CON THẰN
LẰN CHỌN NGHIỆP
Hồ Hữu Tường
Giữa một đuờng truông thăm thẳm, vắng
vẻ và âm u, không một xóm nhà, ít người qua lại,
có một cái am nhỏ. Am ấy mới cất, độ
non ba năm thôi. Trong am, chỉ có một sư cụ già,
thui thủi một mình, quanh năm chẳng đuợc ai
thăm viếng. Trước am, nơi giữa sân, chất
sẵn một đống củi, vừa lớn, vừa
cao ngất, củi sắp vuông vắn, thẳng thắn,
dường như được săn sóc chẳng khác
một vườn kiểng do một vị lão
trưởng giả chăm nom.
Một hôm,
trời đã tối rồi, nhà sư vừa lên đèn
được một chặp, thì có hai người khách
đến trước ngưỡng cửa, vái mà thưa
rằng:
- Bạch sư
cụ, nhờ ngọn đèn dắt dẫn, chúng tôi
mới dõi đến đây. Mong nhờ sư cụ cho tá
túc một đêm, sáng mai chúng tôi sẽ lên đuờng.
Nhà sư ung dung,
chắp tay đáp:
- Mô Phật,
cửa thiền bao giờ cũng mở rộng cho
người lỡ bước.
Rồi dừng
một phút, dường như để trấn tĩnh
nỗi vui đương sôi nổi trong lòng, nhà sư
tiếp:
- Ngót ba năm nay,
tôi mở am nơi này, không được một ai
đến viếng. Ngày nay là ngày ước nguyện, may
đuợc hai ngài quá bước, ghé nghỉ chân. Âu cũng
là duyên trước....
Nói xong, nhà sư
dọn cơm chay cho khách dùng, và câu chuyện không
đề, vô tình dẫn khách đến câu hỏi:
- Bạch sư
cụ, chẳng hay sư cụ thích tụng kinh nào?
Vui sướng,
vì như gặp bạn tri âm, nhà sư đáp:
- Tôi quy y Phật
pháp từ thuở bé, rừng thiền có thể nói rằng
đã viếng khắp nơi. Cách ba năm nay, lòng huệ
được mở ra... Và từ ấy, tôi chỉ
tụng kinh Di Lặc.
Một
người khách hỏi:
- Sư cụ có
thể cho tôi biết duyên cớ vì sao chăng?
- Mô Phật.
Chỉ có lời nói mà độ được
người, tôi sao dám tiếc lời? Vậy tôi xin vui lòng
nói cho hai ngài rõ. Bởi tôi đọc qua các kinh sách, thấy
rằng Phật Thích Ca khi đắc đạo, có dạy:
Hai ngàn năm trăm năm về sau, Phật pháp sẽ
đến chỗ chi ly, ấy là hồi mạt pháp. Di
Lặc sẽ xuống trần mà cứu độ chúng sanh
và chỉnh đạo lại. Nay cũng đã gần
đến kỳ hạn. Chắc là Phật Di Lặc
đã xuống trần mà độ kẻ thành tâm tu hành.
Bởi lẽ ấy tôi có nguyện tụng đủ
một nghìn lần kinh Di Lặc. Nếu lời nguyện
được ỵ, ấy là tôi sẽ đắc
đạo.
Người khách
thứ hai hỏi:
- Sư cụ
đã tụng đuợc bao nhiêu lần rồi?
- Đã
được chín trăm chín mươi chín lần
rồi. Bây giờ, chỉ còn lần thứ một nghìn;
lần tụng của đêm nay. Chắc hai ngài
trước có duyên lành, đêm nay đến mà chứng
kiến tôi tụng lần thứ một nghìn ấy...
Đến
đây, bữa cơm chay đã mãn. Khách mệt mỏi, xin
ngã lưng. Nhà sư dọn dẹp trong am cho thanh khiết,
rồi bước tới trước bàn Phật, khêu
bấc đèn dầu, mở kinh ra mà khởi sự
tụng. Tiếng tụng kinh chậm rãi, như nện vào
không gian. Thỉnh thoảng một tiếng chuông ngân lên,
đánh dấu chuỗi tiếng mõ dài đăng đẳng...
Trước khi
nhắm mắt ngủ, hai người khách còn trao
đổi vài câu:
- Tội
nghiệp thay cho sư cụ già, quá mê tín, mất sáng
suốt, mà không giác ngộ. Phật pháp lập ra đã hai
nghìn năm trăm năm về trước, tránh sao cho
chẳng có chỗ lỗi thời. Nhận thấy chỗ
lỗi thời, các môn đệ ắt phải lo tài
bồi, phát xiển mối đạo. Thế là có tư
tưởng này, học thuyết nọ ; rồi sanh ra môn
ra phái. Ấy là nguồn gốc của sự chi li. Nay
rừng thiền đã hơn tám mươi bốn ngàn
cội khác nhau, ấy là lẽ dĩ nhiên vậy.
- Tôi cung
đồng ý với anh về chỗ đó, và nghĩ thêm
rằng: Nếu bây giờ có một vị Di Lặc
xuống trần, thì vị ấy có trọng trách cất
nhắc Phật pháp cho kịp với mọi sự
tiến hóa của mọi sự việc từ hơn hai
nghìn năm nay. Và trách nhiệm của mỗi tín đồ
của Phật là dọn mình cho sẵn, để đón
rước cái Pháp mới sắp ra đời. Chớ mê
mải trong việc gõ mõ tụng kinh, há chẳng phải là
phụ lòng mong của Thích Ca chăng?
Lời nói của
hai người khách giữa cái am vắng vẻ, không dè có
kẻ trộm nghe. Kẻ nghe trộm này là một con
thằn lằn, đến ở am khi am vừa mới
dựng lên, và đã từng nghe 999 lần kinh, nên có linh
giác, nghe được tiếng người, biết suy
nghĩ và phán đoán. Câu phê bình của hai người khách
đã giúp cho con thằn lằn giác ngộ. Nó vốn
biết nguyện vọng của nhà sư: là hễ
tụng xong lần thứ một nghìn, thì nhà sư sẽ
lên giàn hỏa mà tự thiêu... Rồi nó nghĩ: nhà sư
lòng còn mê tín, chưa được giác, phỏng có thiêu
thân, thì làm sao nhập được Niết Bàn? Hay là ta tìm
thế ngăn nguời, đừng để cho
người thiêu thân, đợi chừng nào người
được giác rồi sẽ hay?
Rồi con
thằn lằn quyết định: Phải ngăn
ngừa, đừng để nhà sư tụng xong lần
thứ một nghìn. Nó nghĩ được một kế:
Ấy là bò lên bàn Phật, đến dĩa đèn dầu,
rán sức mà uống cạn dĩa dầu. Bấc sẽ
lụn, đèn tắt, nhà sư không thấy chữ mà
tụng nữa.
Một sức
mầu nhiệm đã giúp cho con thằn lằn đạt
được ý nguyện: chỉ trong một hơi mà
dĩa dầu đã cạn: bộ kinh chỉ tụng
được quá nửa mà thôi. Đèn tắt, nhà sư
ngạc nhiên, nhưng nghĩ: hai người khách là kẻ
phàm tục, không được duyên lành chứng giám
việc đắc đạo của mình. Âu là xếp kinh,
nghỉ, chờ ngày mai khách lên đuờng, sẽ tụng
lần thứ một nghìn ấy.
Nhưng, sau đó
đêm nào cũng vậy, buổi đọc kinh chưa xong
mà đèn lại tắt đi. Nhà sư có lúc tính tụng kinh
lần này vào khoảng ban ngày, nhưng nhớ lại khi
xưa đã có lời nguyện tụng kinh vào lúc khuya, tinh
mịch, nên không dám đổi.
Và một đêm
kia, dằn lòng không được, tuy tụng kinh mà
mắt chốc chốc nhìn lên dĩa dầu để xem
sự thể do đâu, nhà sư bắt gặp con thằn
lằn kê mỏ mà uống dầu. Nổi giận xung lên,
nhà sư dừng gõ mõ, và mắng rằng:cho ta
được đắc đạo!
- Loài nghiệt súc!
Té ra mi ngăn ngừa không.
Rồi tay cầm
dùi mõ, nhà sư nhắm ngay đầu con thằn lằn mà
đập mạnh. Con thằn lằn bị đánh vỡ
đầu, chết ngay. Hôm ấy, nhà sư tụng xong
lần kinh, bước lên giàn hỏa, tự châm lửa mà
thiêu mình.
Và cũng đêm
ấy, hai cái linh hồn đuợc đưa đến
trước tòa sen của Phật. Uy nghiêm, ngài gọi nhà
sư mà dạy:
- Nhà ngươi
theo cửa thiền từ thuở bé, mà chẳng hiểu
bài học vỡ lòng của pháp ta là thế nào! Pháp ta đã
dạy phải trừ hết dục vọng thì mới
đắc đạo, mà ngươi dục vọng
lại quá nhiều: bởi việc muốn đắc
đạo, để được thành Phật kia
cũng là một cái dục vọng. Có dục vọng
ấy là Tham ; bởi tham nên giận mắng con thằn
lằn, ấy là Sân; bởi sân nên tưởng rằng
trừ đuợc con thằn lằn thì tha hồ tụng
kinh, rồi đắc đạo, ấy là Si. Có đủ
Tham Sân Si tất phải phạm tội sát sanh, thì dầu
ăn chay trường trọn đời, cũng chưa
bù được.
Tội
ngươi lới lắm, phải rán tu luyện thât
nhiều mới mong chuộc đuợc. Vậy ta
truyền cho Kim Cang, La Hán hốt cho hết đống tro
do xác ngươi thiêu mà hóa ra, rồi đem tro ấy tung khắp
bốn phương trời. Mỗi một hột tro
đó sẽ biến sanh thành một người. Chừng
nào mọi người ấy đắc đạo, đám
chúng sanh ấy sẽ được quy nguyên, trở
hiệp lại thành một, thì nhà ngươi sẽ
đến đây mà thành chánh quả.
Rồi Phật
cho gọi hồn con thằn lằn mà dạy:
- Nhà sư chưa
được giác mà làm tội, tội ấy đáng giá là
một mà thôi. Còn nhà ngươi, được giác một
phần rồi, mà làm tội, thì tội đáng kể là
mười.
Con thằn
lằn lạy mà thưa rằng:
- Bạch Phật
tổ, lòng của đệ tử vốn là muốn
độ nhà sư, dầu nát thân cũng không tiếc. Chẳng
hay đệ tử có tội chi?
Phật phán:
- Muốn
độ người, kể thiếu chi cách, sao
ngươi ngăn đón việc tụng kinh của
người? Đã đành rằng việc tụng làm
của nhà sư là một việc mê tín, nhưng dầu là
mê tín, song vẫn là một tín ngưỡng. Cõi Phật
vốn là cõi tự tại. Nếu phạm đến
tự do tín ngưỡng, gọi là để dắt
người vào, thì làm sao cho được. Bởi
ngươi không dùng phương pháp tự do, người
là kẻ mất tự do, thì cả hai làm sao
được vào cõi tự tại?
Một lần
nữa, con thằn lằn được giác, quì lạy mà
xin tội:
- Xin Phật
tổ mở lòng từ bi, cho đệ tử hóa sanh
một kiếp nữa, để dùng phương pháp
tự do mà độ vô số chúng sanh do những hột
tro, mà các vị Kim Cang, La Hán vừa tung ra đó.
Phật đáp:
- Ta cho
ngươi được toại nguyện.
Hồn con
thằn lằn vưà muốn lạy Phật mà đi
đầu thai, thì sực nhớ lại, nên bạch
rằng:
- Xin Phật
tổ dạy đệ tử phải hóa sanh làm kiếp
chi?
Phật đáp:
- Nhà ngươi
đã gần bến giác, phải tự mình chọn hình
thể mà hóa sanh. Tự do chọn lựa mới có thể
luyện mình để bước vào cõi tự tại.
Hồn con
thằn lằn từ ấy trôi theo mây gió, không biết
trụ vào đâu, để có thể vừa dùng
phương pháp tự do mà độ người, vừa
có thể độ được đông nguời, số
người đông nhu số hột tro do một cái xác
thiêu ra. Thật chưa hề có lúc nào có một linh hồn
bị trừng phạt phải đau khổ đến
thế...
Một hôm trong
hồi xiêu bạt, hồn con thằn lằn thấy bóng
của một trong hai người khách đã đến am
thủơ nọ, mà câu chuyện nghe lóm đã làm duyên cho
mình mấy năm đau khổ.
Thằn lằn
vội vã bay theo vái chào và kể nỗi niềm đau
đớn:
- Ngài đã giúp cho
tôi giác ngộ được một ít, có hay đâu tôi phải
mang cái nghiệp vô định này. Đã trót làm ơn, xin
độ cho tôi đến bờ bến.
Người
đáp:
- Cái khổ
của ngươi là ngươi đã phát tâm cứu
độ muôn vàn chúng sinh do những hạt tro mà
đầu thai nên. Tâm ấy là lửa thiêng. Nó đốt
lòng ngươi, cưỡng lại mà cãi, sao cho
đuợc? Âu là, ngươi nghe theo nó mà hành cái hạnh
ấy đi!
- Nhưng mà, làm
sao bây giờ?
- Bấy lâu nay,
ngươi đã nghe tụng kinh. Kinh dạy bài học
căn bản là Bi. Ngươi phải có lòng Bi, mà
thương muôn vàn hột tro ấy!
- Tôi vốn
thương nhà sư, mới dại dột mà làm cho nhà
sư phát nộ. Thì tôi cũng sẵn lòng thương
những ai mà những hạt tro ấy đầu thai nên.
- Tốt lắm!
Tốt lắm. Đã có Đại Bi, phải thêm có
Đại Trí. Muốn cứu độ muôn vàn hột tro
ấy, ngươi hãy lấy Trí mà tìm biện pháp nào
để cứu độ chúng. Chớ tình thương mà
không có thêm phương pháp để thực hiện tình
thương ấy, thì tình thương chỉ là một
sự than khóc sướt mướt và vô bổ mà thôi.
Lời của
người làm cho hồn con thằn lằn đại
ngộ một lần nữa. Nó phóng quang mà nhìn khắp trần
gian, để kiếm xem hiện nay, những hạt tro do
các vị Kim Cang, La Hán tung rải đang đầu thai nên
gì. Lạ thay, những hạt tro này, bởi tiền
kiếp mắc tội Tham Sân Si nên chẳng đuợc
đầu thai làm người, lại đầu thai là
lũ chuột. Chúng không đuợc sống dưới thanh
thiên bạch nhật ; ngày chúng phải chui rúc trong hang ;
tối lén bò ra ăn vụng, ăn vặt. Thế mà
chẳng được yên thân, chúng bị một lão mèo to
tướng, mắt sáng như sao, nhìn thấy rõ trong
đêm tối, vuốt bén như gươm, tay lẹ
như chớp, thêm thèm thịt chuột ăn bao nhiêu
cũng không đã, lão mèo ngày lừ đừ ngủ,
để ban đêm rình chụp chuột mà ăn
tươi nuốt sống. Đời của chuột
đã khổ rồi, mà bị lão mèo càng thêm khổ não, lòng
phập phồng lo sợ. Rút vào hang cả ngày lẫn
đêm, thì đói. Ló ra, thì sợ mèo chụp ăn. Hồn
con thằn lằn, thấy chúng chuột như vậy,
thương cảm vô cùng.
Bỗng nhiên nó
thấy lũ chuột tìm chỗ an toàn mà khai đại
hội. Nó bèn vận thần thông nhĩ, mà nghe lũ
chuột nói với nhau những gì. Nó nghe một con chuột
cống khởi nói như thế này:
- Hỡi
đồng loại chúng chuột! Đời của chúng ta
khổ não lắm rồi. Ngày ở hang để tránh
người đập giết, tối mới dám ló ra mà
ăn vụng. Thế mà chồng lên cái khổ ấy, chúng
chuột ta còn gặp cái đại họa là lão mèo. Vì
lẽ đó mà tôi triệu tập tất cả lại,
để bàn tính coi có cách nào để thoát cái đại
họa ấy chăng?
Một chuột
con, còn hăng tiết, hùng biện hỏi:
- Đoàn kết
là sống, chia rẽ là chết! Chúng ta phải hiệp
bầy lại, một lượt tiến tới mà
cắn mèo. Một mình mèo làm sao cự lại cả bầy
chuột?
Một chuột
già, mình đầy thẹo, kêu chít chít nói:
- Đừng có
dại! Đừng có dại! Thuở tôi còn trẻ, tôi có
nghe theo luận điệu ấy. Chúng tôi có tổ chứa
một bộ đội chuột, đến mấy
trăm con, xông tới mà toan cắn mèo. Thế mà mèo chỉ
quơ tay một cái, là ngủm một chuột. Mấy
trăm con chuột của bộ đội chết
sạc. May mà tôi rán đuợc. đầy mình thương
tích, thoát chết chạy về, cả tháng mới lành. Kinh
nghiệm của chuột già này, xin các thanh niên chuột nên
gẫm cho kỹ. Chớ liều lĩnh mà thiệt
mạng, lại không có chút kết quả nào!
Lời của
chuột già như gáo nước lạnh làm dập tắt
lửa hăng của chuột con. Các chuột im lặng
khá lâu, thì có một con chuột nhỏ nhẹ nói:
- Chuột mà tranh
đấu với mèo, thật là không nổi. Ta tránh nó thì
hơn.
- Đúng vậy!
- Phải lắm!
- Hay lắm!
Chuột kia nói
tiếp:
- Muốn tránh mèo,
ta phải nghĩ cách nào báo cho ta biết sự hiện
diện của mèo. Để ta tránh trước, khỏi
sợ bị mèo chụp. Cách ấy, tôi nghĩ rằng ta
nên treo một cái lục lạc nơi cổ của lão mèo.
Lão đi đến đâu, lục lạc rung vang báo tin cho
chuột ta hay, mà lánh trước.
Hồn con
thằn lằn nghe kế ấy, thuật lại cho
người nghe. Và phê bình:
- Quả là
Đại Trí!
Nhưng hồn
con thằn lằn nhìn mãi, thấy lũ chuột im phăng
phắc, chẳng có chuột nào động đậy,
chẳng chuột nào thốt một lời, mà cũng chẳng
chịu giải tán, cho chuột nào trở về hang
nấy. Hồn con thằn lằn hỏi người:
- Sao lũ
chuột lại như vậy?
Người
đáp rằng:
- Bởi lũ
chuột hèn nhát. Tuy kế là hay, song chẳng có chuột nào
có cái Dũng, dám đeo lục lạc mà mang vào cổ lão
mèo, để tự cứu, mà cũng để cứu
đồng loại. Có Bi mà không Trí, là vô bổ. Có Bi và Trí mà
thiếu Dũng, là vô hiệu. Bi, Trí, Dũng là ba cái chân
vạc, thiếu một chân ấy là vạc nghiêng
đổ đi.
- Làm sao bây giờ?
- Ngươi
muốn cứu chuột, ngươi phải làm chuột.
Ngươi phải đầu thai làm con chuột có
Đại Bi mà biết thương đồng loại, có
Đại Trí mà biết đem lục lạc mang vào cổ
của lão mèo, có Đại Dũng mà dám hi sinh, liều mình,
chẳng sợ mèo ăn tươi nuốt sống, mang lục lạc xông
đến gần lão mèo.
Lời của
người làm cho hồn con thằn lằn đại
ngộ lần nữa. Muốn cứu độ hạng
nào, phải hoà mình vào hạng ấỵ Thích Ca đã
từ chối ngôi báu, vì Thích Ca muốn hòa mình vào chúng dân,
để cứu độ chúng dân. Hồn con thằn
lằn muốn cứu độ lũ chuột thì hồn
con thằn lằn phải hòa mình vào lũ chuột,
đầu thai làm con chuột, về muôn vàn cạnh khía, thảy
đều không khác gì với giống chuột. Chỉ khác
có một chút xíu là trong tâm hồn của con chuột này có
Đại Bi, Đại Trí và Đại Dũng mà thôi. Có
được đại ngộ ấy, thằn lằn ta
bèn đầu thai làm chuột.
Bởi là do con
thằn lằn đầu thai, nên khi chuột ta sanh ra, thì
hình vóc còn mang máng giống con thằn lằn. Mẹ nó
lầm tưởng là rồng. Bèn đặt tên cho nó là Long
Thử.
Long Thử
lớn lên, có vẻ trầm ngâm, đạo mạo. Lời
nó kêu chít chít nào, nghe cũng có ý nghĩa ưu thời
mẫn thế. Một hôm nó gọi một bạn chuột
lực lưỡng theo nó. Té ra, nó đã gặp
được nơi góc tàu ngựa, một cái lục
lạc to bằng quả trứng, nên về gọi bạn
theo nó. Đến nơi, nó nằm ngữa ra, ôm lục
lạc vào lòng, và bảo bạn cắn đuôi mà kéo, như
là kéo xe vậy. Kéo nó tới đâu, thì tiếng lục
lạc kêu lên rổn rảng. Mà bạn nó, vì cắn đuôi
nó mà kéo đi chỉ nghe theo lịnh nó chít chít điều
khiển, nên chẳng biết trước sẽ
hướng vào đâu, thành ra không sợ sệt chi. Long
Thử ra lịnh cho kéo đến lão mèo, tính đem lục
lạc mà mang vào cổ lão mèo, như trước kia, lúc nó
còn là hồn con thằn lằn, nó đã nghe nói vậy.
Nằm một
góc, lừ đừ, lão mèo nghe vang tiếng lục lạc.
Bèn giương mắt nhìn, chẳng biết con gì,
đầu chẳng thấy mặt mui chi, chỉ thấy
một cái vòi quơ qua quơ lại, để tìm
phương hướng, lại có đến tám chân
lại chổng lên mà nghỉ, mà kêu rống chẳng
ngơi. Lão mèo quá sợ, nhảy phóc lên nóc nhà, kêu
"miao!" rất là kinh hãi.
Lũ chuột núp
trong hang, nãy giờ thấy mèo rình, không dám ra. Con nào đói
thì mau mau đi tìm mà ăn vụng. Một số đông
lại bu quanh Long Thử, lên tiếng chê bai:
- Việc này có gì
là khó? Ai mà nằm ngửa ôm lục lạc chẳng
được? Vì lối ăn cắp trứng ấy,
chuột nào mà chẳng biết? Chỉ vì mèo dại,
thấy hai con chuột cắn đuôi nhau, lầm
tưởng là con quái gì, mà sanh ra sợ thôi!
Chẳng dè,
nằm trên mái nhà, lão mèo nghe và hiểu tiếng chuột, lão
nhìn xuống, thấy quả là Long Thử ôm lục
lạc, nằm ngửa cho một chuột khác cắn
đuôi; và cái mà lão lúc nãy tưởng đâu là cái vòi quơ
qua quơ lại, thật sự, chỉ là cái đuôi
chuột! Lão vừa thẹn cho lão, vừa phục Long
Thử đa mưu, vừa phát ghét lũ chuột vô ân,
đã buông lời chê bai kẻ mới cứu mình khỏi
nạn. Từ trên mái nhà, lão mèo phóng xuống, mỗi
một tay hay chân, sè vuốt mà móc họng một chuột.
Tất cả các
chuột khác hoảng chạy tứ tán. Long Thử và
bạn nó cũng giựt mình, hoảng hốt chạy theo,
chun vào hang mà trốn. Chừng tinh thần định
tỉnh lại lũ chuột bèn lập tòa án chuột
để mà xử Long Thử. Long Thử bị buộc
tội là Thử gian, làm chuột mà lãnh lịnh của mèo,
hại loài chuột của mình. Bằng cớ là bấy lâu
nay, lão mèo mỗi lượt chỉ móc họng đuợc
một chuột mà thôi; còn bây giờ, mèo và Long Thử toa
rập, để cho mèo giết một lần đến
4 trự chuột. Nếu không nhờ Thử gian
đồng lõa mà giúp, dễ gì mèo chụp một
lượt đến 4 chuột? Lời buộc tội
quá hữu lý như vậy, đủ bằng cớ
thiết thực như vậy, dễ gì Long Thử đem
tâm tình của mình, một tâm tình vô hình, không biết tựa
vào đâu mà chứng minh, để nói rằng mình chỉ
có lòng cứu độ loài chuột, chớ chẳng có
dạ phụng sự cho mèo để hại chuột? Long
Thử bị kết án tử hình. Điều này nó dễ
chấp nhận, nếu nó phải đem cái chết
của nó làm điều kiện, để cứu
độ loài chuột, mà nó quá thương yêu. Song cái
bản án của nó, "tội Thử gian", làm cho nó
đau khổ vô cùng ; vì nó mang một cái oan vô tận, không
ai giải cho được.
Lòng oan của nó
xung lên, thành một vùng trở lực, tận đến
cõi trời Đâu Suất. Ở cõi trần không thấy chi
cả. Còn ở trên kia, trở lực ngăn cho Thần
Tiên không lui tới được làm cho lưu thông phải
nghẽn. Thần Tiên phải hội nhau lại, tính làm sao
cho việc đại bất công này được
giải, thì vũ trụ mới tuần hoàn theo trật
tự. Bàn cãi rất lâu, Thần Tiên tìm ra được
một biện pháp, là bấy lâu nay, người ta
đếm mười hai chi (tí, sửu, dần, mão, thìn,
tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi), thì
mỗi chữ này vốn là trừu tượng, không có
nghĩa gì; nhưng bắt đầu từ bây giờ,
phải cho loài người hiểu rằng chữ
đứng đầu tất cả, là chữ Tí, phải
dành để cho Long Thử tượng trưng. Những
đức tánh quý báu của nó, mà đặt ra làm chủ
tể cho luân lý, thì vũ trụ mới vận hành
điều hòa được.
Từ ấy,
hỏi đứa trẻ nào, nó cung biết "tí là con
chuột". Nhưng từ ấy nhẫn nay, loạn
lạc vẫn kéo dài hoài; bởi loài người chưa
giác ngộ, cứ lầm tưởng chuột ấy là
thứ "chuột tham, sân, si" kia. Chừng nào,
đứng đầu cho cuộc vận hành của vũ
trụ là con Long Thử, con chuột học
được, và hành đuợc theo Bi, Trí, Dũng thì may
ra, nguồn Thanh Bình mới khai được.