cho đến hết được, song chắc chắn là đi cùng đường, ắt có thể đến trước ṭa sen mà chầu Phật Tổ. Vậy tôi xin cố gắng.

 

Ghi chú:

(1) <http://chimvni.free.fr/phuctrun/phul052d.htm> Theo lời ông thuật lại, trong thời gian ở Pháp, ông có gia nhập đảng Cộng sản và cùng với Hồ Chí Minh, Nguyễn Thế Truyền ... viết trên tờ Le Paria lấy chung bút hiệu những bài báo là Nguyễn Ái Quốc.

(2) <http://chimvni.free.fr/phuctrun/phul052d.htm> Lực lượng quân sự do Bảy Viễn lănh đạo, Tổng hành dinh đặt ở bên kia cầu chữ Y, Sàig̣n.

 

 

Nguồn: Huỳnh Ái Tông. Các công tŕnh văn học quốc ngữ miền Nam [2.2] <http://www.aihuuvinhnghiem.org/>