Hồ Hữu
Tường (1910-1980)
Huỳnh Ái
Tông
Ông sanh tại làng
Trường Thạnh, quận Châu thành tỉnh Cần
Thơ ngày 8-5-1910 trong một gia đ́nh nông dân tá
điền. Học trường làng rồi trường
tỉnh. Năm 1926 tham gia vào cuộc tranh đấu
với thực dân Pháp nhân dịp tang lễ Phan Chu Trinh, và
lănh đạo cuộc băi khóa tại trường Cần
Thơ để chống bản án Nguyễn An Ninh, nên
bị đuổi học. Sau nhờ bà con cho tiền sang
Pháp học (1) <http://chimvni.free.fr/phuctrun/phul052d.htm>.
Năm 1930, chuẩn bị thi thạc sĩ Toán th́ phong trào
cách mạng ở Việt Nam bùng nổ, được
kiều bào đưa ra lănh đạo cuộc chống
đối bản án tử h́nh 13 liệt sĩ ở Yên
Bái. Đầu năm 1931 về Việt Nam, dạy học,
viết báo, tham gia vào phong trào cách mạng cùng những
bạn học cũ bị trục xuất trước khi
ông về nước. Sáng lập tả phái đối
lập ở Đông dương, và làm lư thuyết gia cho
tổ chức ấy. Năm 1932, bị bắt và bị
kết án ba năm tù treo.
Năm 1933, cùng với
Phan Văn Hùm chủ trương tạp chí Đồng Nai.
Năm 1934, cùng với nhiều nhà cách mạng như
Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm ... sáng lập
nhóm La Lutte. Năm 1936 chủ trương Phong Trào Đông
Dương Đại Hội. Năm 1938, tách ra khỏi
nhóm La Lutte, thành lập tờ báo Militant, tạp chí Tháng Mười
và chủ trương tuần báo Tia Sáng (sau thành nhật
báo). Giữa năm 1939 ly khai Đệ tứ Quốc
tế Cộng Sản và rời bỏ chủ nghĩ Marx.
Tháng 9 năm ấy bị bắt và bị án tù 4 năm,
bị đày ra Côn đảo, đến năm 1944 mới
được thả về.
Khi bị an trí tại
Cần thơ, có gặp giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, bàn
luận về tiền đồ dân tộc, Sau đó ra Hà
nội, Việt minh cướp chính quyền, bị
kẹt ở đó đến cuối năm 1947, mới
trốn đượvc về Sàig̣n, trong thời gian ở
Hà nội, ông có sáng tác một loạt tác phẩm, sau mang
về xuất bản ở miền Nam. Trong đó có
Tương lai văn hóa Việt Nam, Tương lai kinh
tế Việt Nam, Muốn hiểu chánh trị, Phi lạc
sang Tàu (Ngàn năm một thuở, tựa in lần
đầu năm 1949). Năm 1948 gia nhập vào làng báo
Việt Nam, sát cánh với thi sĩ Đông Hồ, viết
cho nhiều tờ báo ở Sàig̣n, cộng tác với nhóm
Sống Chung, gồm có Sơn Khanh Nguyễn Văn Lộc,
Lư Văn Sâm... xuất bản Thu Hương, Chị
Tập, Ngàn Năm Một Thuở.
Năm 1949 sang Pháp, ra
tờ Cảo thơm, mở lớp làm báo hàm thụ,
xuất bản tạp chí song ngữ Anh, Pháp Pacific theo
chủ trương thuyết đă gẫm trong tù "
Đường lối thứ ba ". Năm 1954, nhơn
có hội nghị Genève, đứng ra chủ trương
nhật báo Phương Đông ở Sàig̣n để
phổ biến " Trung lập chế ".
Năm 1955 muốn
ngăn sự Nam Bắc tương tranh sang B́nh Xuyên (2)
<http://chimvni.free.fr/phuctrun/phul052d.htm>
giải ḥa giữa Mặt Trận Thống Nhất Toàn
Lực Quốc Gia gồm : Cao Đài, Ḥa Hảo và B́nh Xuyên
với Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm, bị
mắc kẹt trong binh lửa giữa mặt trận
Quốc Gia với B́nh Xuyên, rồi bị bắt. Năm
1957 bị kết án tử h́nh, án chưa thi hành nên bị
giam ở Côn Đảo. Cuộc Cách Mạng 1-11-1963 lật
đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm, ông và
một số tù chánh trị được Hội
Đồng Quân Nhân Cách Mạng đưa về Sàig̣n,
đến năm 1964, án tử h́nh giảm xuống c̣n án tù
13 năm.
Năm 1965, giữ
chức Phó Viện Trưởng Viện Đại Học
Vạn Hạnh, dạy môn Xă hội học tại Phân Khoa
Văn Học và Khoa Học Nhân Văn, nơi đây ông
cũng chủ trương phổ biến khoa EOMIR.
Thời gian nầy ông
cho tái bản một số tiểu thuyết cũ như
Phi Lạc Sang Tàu và cho xuất bản một số tác
phẩm mới viết như Nói Chuyện uân, Thằng
Thuộc Con Nhà Nông, Trầm Tư Của Một Tên Tội
Tử H́nh, Kế Thế, Hồi Kư 41 Năm Làm Báo ...
Năm 1967, án tử
h́nh của ông được ân xá. Đắc cử Dân
Biểu tại Sàig̣n, năm 1970, xuống tóc tu tại gia
theo phái Bửu Sơn Kỳ Hương của đức
Phật Thầy Tây An, từ năm nầy trở đi,
ông chuyên hoạt động về văn hóa, đề tài
ông thường diễn thuyết để đề cao
nền Văn hóa Dân tộc. Ông có trí nhớ, hiểu
biết sâu rộng về nhiều lănh vực, do đó ông
được nhiều người tôn trọng là một
học giả.
Sau ngày 30-4-1975, ông
bị Học Tập Cải Tạo, được
thả ra rồi mất tại Sàig̣n năm 1980.
Cuộc đời
của ông lúc c̣n nhỏ con nhà nghèo, học giỏi,
được giúp đỡ sang Pháp du học, ông có
bằng Cao Học Toán, suốt đời hoạt
động chánh trị và văn hóa, ông dùng văn
chương chỉ là phương tiện để
hổ trợ cho hoạt động chánh trị và văn
hóa của, ông chủ trương dùng văn hóa để
dành chiến thắng trong chiến tranh Quốc Cộng.
Một loạt
tiểu thuyết Ngàn Năm Một Thuở, Phi Lạc Sang
Tàu, Phi Lạc Đại Náo Hoa Kỳ, Phi Lạc Bởn Nga
nói lên những suy tư chánh trị của ông.
Ông cũng muốn làm
sáng tỏ huyết thống của ḿnh, ḍng dơi của
Hồ Thơm Nguyễn Huệ, con cháu của Hồ Quí Ly
của Đế Thuấn. Chỉ cần đọc lại
đoạn cuối của Phi Lạc Sang Tàu chúng ta cũng
thấy rơ điểm nầy.
Số là mấy tháng
trước đây, khi bom nguyên tử chưa nổ làm cho
Nhật đầu hàng, th́ có một người quê quán
ở Nam bộ, đi ra Bắc, định vượt
biên giới sang Nam kinh, Trùng Khánh mà du thuyết. Đến Hà
Nội th́ bị Nhật bắt, v́ Nhật biết
người ấy là tay lợi hại. Người ấy
chạy trốn nơi làng Phù Ninh, nhờ tôi cứu và
giấu dùm trong làng. V́ muốn trả ơn cho tôi và
thấy tôi ưa nói khoác, người ấy mới bày ra
chuyện trào phúng, du thuyết mà nói cho tôi nghe chơi cách du
thuyết bên Tàu, phải làm ǵ, nói ǵ cho các nhân vật bên Tàu
phục. Đến đây, tôi chỉ nhai lại tràng lư
luận trào phúng ấy chơi, chớ tôi nào có phải là
tay du thuyết ǵ đâu ?
C̣n như tôi lỡ làm
cho chú, ủa quên ... làm cho ngài lầm mà nh́n bà con, th́ tôi xin
nhận lỗị Mà nghĩ cho kỳ cùng lư đă, dầu
tôi có thiệt là họ Hồ hay chăng điều đó
có quan hệ chi?
Giả danh họ
Hồ, mà làm cho rạng danh họ Hồ th́ là một
điều đáng cho Ngài mang ơn vậy ... Cũng
như ai họ Nguyễn, phải mang ơn người Tây
Sơn áo vải là Hồ Thơm đă làm rạng danh
họ ḿnh với cái tên Nguyễn Huệ.
Đoạn chót của
truyện ngắn Con Thằn Lằn Chọn Nghiệp,
Hồ Hữu Tường cho chúng ta thấy phần nào lư
thuyết văn nghệ ông chủ trương :
- Chúng tôi đây là
bọn chơi văn giỡn chữ, quanh năm chỉ
lấy việc đem ư hay lời đẹp mà làm cho vui
ḷng kẻ đọc ḿnh, rồi lấy sự vui của
người làm sự sung sướng của ḿnh, cho đó
là sự “đắc đạ” của ḿnh. Nếu phải
mong muốn điều ǵ, th́ cố gắng tŕnh bày cho bóng
bẩy, văn hoa: được thời tốt; bằng
không th́ thôi, chớ chẳng hề khi nào phạm
đến tự do của người...
Nghe đến đó,
th́ một điểm linh quang bắt đầu hiện
trong trí con thằn lằn. Người khách thứ hai nói
tiếp:
- Xưa nay, trong
bọn chúng tôi cũng được một vài tay lỗi
lạc, kể một chuyện lư thú, hát một bài thơ
hay, chuyện ấy thơ nầy được truyền
ở hàng triệu miệng. Vậy, nếu ngươi có
ḷng muốn độ hằng hà sa số chúng sanh, th́
cố gắng trau dồi văn tài cho tương xứng,
văn ngươi tung ra là có thể cảm hóa triệu
triệu người... Rồi, cũng phải luyện
văn tâm, để cho văn ngươi có thể nhen nhúm
được trong ḷng mỗi người một
điểm lửa thiêng. Lửa bắt cháy, văn của
ngươi như dầu rót thêm vào, làm cho ngọn lửa
sáng lên...
Văn nghiệp
của ông gồm có :
. Thu Hương,
. Chị
Tập.
. Phi Lạc
Sang Tàu (c̣n có tên là Ngàn Năm Một Thuở, in lần
đầu tiên năm 1949)
. Phi Lạc
Đại Náo Hoa Kỳ.
. Phi Lạc
Bởn Nga.
. Thằng
Thuộc Con Nhà Nông.
. Hồn
Bướm Mơ Hoa.
. Kế
Thế.
. Trầm
Tư Của Một Tên Tội Tử H́nh.
. Hồi Kư 41
Năm Làm Báo.
. Nói Chuyện
Tại Phú Xuân.
Trích văn :
Truyện ngắn
Con Thằn
Lằn Chọn Nghiệp
Giữa một con
đường truông thăm thẳm, vắng vẻ âm u,
không một xóm nhà, ít người qua lại, có một cái am
nhỏ. Am ấy mới cất, độ non ba năm thôi.
Trong am chỉ có một sư cụ già, thui thủi một
ḿnh quanh năm chẳng được ai thăm viếng.
Trước am, nơi giữa sân, chất sẵn một
đống củi, vừa lớn, vừa cao ngất;
củi xếp rất vuông vắn, thẳng thắn,
dường như được săn sóc chẳng khác
một vườn kiểng do một vị lao
trưởng giả chăm nom.
Một hôm trời
đa tối rồi, nhà sư vừa lên đèn
được một chặp, th́ có hai người khách
đến trước ngưỡng cửa, vái mà thưa
rằng:
- Bạch sư cụ,
nhờ ngọn đèn dắt dẫn, chúng tôi mới doi
đến đây. Mong nhờ sư cụ cho tá túc một
đêm, sáng mai chúng tôi sẽ lên đường.
Nhà sư ung dung,
chắp tay đáp:
- Mô Phật. Cửa
thiền bao giờ cũng mở rộng cho người
lỡ bước.
Rồi dừng một
phút, dường như để trấn tĩnh nỗi
vui đương sôi nổi trong ḷng, nhà sư tiếp:
- Ngót ba năm nay, tôi
mở am nơi nầy, không được một ai
đến viếng. Ngày nay là ngày ước nguyện may
được hai ngài quá bước, ghé nghỉ chân. Âu cũng
là duyên trước...
Nói xong, nhà sư
dọn cơm chay cho khách dùng, và câu chuyện không
đề, vô t́nh dẫn khách đến câu hỏi:
- Bạch sư cụ,
chẳng hay sư cụ thích tụng kinh nào?
Vui sướng, ví
như gặp bạn tri âm, nhà sư đáp:
- Tôi quy y Phật pháp
từ thuở bé, rừng thiền có thể nói rằng
đă viếng khắp nơi. Cách ba năm nay, ḷng huệ
được mở ra... Và từ ấy tôi chỉ
tụng kinh Di Lặc.
Một người
khách hỏi:
- Sư cụ có
thể cho tôi biết duyên cớ v́ sao chăng?
- Mô Phật. Chỉ có
lời nói, mà độ được người, tôi sao
dám tiếc lời! Vậy tôi xin vui ḷng mà nói cho hai ngài rơ.
Bởi tôi đọc qua các kinh sách, thấy rằng
Phật Thích Ca khi đắc đạo, có dạy: Hai ngh́n
năm trăm năm về sau, Phật pháp sẽ
đến chỗ chi li: Ấy là hồi mạt pháp. Di
Lặc sẽ xuống trần, cứu độ chúng sanh
và chỉnh đạo lại. Nay kể cũng gần
đến kỳ hạn. Chắc là Phật Di Lặc
đă xuống trần mà độ kẻ thành tâm tu hành.
Bởi lẽ ấy cho nên tôi có nguyện tụng
đủ một ngh́n lần kinh Di Lặc. Nếu lời
nguyện được y, ấy là tôi sẽ đắc
đạo.
Người khách
thứ hai hỏi:
- Sư cụ đă
tụng được bao nhiêu lần rồi?
- Đă được
chín trăm chín mươi chín lần rồi. Bây giờ,
chỉ cần lần thứ một ngh́n, lần tụng
của đêm nay. Chắc hai ngài trước có duyên lành,
đêm nay đến mà chứng kiến tôi tụng lần
thứ một ngh́n ấy.
Đến đây,
bữa cơm chay đă măn, khách mệt mỏi, xin ngả
lưng. Nhà sư dọn dẹp trong am cho thanh khiết,
rồi bước lại trước bàn Phật, khêu bấc
đèn dầu, mở kinh ra mà khởi sự tụng.
Tiếng tụng kinh chậm răi, như nện vào không gian.
Thỉnh thoảng một tiếng chuông ngân lên đánh
dấu chuỗi tiếng mơ dài đằng đẵng...
Trước khi
nhắm mắt ngủ, hai người khách c̣n trao
đỗi vài câu:
- Tội nghiệp thay
cho sư cụ già, quá mê tín, mất sáng suốt, mà không giác
ngộ. Phật pháp lập ra đă hai ngh́n năm trăm
năm về trước, tránh sao cho chẳng có chỗ
lỗi thời. Nhận thấy chỗ lỗi thời, các
môn đệ ắt phải lo tài bồi, phát xiển
mối đạo. Thế là có tư tưởng này,
học thuyết nọ; rồi sinh ra môn, ra phái, ấy là
nguồn gốc của sự chi li. Nay rừng thiền có
hơn tám mươi bốn ngh́n cội khác nhau, ấy là
lẽ dĩ nhiên vậy.
- Tôi cũng
đồng ư với anh về chỗ đó, và nghĩ thêm
rằng: nếu bây giờ có một vị Di Lặc
xuống trần, th́ vị ấy có trọng trách cất
nhắc Phật pháp cho cao kịp với sự tiến hóa
của mọi sự việc từ hơn hai ngh́n năm
nay. Và trách nhiệm của mỗi tín đồ của
Phật là dọn ḿnh cho sẵn, để đón
rước cái pháp mới sắp ra đời. Chớ mê
mải trong việc gơ mơ tụng kinh, há chẳng phải là
phụ ḷng mong mỏi của Thích Ca chăng?
Lời nói của hai
người khách, giữa một cái am vắng vẻ, không
dè có kẻ trộm nghe. Kẻ nghe trộm nầy là một
con thằn lằn, đến ở am, khi am vừa mới
dựng lên, và đă từng nghe chín trăm chín mươi
chín lần kinh, nên có linh giác, nghe được tiếng
người, biết suy nghĩ và phán đoán. Câu phê b́nh
của hai người khách đa giúp cho con thằn lằn
giác ngộ. Nó vốn biết nguyện vọng của nhà
sư: là hễ tụng xong lần thứ một ngh́n, th́
nhà sư sẽ lên dàn hỏa mà tự thiêu... Rồi nó
nghĩ: nhà sư ḷng c̣n mê tín, chưa được giác,
phỏng có thiêu thân th́ làm sao nhập được
Niết Bàn. Hay là ta t́m thế ngăn người,
đừng để cho người thiêu thân, đợi
chừng nào người giác, rồi sẽ hay.
Rồi con thằn
lằn quyết định: phải ngăn ngừa,
đừng để cho nhà sư tụng xong lần
thứ một ngh́n. Nó nghĩ được một
kế: ấy là ḅ lên bàn Phật, đến đĩa
đèn dầu, rán mà uống cạn đĩa dầu.
Bấc sẽ lụn, đèn tắt, nhà sư không thấy
chữ mà tụng nữa.
Một sức mầu
nhiệm đa giúp con thằn lằn đạt
được ư nguyện: chỉ trong một hơi mà
đĩa dầu đa cạn; bộ kinh chỉ mới tụng
quá nửa mà thôi. Đèn tắt, nhà sư ngạc nhiên
nhưng nghĩ: hay là hai người khách là kẻ phàm
tục, không được duyên lành chứng giám việc
đắc đạo của ḿnh? Âu là xếp kinh, nghỉ,
chờ ngày mai khách lên đường, sẽ tụng
lần thứ một ngh́n ấy.
Nhưng sau đó,
đêm nào cũng vậy, buổi kinh đọc chưa xong
mà đèn lại tắt đi. Nhà sư có lúc tính tụng
kinh lần nầy vào khoảng ban ngày, nhưng nhớ
lại rằng khi xưa đa có lời nguyện tụng
kinh vào khuya, tĩnh mịch, nên không dám đổi.
Và một đêm kia,
dằn ḷng không được, tuy tụng kinh mà mắt
chốc chốc nh́n đĩa dầu để xem sự
thể do đâu, nhà sư bắt gặp con thằn lằn
kê mỏ mà uống dầu. Nổi giận xung lên, nhà sư
dừng gơ mơ, mà mắng rằng:
- Loài nghiệt súc! Té ra
mi ngăn ngừa không cho ta được đắc
đạo!
Rồi tay cầm dùi
mơ, nhà sư nhắm ngay đầu con thằn lằn mà
đập mạnh. Con thằn lằn bị đánh vỡ
đầu, chết ngay. Hôm ấy, nhà sư tụng xong
lần kinh, bước lên dàn hỏa, tự châm lửa mà
thiêu ḿnh.
Và cũng đêm
ấy, hai cái linh hồn được đưa
đến trước ṭa sen của Phật. Uy nghiêm, ngài
gọi nhà sư mà dạy:
- Nhà ngươi theo
cửa thiền từ thuở bé, mà chẳng hiểu bài
học vở ḷng của Pháp ta là thế nào! Pháp ta đa
dạy phải trừ hết dục vọng th́ mới
đắc đạo, mà ngươi dục vọng
lại quá nhiều: bởi việc muốn đắc
đạo, để được thành Phật kia
cũng là một cái dục vọng. Có dục vọng
ấy là THAM; bởi tham nên giận mắng con thằn
lằn ấy là SÂN; bởi sân nên tưởng rằng
trừ được con thằn lằn th́ tha hồ
tụng kinh, rồi đắc đạo, ấy là SI. Có
đủ THAM, SÂN, SI, tất phải phạm tội sát
sanh, th́ dầu ăn chay trường trọn đời
cũng chưa bù được.
“Tội của
ngươi lớn lắm, phải tu luyện rất nhiều
mới mong chuộc được. Vậy ta truyền cho
Kim Cang, La Hán hốt hết đống tro ấy tung
khắp bốn phương trời. Mỗi hột tro
đó sẽ hóa sanh làm một người. Chừng nào
mọi người ấy đắc đạo, đám
chúng sanh ấy sẽ được qui nguyên, trở
lại hiệp thành một, th́ nhà ngươi sẽ
đến đây mà thành chánh quả”.
Rồi Phật cho
gọi hồn con thằn lằn mà dạy:
- Nhà sư chưa
được giác mà làm tội, tội ấy đáng giá là
một mà thôi. C̣n nhà ngươi, được nghe lời
hai người khách, được giác một phần
rồi, mà làm tội, tội ấy đáng kể là
mười.
Hồn con thằn
lằn lạy mà thưa rằng:
- Bạch Phật
tổ, ḷng của đệ tử vốn là muốn
độ nhà sư, dầu nát thân cũng không tiếc.
Chẳng hay đệ tử có tội chi?
Phật phán:
- Muốn độ
người, kể thiếu chi cách, sao ngươi ngăn
đón việc tụng kinh của người? Đă
đành rằng tụng kinh như nhà sư là một
việc mê tín, song vẫn là một tín ngưỡng. Coi
Phật vốn là coi tự tại, nếu phạm
đến tự do tín ngưỡng, gọi để
dắt người vào, th́ làm sao cho được? Bởi
ngươi không dùng phương pháp tự do, người
là kẻ mất tự do, th́ cả hai làm sao
được vào coi tự tại?
Một lần nữa,
con thằn lằn được giác, qú lạy mà xin
tội:
- Xin Phật Tổ
mở ḷng từ bi, cho đệ tử hóa sanh một
kiếp nữa, để dùng phương pháp tự do mà
độ vô số chúng sanh do những hột tro, mà các vị
Kim Cang, La Hán vừa tung ra đó.
Phật đáp:
- Ta cho ngươi
được toại nguyện.
Hồn con thằn
lằn vừa muốn lạy Phật mà đi đầu
thai, th́ sực nhớ lại, nên bạch rằng:
- Xin Phật Tổ
dạy đệ tử phải hóa sanh làm kiếp chi?
Phật đáp:
- Nhà ngươi đă
gần bến giác, phải tự ḿnh chọn h́nh thể mà
hóa sanh. Tự do chọn lựa mới có thể luyện
ḿnh để bước vào coi tự tại.
Hồn con thằn
lằn từ ấy trôi theo mây gió, không biết trụ vào
đâu, để có thể vừa dùng phương pháp
tự do mà độ người, vừa có thể độ
được đông người, số người
đông như số hột tro do một cái xác thiêu ra.
Thật chưa hề lúc nào có một linh hồn bị
trừng phạt phải đau khổ đến thế.
Một hôm, trong hồi
xiêu bạt, nó trông thấy bóng của hai ông khách khi xưa
đă đến ngủ ở am. Vội va, nó bay theo, vái
chào và kể nỗi niềm đau đớn:
- Hai ngài đă giúp cho
tôi giác ngộ được một ít, có hay đâu tôi
phải mang cái nghiệp vô định này. Đă trót làm
ơn, xin độ cho tôi đến bờ bến.
Hai ông khách đáp:
- Chúng tôi đâu dám lên
mặt thầy đời mà dạy người, huống
chi lại dám đèo ḅng mang lại một giải pháp cho
một vấn đề nan giải. Nhưng đă lỡ
gieo trong trí ngươi một ư nghĩ làm cho ngươi
phải khổ như bây giờ, th́ phải góp ư kiến
để cho ngươi suy xét mà gỡ rối. Ấy
gọi là chuộc lỗi.
Hồn con thằn
lằn gật đầu, cảm ơn trước.
Một người khách nói:
- Chúng tôi đây là
bọn chơi văn giỡn chữ, quanh năm chỉ
lấy việc đem ư hay lời đẹp mà làm cho vui
ḷng kẻ đọc ḿnh, rồi lấy sự vui của
người làm sự sung sướng của ḿnh, cho đó
là sự “đắc đạo” của ḿnh. Nếu
phải mong muốn điều ǵ, th́ cố gắng tŕnh
bày cho bóng bẩy, văn hoa: được thời
tốt; bằng không th́ thôi, chớ chẳng hề khi nào
phạm đến tự do của người...
Nghe đến đó,
th́ một điểm linh quang bắt đầu hiện
trong trí con thằn lằn. Người khách thứ hai nói
tiếp:
- Xưa nay, trong
bọn chúng tôi cũng được một vài tay lỗi
lạc, kể một chuyện lư thú, hát một bài thơ
hay, chuyện ấy thơ nầy được truyền
ở hàng triệu miệng. Vậy, nếu ngươi có
ḷng muốn độ hằng hà sa số chúng sanh, th́
cố gắng trau dồi văn tài cho tương xứng,
văn ngươi tung ra là có thể cảm hóa triệu
triệu người... Rồi, cũng phải luyện
văn tâm, để cho văn ngươi có thể nhen nhúm
được trong ḷng mỗi người một
điểm lửa thiêng. Lửa bắt cháy, văn của
ngươi như dầu rót thêm vào, làm cho ngọn lửa
sáng lên...
Hồn con thằn
lằn gật đầu ba cái để tạ ơn và nói
rằng:
-Con đường
ấy khó đi cho đến hết được, song
chắc chắn là đi cùng đường, ắt có
thể đến trước ṭa sen mà chầu Phật
Tổ. Vậy tôi xin cố gắng.
Ghi chú:
(1)
<http://chimvni.free.fr/phuctrun/phul052d.htm> Theo lời ông
thuật lại, trong thời gian ở Pháp, ông có gia
nhập đảng Cộng sản và cùng với Hồ Chí
Minh, Nguyễn Thế Truyền ... viết trên tờ Le Paria
lấy chung bút hiệu những bài báo là Nguyễn Ái
Quốc.
(2)
<http://chimvni.free.fr/phuctrun/phul052d.htm> Lực lượng
quân sự do Bảy Viễn lănh đạo, Tổng hành dinh
đặt ở bên kia cầu chữ Y, Sàig̣n.
Nguồn: Huỳnh Ái Tông. Các
công tŕnh văn học quốc ngữ miền Nam [2.2] <http://www.aihuuvinhnghiem.org/>