K CHUYN

Hồ Hữu Tường

 

 

Mục lục

  • Tựa
  • Xuân An Hải
  • Răng đen
  • Dưa hấu Đồng Nai
  • Cọp hú
  • Thuỷ hoàng và thuốc trường sanh
  • Ngày chót của một nữ sứ quân
  • Nàng mọt sách
  • Những chuyện tiếu lâm về "quặp râu"
  • Đồng bào ơi, quả thật là đại biến

 

1 - Tựa

 Vào thế hệ của tôi, nhất là ở nơi cái xứ thuộc địa Nam kỳ, mà viết được tiếng mẹ, thật là một việc khá hiếm. Trong số khá hiếm nầy, số lớn nhờ cha anh đỡ đầu, như ông bạn già Đông Hồ; số nhỏ hơn nhờ gặp thuận cảnh mà tự học, như anh bạn quá cố Phan Văn Hùm. Sanh trong một gia đ́nh nông dân nghèo, chẳng nhờ cha anh đỡ đầu, lớn lên, mặc dầu bạn tôi, anh Phan Văn Hùm, khuyến khích và chịu khó năn nỉ dạy không công cho tôi viết văn, tôi lại lười biếng. Thế mà tôi cũng được xem là có chân trong làng văn. Việc tuy lạ, song có nguyên nhân của nó. Bởi v́ tôi học làm văn từ thuở bé tí hon, moi trong kư ức, có thể nói ngay từ lúc biết nghe, biết hiểu mà nói chưa rành.

Giáo sư dạy văn chương cho tôi là chị tôi, ngày ngày ầu ơ mấy lần để ru cho tôi ngủ; là mấy người chèo ghe bơi xuồng trong rạch, đêm đêm đối đáp nhau bằng những câu hát, bài ca; là tía tôi, một nông dân nghiêm nghị, đoan trang nhưng tài nói tiếu lâm tôi chưa gặp ai ăn đứt nổi, là mấy chú “Huế” theo ghe bầu đem cái giọng lớ lớ của đàng ngoài vào; là công gặt, công đập, khi nghỉ trưa đăi lẫn nhau một vài chầu trào phúng; là công thợ làm việc cho chủ đất tôi; và khi tôi biết đọc, là thơ, tuồng, truyện. Những giáo sư ấy tạo cho tôi có một sắc thái riêng biệt. Anh Hùm khuyên tôi học làm văn, để có thể “làm văn hào”. Tôi không cần cái danh dự văn hào, bởi tôi mến tiếc cái bản sắc nông dân của tôi. Đọc tiểu thuyết hay của các nước, tôi rất hiểu tiểu thuyết, mà chỉ bám vào lối văn “kể chuyện”. Triều Sơn thường phê b́nh tôi: “Óc tưởng tượng anh phong phú lắm. Anh mà rán lên, viết tiểu thuyết được, th́ nước Việt Nam có thể đếm anh là một Dostoievsky hay một Tolstoi” Tôi không đáp. Tôi nhường danh dự làm Dostoievsky, làm Tolstoi lại cho người khác. Tôi chỉ muốn “kể chuyện” cho hoang đường, cho hóm hỉnh cho trào phúng và cho quê mùa, như những giáo sư văn chương của tôi mà thôi. Con nhà trăm anh thế phiệt, ông, bác, cha, anh thảy đều khoa hoạn, th́ viết văn điêu luyện như Nguyễn Du, việc ấy hợp lư hợp t́nh. Con nhà nông như tôi, mà viết văn nông dân, việc ấy cũng hợp lư, hợp t́nh nữa.

Con vua, th́ đặng làm vua,

Con săi ở chùa th́ quét lá đa.

Có cái văn tâm như thế, nên trong chín năm theo chủ nghĩa Mác–Lê, giáo điều của chủ nghĩa nầy dạy phải viết theo đường lối của “tả chân xă hội” (realisme socialiste), thà tôi nhịn viết văn, chớ tôi không chịu phản lại giai cấp của tôi. Trong cuộc tranh biện về “nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sanh” (1935), tôi đứng ngoài, v́ trận thế lúc ấy không cho phép tôi binh vực thứ văn chương mà tôi mến. Cái văn tâm như thế đem những văn tứ “cổ điển” lại. Chuyện “ma”, chuyện thần tiên, chuyện hoang đường, chuyện tiếu lâm châm biếm… “cổ điển” là cổ điển của thứ văn chương nông dân ta vào thế hệ của tôi.

Về chuyện ma, kỷ niệm của tôi là kỷ niệm chung của tất cả, tất cả trẻ con Việt ở nhà quê. Một đêm tối om, bên cạnh ngọn đèn dầu leo lét, ba bốn người ngồi mà nghe kể chuyện, một thằng nhỏ giỏng tai nghe. Một lát nó nhảy vào giữa, run sợ. Mà càng run, th́ nó càng có lư thú. Nhà văn gốc ở nhà quê, là Sơn Nam, có lẽ cũng có cái kỷ niệm ấy. Thế mà, vào nhà trường, học khoa học của Tây phương, thầy cấm đứa nhỏ ấy tin chuyện ma, cho đó là dị đoan. Năm 1924, học nội trú tại Cần Thơ, tôi ấm ức không được đi xem ma hiện về nhà của một ông giáo sư trung học dạy về khoa học. Chúng bạn đi xem rần rần, sáng vô lớp kể nhau chẳng ngớt những chi tiết của việc ma về. Ông giáo sư ấy nay c̣n sống và vẫn ở tại Cần Thơ. Ai có học trường trung học ở tỉnh lỵ nầy đều biết ông: Nguyễn Văn Trọng. Khi nhập vào chủ nghĩa Mác–Lê, th́ giáo điều của duy vật luận biện chứng pháp lại càng nghiêm khắc với chuyện ma hơn nữa. Thế mà, sự thật lại khác hẳn. Năm 1932, nhà của một người bạn của Tạ Thu Thâu là trạng sư Blaquiere, ở đầu đường Taberd (nay là Nguyễn Du) xéo xéo Nhà thờ Lớn, lại có ma, dời bàn, khiêng ghế, dựng ván đứng lên, làm “tṛ khỉ” (mượn lời của cựu Thủ tướng Hương). Nhà Mácxít Tạ Thu Thâu tức quá, luôn ba đêm đến đó ngủ, để nghiên cứu bọn ma có quyền lực ǵ, mà làm cái công việc mười người lực lưỡng chưa chắc làm nổi… Nhưng mà quyền lợi của chủ nghĩa duy vật, mà chúng tôi đương vác cờ, không cho phép chúng tôi nói đến… Ít nữa là trước công chúng.

Năm 1930, tôi rời chủ nghĩa Mác–Lê. Ở tù bốn năm xong, tôi bị dời qua An Hải. Tết năm ấy, có hiện tượng “ma dấu”. Người bị ma dấu là một “cộng sản duy vật”. Sống việc ma dấu nầy, gần hai trăm người, mà kẻ duy vật là tối đại đa số. Phần đông, nay là “lănh tụ” cả (Người bị ma dấu, lúc tôi bị án tử h́nh, c̣n gặp lại tại Côn Sơn, sau khi anh ra hoạt động trong mười năm, rồi bị bắt lại). Ra tù, có cơ hội viết, tôi thuật chuyện ma dấu nầy, không phải để thuật chuyện ma, mà cốt để tuyên bố rằng “nhà văn nông dân”, bấy lâu nay bị ràng buộc bởi giáo điều Mác–Lê, nay đă cởi mở hoàn toàn. Đó là một tuyên ngôn. V́ vậy mà bài “Xuân An Hải” được đăng ở địa vị của nó trong tập nầy. Từ ấy mà tha hồ “kể chuyện”, hóm hỉnh, trào phúng, châm biếm. Độc giả ắt nhận thấy nơi mỗi bài cái sắc thái “chuyện tiếu lâm” mượn một cái tứ xa xôi mà công kích một chuyện trái cựa.

Bài “Cọp hú”, là một bài chửi vào mặt bọn ăn tiền thực dân mà vọng ngoại, trở lại đánh đập kẻ đồng huyết thống của ḿnh. “Răng đen” có mục đích tố cáo sự láo dối của thực dân, đồng thời châm biếm tục nhuộm răng của đồng bào ở Bắc… Đến như những “Chuyện râu quặp”, th́ thú thật, là những chuyện do tía tôi kể, để nhạo những ai lập trang mà thờ bà c̣n sống. Riêng có bài “Nàng mọt sách” là một câu chuyện thần tiên mà tôi xây dựng ra để ca tụng thú vui của kẻ sống trong “vạn quyền thơ lâu”.

Khi bạn thân của tôi, là anh Đông Hồ, cho ra tờ Nhân Loại, tôi có đem cái tứ của câu chuyện thần tiên nầy mà hiến cho bạn, để cho bạn mở một loạt bài “Tóm tắt mỗi kỳ một sách hay” và kư cái tên mới là Nàng Mọt Sách. Ngay trong số I (8-VI.1953) chị Mộng Tuyết, thất tiểu muội, đă kể lại cái tứ, và đánh dấu nguồn gốc của tứ bằng nhân vật Hồ Sinh. Văn của chị Mộng Tuyết rất điêu luyện, do đó mà mất sắc thái quê mùa, nên chỉ năm 1955, Hồ Sinh thuật lại trên mặt của Truyền Tin. Vậy nhờ Mơ Làng Văn rêu rao cho làng hay rằng, mười năm đă qua, chị Mộng Tuyết không kiện Hồ Sinh về tội “đạo tứ”, th́ ngày sau, có ai buộc tội cho Hồ Sinh về “đạo văn”, th́ oan cho Hồ Sinh lắm lắm.

Nay gom một mớ chuyện kể, đă in từ 1948 đến 1955 - rất tiếc là tôi không t́m lại được quyển sách con Quả trứng thần [1] trong ấy c̣n chép nhiều truyện cổ tích thần tiên - mục đích của tôi là lập một cuộc lễ tạ ơn những vị giáo sư đă dạy tôi viết văn nhà quê, hoang đường, hóm hỉnh, trào lộng và châm biếm, đặc biệt của nông dân miền Tây vào đầu thế kỷ XX nầy.

Sài G̣n, I-VI-1965.

 

2 - Xuân An Hải

Kể ra tôi đă ăn được nhiều cát Tết ly kỳ, ngoài những Tết như mọi người, với pháo tạch đùng, với quần áo mới, với ăn uống ngỏa nguê, tôi c̣n sống những cái xuân lạ lùng. Cần chi đến những cái; một cái thôi, cũng đủ làm cho đời người khác thường rồi.

Có cái xuân ở Pháp, anh em hội lại gây lấy bầu không khí nước nhà, rồi có người – nay cũng là tai mắt của xă hội – đứng lên ca một bài Tứ đại giọng xưa không nhịn cười được.

Lại cái xuân cũng ở Pháp, một lần ăn Tết mà không có tiền đă hơn hai ngày rồi, mà ngày ấy, mừng ông bà bằng nước lạnh, khi mà ngoài trời tuyết rơi trắng đất.

Cũng cái xuân trốn tránh không cho người biết nhà, thế mà có năm gă thanh niên yêu văn ŕnh theo được, hôm ấy lén đến “dâng” cho một bó hoa với mấy cái bánh chưng.

Và cũng trốn tránh mà không tiền v́ không muốn cho hai bên hàng xóm để ư, phải bắt chảo, bỏ nước vào cho nó nổ xèo xèo, tỏ ra nhà ḿnh cũng ăn Tết bằng những cao lương mỹ vị!

Cũng có những cái xuân ở khám lớn, bà con ở ngoài gởi đủ món ăn vào, làm tiệc ê hề rồi anh em bay ra hát bội, cải lương, múa lân đấu vơ, thú vui c̣n gấp mấy lần ngoài “đời”.

Và trong cảnh tù tội ở Côn Đảo, ăn Tết mà bị c̣ng chân cả tháng bên cạnh nhà văn Phan Văn Hùm, tha hồ buông tư tưởng đằng phi trong lănh vực thơm tho của văn chương nghệ thuật, khi mà lỗ mũi để khít bên mấy cái ti-nết không đậy nắp. Có cái xuân vừa bị bắt trong một cuộc hành quân, đưa về Hà Nội sau cuộc đánh nhau 19-12-1946, trong túi vắng hoe, đến không có một mảnh mù soa, trong lúc mà ăn gạo hai ngàn rưởi một tạ và ngoài đường không có bóng người đi…

Nhưng không có một cái Tết nào để vào tâm hồn tôi một ấn tượng mănh liệt bằng cái xuân ở An Hải. An Hải là tên một cái làng xưa ở Côn Đảo. Nay làng ấy không c̣n, bởi v́ thường dân không được ở ngoài ấy nữa. Tuy vậy, hăy c̣n một vài di tích như mấy cây dừa sống đă hơn trăm năm, như cái miểu Bà mà người ta trùng tu măi măi, hoặc mấy cái nền nhà xưa…

Làng An Hải không c̣n nhưng nơi ấy vẫn được kêu là An Hải và làm trại giam những tù lưu. Năm 1943, trại giam dời vào nơi ấy. Và khi tôi ở măn hạn tù bên Côn Lôn, th́ bị đưa lội bộ bốn cây số vào trại giam An Hải nầy. Đời trại giam không cần phải kể. Vả lại, bài nầy là thuật cái xuân ở An Hải mà thôi. Vậy hăy bước ngay vào đề.

Ở tù th́ biết lúc nào măn! Ở trại giam lại càng không biết hạn. Ngày mai, cũng phải, trọn đời không biết chừng. Nên năm ấy anh em định tổ chức một buổi ăn Tết thật long trọng để quên bớt những cảnh khổ. Nào đốn đủng đỉnh về bông rạp, nào làm bánh, nào nấu thập cẩm, nào tổ chức nhiều cuộc chơi: tranh vô địch cờ tướng, hát sơn đông, măi vơ… Và anh em ngày ấy để cho tự do một chút, vài người bày cuộc đỏ đen như ở “đời”…

Đến sáu giờ tối “lập binh” để đếm coi số người ở trại c̣n đủ không, đếm ba lần thấy c̣n thiếu một người.

Kiểm điểm lại coi, th́ là thiếu anh Xa.

“Xa trốn rồi à?"

"Vượt ngục à?"

 "Không đâu! Hồi chiều, tôi thấy nó thua cờ bạc, có lẽ nó buồn…"

" Rồi nó đi tự vận", một anh thường trào phúng, nói giễu.

"Biết chừng đâu Xa tự vận thiệt. Đâu ta kiếm xem!"

Trại giam ở cạnh chân núi, núi có cây mọc um tùm. Một trăm mấy chục người chia nhau đi tứ phía. Từ sáu giờ tối trời hăy c̣n thấy rơ, cuộc t́m kiếm kéo dài đến đốt đèn lên, kiếm tới chín giờ tối.

Nơi nào có dấu chân người có thể để đến được là t́m đến. Nhiều người đă nản, kéo về trại nghỉ.

Bổng có tiếng hú vang, tiếng hú xa tít từ trên chót núi Chùa đưa xuống, lẫn với tiếng cây cối rung chuyển ào ào, như cơn băo rừng, như đạo kỵ binh rần rộ từ trên cao kéo xuống, nghe lạnh xương sống. Trông theo tiếng hú, th́ thấy anh Xa mắt nhắm nghiền, hai tay đưa ra trước như nắm một dây cương ngựa tưởng tượng, từ trên cao phóng xuống như bay. Điều mà giữa ban ngày không ai dám làm, nữa là ban đêm, cái đêm cuối năm đen như mực xạ. V́ dốc hẩm đứng, đá lồi lơm, sa chân một cái th́ nhào lăn, lăn luôn, rồi chắc chắn là xương tan ra từng mảnh.

Thế mà Xa cứ chạy, chạy như bay, lướt trên mặt đá chơm chởm.

Có người tỉnh trí gan dạ chặn đường. Một người lấy tay quất ngang gị Xa cho bổ nhào, mấy người khác đón ôm liền, đừng cho ngă đầu vào đá. Rồi trói lại khiêng như khiêng thịt săn. Miệng Xa cứ nói lung tung. Về đến trại giam, thả Xa ra th́ Xa lại vụt chạy. Giữ anh lại, th́ anh ngồi, cong hai đầu gối lại, tay rút như rút g̣ cương ngựa, miệng làm xàm:

“Làm ǵ cầm ta lại đây, để ta đị, đi với ông… ông … đội măo vàng, mặc giáp bạc…”

*

Trong trại giam chánh trị, một nữa là anh em theo duy vật, không tin thần thánh. Một nữa là các ông đạo rất mê tín. Phái duy vật th́ cứ cười bảo :

“Xa nó thua cờ bạc, nó giả điên cho khỏi trả nợ.”

“Mầy nói nhỏ nhỏ. Để nó nghe nó càng làm điên thêm.”

“Mầy hỏi nó ăn tiệc với thần núi có ǵ lạ? Đồ ăn thần có hơn đồ ăn tù không?”

“Chắc tệ hơn, nên nó chịu không nổi mới về đây chớ. Nếu ăn sướng, dại ǵ mà nó ‘phi ngựa’ chạy về.”

C̣n các ông đạo th́ tin lắm, khấn vái liền miệng để cho thần linh tha cho Xa.

Ky giục tôi :

“Mầy lại dụ nó, xúi nó đ̣i các ông đạo cùng cho… giáp bạc.”

*

Sáng hôm sau, nh́n lên chỗ Xa chạy đêm rồi, người ta c̣n thấy những ngọn cây ngă rạp, cành lá tả tơi, từ trên ngọn núi chạy thẳng xuống một đường đánh dấu một ngàn thiên binh vạn mă vừa trải qua.

*

Trong trại giam… một lít rượu, tụi ḿnh ké với thần chơi…

Xa điên như vậy cả tuần, mà chưa biết điên thiệt hay điên giả để làm đối tượng cho cuộc tranh luận về duy tâm và duy vật.

*

Tôi nhắc lại chuyện nầy không phải để bàn về cuộc tranh biện về duy tâm hay duy vật đă ồn ào ở trại cả tuần lễ. Nhân việc ấy mà phái tinh thần quyền bảo rằng các ông thần mà Xa thấy đó chắc là các ông tướng đă theo pḥ Nguyễn Phúc Ánh trú tại Côn Đảo…

Trong lịch sử tẩu quốc của chúa Ánh, có hồi bị Tây Sơn đuổi, chạy ra Côn Đảo. Chính chúa Nguyễn đă trú tại làng An Hải nầy. Ngày nay hăy c̣n nhiều dấu tích…

Nhơn chuyện anh Xa mà cả tuần tôi phải bị nghe nhắc tới chuyện vua Gia Long và các vị đại thần. Nào chuyện kho vàng của chúa Nguyễn chôn một nơi nào trên núi Chúa. Nào chuyện quật mồ của mấy vị đại thần để lấy áo măo đai cân bằng vàng ngọc…

Ky cứ trào phúng măi. Được một mảnh ché to, Ky đưa cho tôi và nói :

“Cất để dành đi! Di tích ché rượu của Nguyễn Phúc Ánh đấy!”

Câu chuyện nầy, hồi đó đă làm cho tôi mang một mối buồn vô biên. Người xưa cũng gặp năm vận bĩ. Một trăm rưỡi năm trước đây, người đă đến lánh nơi An Hải nầy. Nhưng sau người ta lại lập được một sự nghiệp lớn, c̣n ḿnh gặp một vận bĩ hơn. Đến An Hải không là ông vua tẩu quốc tự do, mà là thân tù tội.

Nay chép lại chuyện này giữa buổi năm tàn lại càng buồn hơn nữa là tám chín năm đă trải qua rồi, đời sống bây giờ chỉ là việc chạy cơm ngày hai bửa, mà không tṛn!

 (Ánh Sáng, số Xuân Kỷ Sửu)

 

3 - Răng đen

Năm ấy tôi đă học xong và sắp sửa mua giấy tàu về xứ.

Anh Ali, người Maroc, đă mấy năm cùng tôi chung một trường, một lớp, mà vẫn không nói chuyện với nhau, nay lại đến gần tôi. Rồi cố dằn sự cảm động của anh, cái cảm động quá dồi dào phải tiết lộ bằng giọng run run, anh Ali, người Maroc nói:

 “Trước khi anh về, anh hăy để cho tôi mời anh ăn với tôi một bữa cơm.”

 Một bữa cơm yên lặng và nghiêm trang giữa hai chúng tôi, không có mọt việc chung để làm đề cho câu chuyện. Tôi muốn giở một ít câu sáo, về thời tiết, về phong tục của xứ anh hay xứ ḿnh để bán, hầu đánh tan sự im lặng. Nhưng thấy anh Ali nh́n tôi với cặp mắt, vừa đầy yêu đương vừa đầy sợ sệt, và đầy ngạc nhiên, tôi biết nỗi ḷng của anh Ali chan chứa lắm, nên tôi đành để cho anh tha hồ mà sống với những t́nh cảm nồng nàn ấy.

Cơm xong, anh Ali mở lời:

“Tôi không hiểu sao hôm nay tôi có nhiều nghị lực mà ngồi ăn cơm với anh như thế?”

“Việc ǵ mà khó dữ vậy? Chỉ có ăn cơm mà!”

“Thú thật với anh rằng mấy năm chúng ta ăn học chung với nhau, không biết tại sao, tôi yêu anh lắm, mà không dám gần anh.”

“Sao vậy?”

“Tôi sợ anh lắm.”

“Tôi đă làm ǵ đến đỗi anh sợ như thế?”

“Th́ đây…”

Rồi anh Ali, người Maroc mới kể cho tôi mẩu chuyện nầy.

*

Năm ấy, tôi được tám tuổi. Bên xứ tôi, dọc theo dăy núi Riff liền với đồng sa mạc, tưởng Abd-el-krim khởi loạn, kéo dân đứng lên chống trả lại sự thống trị của thực dân. Người Maroc chúng tôi gan lắm, liều lắm, đánh du kích hay lắm, nên đạo quân của Abd-el-krim luôn luôn được thắng.

Rồi một ngày kia…

Bên đối phương tung ra rất nhiều truyền đơn. Đại ư như thế nầy:

“Quân phiến loạn đừng v́ một ít thắng lợi nhỏ mà sinh kiêu căng. Họ phải hiểu rằng lâu nay họ chỉ gặp phải những toán quân nhân từ.

Nay họ phải sớm hiểu mà qui hàng. Bằng không th́ phải biết: Họ sẽ gặp phải đạo binh của các ‘Tirailleurs Annamites’ th́ coi chừng đa! Những người nầy ăn thịt người, ăn sống, ăn rất nhiều, ăn cho đến đỗi máu đóng răng, khô thành đen đi!”

Ăn thịt người, răng dính máu máu khô làm cho răng đen đi! Những người ấy ai mà không sợ?

Đạo quân Annamites kéo đến đâu, loạn quân v́ sợ mà ră trước rồi. Abd-el-krim v́ vậy mà cô thế, bị bắt. Cuộc nổi loạn từ ấy bị dẹp.

Và cũng từ ấy, con nít ở xứ tôi có khóc th́ chúng liền bị nhát.

“Nín đi! Nín đi! Kẻo Annamites răng đen đến ăn thịt bây giờ!”

*

Ngày nay, anh bạn Ali của tôi ở tận gốc trời kia, dầu bị thực dân doạ nạt thế nào, ắt cũng không sợ nữa. Bởi v́ từ ba năm nay, đâu c̣n người “Annamites”! Từ ba năm nay, chúng ta là người Việt Nam, và người nhà quê Việt Nam cũng bỏ tục nhuộm răng đen… Để cho thực dân không c̣n tuyên truyền láo nữa.

(Ánh Sáng, số 161, ngày 15-9-1948)

 

4 - Dưa hấu Đồng Nai

Đây là một bức thơ của một độc giả gởi cho:

Sài G̣n, ngày……..

Kính ông Lân Trinh,

Tôi là một người từ miền Bắc vào. Tôi có đọc hai bài “Răng đen” và “Cá gỗ”. Bài châm biếm tục nhuộm răng và tính hà tiện của một số đồng bào. Cũng tốt! Nhưng sao lại ông ngừng ngang đó mà không thuật một chuyện “Dưa hấu” để giải thích cái danh từ mà người vùng Bắc đă dùng để gọi anh em miền Nam? Hay là ông có óc địa phương, không muốn chế tính xấu của vùng ḿnh?

Chào ông và…

Và đây là bài chúng tôi kính dâng cho vị độc giả có cảm t́nh tốt đối với “Lân Trinh”.

*

Ngài muốn nghe tôi kể chuyện DƯA HẤU à?

Tôi nào có tài đặt ra những chuyện trào phúng và đủ sức đền đáp ḷng chiếu cố của ngài? Hai lần trước tôi chỉ thuật lại những từ của người khác. Nói vậy để “của ai trả cho nấy” bởi v́ tôi không ưa cóp văn.

C̣n việc ngài bảo tôi có óc địa phương, th́ có lẽ ngài nghĩ lầm. Ngài có biết tôi là người gốc ở vùng nào trên đất Việt Nam chăng? Nhưng không sao, ngài muốn, th́ tôi xin trả lời nhưng ít ra, ngài cho phép tôi cắt nghĩa cho độc giả miền Nam cái danh từ DƯA HẤU ít thông dụng và có hiểu nó, hoạ là một ít ông đốc, ông thầy thuốc, cựu sinh viên trường cao đẳng. Tôi nói cao đẳng để chỉ cái thời xưa xa lắc kia. Chớ bây giờ người ta gọi là trường đại học.

Thuở ấy, đồng tiền ở Bắc rất đắt giá. Người ta c̣n xài đồng trinh. Một người ở trọ đi học, mỗi tháng đóng tiền cơm một đồng bạc là sang lắm. Đi xe ta một cuốc thật xa, mà trả hai xu, th́ anh phu xe, ḿnh đầy mồ hôi, ch́a hai tay rước lấy và cảm ơn lia lịa.

Trong t́nh cảm ấy, các cậu sinh viên ở miền Nam ra, ăn xài theo cách người Sài G̣n, với số tiền chục tiền trăm của các vị điều chủ Cần Thơ, Bạc Liêu, Rạch Giá gởi ra, th́ ông phán, ông kư cũng phải thua. Đă vậy, họ mang theo một mớ tính t́nh của người Nam, gan dạ, liều lĩnh, có trong bụng cái ǵ th́ nói hết, không sợ ai. Cái giàu có và ngang tàng của họ làm cho nhiều người mến, và một ít trận đánh lộn với người thừa quyền thế làm cho dân chúng khâm phục.

Lẽ tất nhiên hạng người giàu t́nh cảm là hạng dễ bị chinh phục. Các cô thiếu nữ đẹp ở Hà Thành đều dành trong trái tim một chỗ cho một cậu sinh viên Sài G̣n. Phần đông đủ giáo dục, có thể nén t́nh cảm bồng bột của ḿnh. Một số ít để cho tiếng nói của trái tim quyết định và dan díu với các cậu xa quê nhà muốn t́m một tâm hồn bạn để an ủi ḿnh. Câu chuyện cũng là câu chuyện thường ở các nơi nào có trường đại học.

Cái phải đến tất nhiên đến. Các cậu học xong, nghỉ việc, lo trở về. Biết đâu ở nhà cha mẹ đă chọn sẵn một chỗ môn đường hộ đối, hay là một vị hôn thê đương chờ từ mấy năm? C̣n các cô lăng mạn đă đoạn tuyệt với gia đ́nh để đến sống nơi những cái ổ ấm áp kia cũng chưa hay ǵ ráo. Có lẽ họ cũng nuôi cái mộng cùng người yêu xuống tàu về Nam. Nhưng đă mấy ai thấy mộng ấy thực hiệ ? Thế là các cô… bây giờ đă già rồi, đành căm giận, mà mắng xéo những chàng bề ngoài coi đẹp đẽ, mà trong ḷng cũng xấu như ai. Muốn tượng trưng cái tương phản giữa bề ngoài và bề trong, các cô mượn h́nh ảnh của cái ngoài xanh trong đỏ, tức là quả dưa hấu mà ám chỉ các bạc t́nh lang của ḿnh. Rồi danh từ “dưa hấu” từ đó tràn lan, nhưng chỉ trong ṿng các tiểu thư đài các ở Hà Nội và các sinh viên miền Nam. Ngoài ra công chúng trong Nam và ngoài Bắc ít ai biết tới…

Danh từ “dưa hấu” cũng như danh từ “cá gỗ” theo cái quan niệm thông thường, thực không có ǵ là tươi đẹp. Đă trót thuật hai câu chuyện răng đencá gỗ với một luận điệu khác, th́ cũng nên theo cái luận điệu ấy mà sơn đẹp lại danh từ dưa hấu bằng câu chuyện như thế này:

Khi ông Nguyễn Huệ kéo binh ra Bắc lần thứ nhất, xô ngă thế lực của chúa Trịnh làm cho vua nhà Lê kinh hồn sợ cái ngai vàng ḿnh sụp luôn, th́ Cống Chỉnh dân kế xin đem gả cho Huệ nàng Chúa Tiên là Ngọc Hân công chúa. Huệ bằng ḷng cưới. Bởi v́ kế hoạch của người trong giai đoạn này đâu có chạm đến ngai vàng của vua?

Ngay đến Cống Chỉnh mà người c̣n không ư động đến nữa mà! Và chính đó là tài chính trị vô song của vị anh hùng G̣ Găng. Mà Huệ cũng biết Ngọc Hân công chúa không phục ḿnh, và việc hôn nhân đây chỉ là việc tùng quyền, hay là dùng mỹ nhân kế để lựa lúc say t́nh, mê ngủ, mà nàng chúa Tiên sẽ cho ḿnh một mũi dao có tẩm thuốc độc? Con diều bễ Cống Chỉnh đang gấm ghé ngai vàng này đâu phải là tay không mưu mô sâu độc! Thế nên công việc đầu tiên là chinh phục trái tim của nàng công chúa sắc tài có một.

Trái với tục truyền, cho rằng đám cưới long trọng lắm, hôm lễ rước Ngọc Hân công chúa, Nguyễn Huệ ăn mặc theo quê mùa, vải bộ và chỉ có đem đến vỏn vẹn một quả dưa hấu. Vua và triều đ́nh sợ oai vị anh hùng bách chiến bách thắng, không ai dám bắt lỗi, chỉ có Ngọc Hân công chúa, khi động pḥng mượn t́nh thân mật mà hỏi:

“Sao chàng đối với bên phía thiếp như thế?”

“Tôi là người nông dân xuất thân, nương nơi một phong trào nông dân mà lập sự nghiệp. Thế nên ăn mặc vải bộ luôn luôn để chỉ rơ chân tướng của tôi và cái ư muốn luôn luôn đi sát với dân quê.”

“V́ sao chàng nạp lễ bằng một quả dưa hấu?”

“Để tỏ rằng tôi đây như một quả dưa hấu. Tuy bề ngoài có màu xanh của một anh nông dân, màu của ruộng xinh tươi, nhưng trong ḷng tôi nuôi chí lớn, phiên đảo vũ trụ, lập một sơn hà mới, và tự ví ḿnh với vua Xích Đế là Lưu Bang đă bại Tần, thắng Sở mà xây dựng nhà Hán chói lọi mấy trăm năm cả một vùng trời… Nàng không thấy sao? Tôi đă lựa ngọn cờ đào làm cờ tranh đấu kia mà! không biết Ngọc Hân công chúa có nuôi ư ám sát Nguyễn Huệ chăng? Nhưng đến sau khi Quang Trung hoàng đế chết, Ngọc Hân có khóc chồng mấy câu :

… Áo vải cờ đào

Cứu dân dựng nước biết bao công tŕnh

Đó, sự tích của dưa hấu là vậy đó.

 (Ánh Sáng, số 200, ngày 30-10-1948).

 

5 - Cọp hú

Năm nay là năm con cọp, mà không nói chuyện cọp hú, th́ thấy chừng như có ǵ thiếu sót. Chẳng khác ǵ các cô sắm thức ăn Tết, mà quên món “bánh của dân tộc” là bánh tét vậy.

Năm ấy, chúng tôi ở Côn Lôn, mà bị cấm cố, nghĩa là không được món quà ǵ hết, đến ra sân hưởng không khí cũng không được. Nhưng đă là người Việt Nam, mà gặp dịp Tết mà không ăn Tết, th́ nghe đâu như ḿnh đă hoá ra kẻ vong bản. Thế nên trong khám riêng của tôi, vài anh em ăn Tết với nhau… bằng tưởng tượng.

Thay v́ quà bánh, chúng tôi có lối riêng, là nhờ một anh kể ra một món ăn trân mỹ nào đó, từ lúc bắt con thịt, làm cách nào, xào nấu làm sao, gia vị cách nào và dọn theo kiểu nào. Nói nghe mà thêm nhểu nước miếng. Hay nhất là chỗ nầy, trong lúc nói, anh hứng quá, thành ra anh kể nhiều món tỉ mỉ, mà thật ra anh chưa từng thấy bao giờ, và có lẽ miệng anh nói, lỗ tai anh nghe cũng rất thú vị như những người khác.

Mà ăn Tết, lại không có một số báo mùa xuân đọc giải trí, th́ sao dám gọi là ăn Tết? Chúng tôi ở vào cảnh tù, thiếu thốn mọi bề, th́ tấm ḷng không khác nào trẻ con nên bốn năm. Nó không có con ngựa cỡi chơi à? Th́ có khó ǵ? Nó cặp một khúc sậy vào giữa hai chân, tay cầm cương, tay quất phía sau, miệng hự hẹ om ṣm, th́ con ngựa cũng chạy vậy. Và cũng chưa chắc ǵ người cỡi ngựa thiệt được sung sướng hơn nó cỡi con ngựa tưởng tượng của nó đa, các ông các bà ạ! C̣n chúng tôi không có một tập báo mùa xuân với những bài của những ngọn bút có tài, th́ chúng tôi xuất bản miệng tờ báo xuân tưởng tượng.

Nếu các món quà bánh có thể không ngon bằng các thứ ăn thiệt, th́ độc giả nên tin rằng “tờ báo miệng” của chúng tôi hay lắm. Các bạn đồng nghiệp nếu không bằng ḷng lời phê phán của tôi, rất khó mà chứng minh rằng họ có tài hơn bọn tù chúng tôi. Bởi họ viết th́ cái nhảm nhí c̣n đó, mà tờ báo miệng của chúng tôi nghe qua rồi, bay mất chỉ để lại một kỷ niệm đẹp đẽ mà thôi. Và sau đây là bài “Cọp hú” của một anh bạn gốc ở Cà Mau. Độc giả chớ quên rằng v́ là báo miệng nên thỉnh thoảng có kẻ xen vô căi.

*

Mấy anh có biết cọp hú là cái ǵ không? Nếu không, th́ về sau, có mở miệng mà thề, thà thề cái ǵ c̣n có cơ tránh được, chớ đừng thề cọp hú nhé!

Hồi xưa có một người nọ tánh hay mèo chuột, nên khi đi ra Huế để thi, th́ vợ gọi vào buồng nói thỏ thẻ rằng :

"Tôi nghe đồn các cô gái Huế vừa đẹp vừa đa t́nh, đến đỗi ca dao có câu:

Học tṛ ở Quảng ra thi,

Thấy cô gái Huế ra đi không đành.

Nay ḿnh ra Huế, ḿnh thề với tôi đi, thề rằng ḿnh sẽ luôn luôn trung thành với vợ."

Anh chàng nầy vốn biết tánh ḿnh, nên chọn một lời thề, mà chàng cho là ít độc địa hơn hết, để thề cho vợ tin, hầu đi cho mau mà hưởng thú vị của sông Hương với bao nhiêu mỹ nữ gieo những giọng mê hồn trên mặt nước lờ đờ. Thế là anh ta thề:

"Tôi mà không trung thành với ḿnh th́ cọp hú."

Trong trí chàng ta tưởng rằng dầu cọp có hú, ḿnh có nghe mà không đến, th́ lại có hề hống ǵ mà sợ? C̣n bà vợ gốc người Khánh Hoà, là nơi cọp nhiều có tiếng, nghe lời thề độc địa như vậy, nên vui ḷng cho anh ra đi “lập chữ công danh”. Anh ấy cũng lập chữ công danh vậy. Nhưng là chuyện phụ thuộc, c̣n việc chánh là anh đă để bao nhiêu th́ giờ, tiền bạc và tâm trí, để thí nghiệm xem câu ca dao mà vợ vừa nhắc đó có quả như vậy chăng?

Trong mười lăm năm, hai vợ chồng anh ta sống ở các thành thị lớn, nên lời thề kia chưa có dịp ứng nghiệm được…

Nói đến đây một thính giả xen vào căi:

"Mầy là duy vật, mà tin chuyện dị đoan nữa à?"

Mấy bạn khác chặn lại:

"Để nó nói hết cho mà nghe. Ai biểu mầy phải tin. Nghe cốt là t́m cái thú vị thôi, chớ nó có duy tâm hay duy vật ǵ trong câu chuyện hoang đường.”

Người nọ yên lặng ngồi, để nghe kể tiếp.

Một hôm kia, bà vợ về Khánh Hoà thăm quê nhà, rủi bị cọp bắt ăn đi, th́ bữa sau, ứng mộng liền cho chồng mà nói rằng :

 “Hôm kia tôi mới bị cọp bắt ăn, thành cái cô hồn thứ chín mươi tám của con cọp đó. Nếu nó ăn được thêm hai mạng người nữa, th́ nó thành con hùm xám, đă dữ dằn, lại hú được. Hồi đó ḿnh có thề láo với tôi rằng khi ra Huế, ḿnh sẽ trung thành với tôi, không th́ bị cọp hú. Bấy lâu nay, tôi tưởng là ḿnh giữ lời hứa, nào dè nghe bọn cô hồn ấy nói chuyện, tôi mới hay rằng ḿnh mắc lời thề."

Chàng ta nghe nói như vậy, sợ hăi hỏi:

"Bọn cô hồn ấy nói cái ǵ?"

"Khi hồn tôi vừa ĺa khỏi xác, th́ tôi thấy chín mươi bảy cái hồn khác đương nhảy múa reo mừng rằng: ‘Được một nữa rồi, c̣n thêm hai, th́ cọp nầy thành hùm xám, rồi nó sẽ hú thằng cha gạt vợ cho ḿnh coi chơi!’ Tôi nghe lấy làm lạ hỏi chúng nó, th́ bọn cô hồn ấy bảo: ‘Lời thề cọp hú độc địa lắm, nên không ai dám mở miệng mà thề: mà rủi có nói lỡ, th́ lại rán giữ đừng cho mắc vào. Thành ra từ xưa tới giờ chưa có ai bị cọp hú lần nào cho biết. Lần nầy lại được xem th́ thích lắm!’”

Dừng lại một chút, để nh́n chồng với vẻ mặt thương hại, bà vợ nói tiếp :

"Ban đầu tôi giận ḿnh lắm!"

Anh chồng ngạc nhiên hỏi:

"Làm ǵ mà giận?"

"Tôi giận ḿnh sao có lén tôi mà đi mèo chuột, đến nỗi mắc lời thề. Tôi muốn để mặc kệ cho cọp nó hú ḿnh, tôi coi chơi cho đă hư."

"Chuyện đă mười lăm mười bảy năm mà c̣n ghen nỗi ǵ?"

"Ḿnh không biết tánh của đàn bà sao? Chuyện bóng chuyện gió c̣n ghen được, huống chi là chuyện thiệt, dầu nó cũ mười mấy năm…"

Anh chàng nghe nói buồn dàu dàu, th́ vợ nói tiếp:

"Nhưng tôi nghĩ lại. Người không bị cọp hú mà chỉ bị ăn suông, th́ về sau c̣n khỏi cái kiếp bị cọp ăn. Chớ bây giờ ḿnh bị cọp hú một lần rồi, th́ sau đời đời kiếp kiếp, ḿnh sẽ làm người bị cọp hú và ăn thịt."

Nghe nói vậy chàng ta hoảng hốt, trách ḿnh sao có quá ham vui mà mắc phải lời thề độc địa như vậy. Vợ lại nói thêm:

"Mà khổ là mỗi lần bị cọp ăn như vậy, nào phải như người thường bị ăn đâu! Cọp nó hú lên, rồi ḿnh làm cái tṛ ǵ lạ lùng cho đến đỗi, bao nhiêu cô hồn c̣n nán lại xem cho thoả con mắt một lần cho biết…”

Nghe thuật chuyện đến đây, một người gọi nhỏ bạn ngồi kế bên nói:

"Mầy cũng hảo ngọt: đó, thấy chưa? Nhớ đừng thề với mấy lời thề cọp hú nghe!"

"Chuyện dị đoan như Liêu trai chí dị, hơi đâu mà tin, mà sợ."

Mấy người kia x́ xịt:

"Nín mà nghe có được không?"

Người thuật nói tiếp:

Nhưng mà hồn vợ anh nọ cũng lành, nên lần lần thương hại chồng và nói rằng:

"Bây giờ tôi nghĩ có kế nầy, hoạ may cứu ḿnh được. Việc thứ nhất là hai cha con ḿnh dắt nhau đến B́nh Định mà t́m ông Đào Duy Quân. Ông đó là cháu tám đời của ông Đào Duy Hiến, là thầy dạy nghề văn nghiệp vơ cho Nguyễn Huệ thuở trước. Ông c̣n giữ lắm ngón bí truyền của tổ tiên. Hai cha con rán năn nỉ khóc lóc, để nhờ ông truyền chút ít nghề mà giữ ḿnh. Ḿnh già yếu rồi, đi đâu phải dắt con theo, rủi cọp có hú, th́ vừa ḿnh đỡ, vừa con chống cự, hoạ may cọp không làm ǵ được. C̣n phần tôi, tôi sẽ chịu khổ, luôn luôn mách trước cho người ta hay; để cho con cọp đă ăn tôi, lại không thể ăn thịt hai mạng nữa. Thế là nó chưa ăn đủ số trăm mạng tức là chưa thành hùm xám, th́ nó không thể hú ḿnh được."

Tỉnh giấc dậy, chàng ta nhớ lời vợ dặn, sợ quá. Và gọi con lại mà tính đi học nghề vơ. Bởi con va là con gái; nên va giấu việc lời thề nọ, mà chỉ nói rằng vợ về mách rằng có huông cọp ăn nên phải đề pḥng. Khi đến B́nh Định, t́m phủ Tuy Viễn mà hỏi thăm th́ quả có ông già tám mươi tuổi tên là Đào Duy Quân, làm nghề thầy thuốc, chớ không phải là thầy nghề vơ. T́m măi chẳng có ai khác, mà không lẽ lời vợ ứng mộng lại không linh, anh ta mới dắt con tới ông già, khóc lóc, mà xin cứu mạng. Ông già động ḷng hỏi có bịnh ǵ, th́ hắn ta mới kể chuyện có huông cọp ăn, vợ ứng mộng bảo đến cầu học mà giữ ḿnh.

Ông thầy thuốc mới nói thiệt rằng tổ tiên ḿnh đă truyền lắm ngón hay, nhưng căn dặn rằng: "Chớ dạy cho kẻ khác, họ dùng đó mà làm nghề ăn cướp. Cứ giữ ngón bí truyền của nhà, dành đó cho những vị anh hùng nào như Nguyễn Huệ mà dạy tần t́nh cho, hầu cứu dân giúp nước.

Nếu không nghe lời mà truyền cho những kẻ không lương tâm, th́ sẽ bị cọp hú." Hắn ta nghe nói khóc lóc năn nỉ rằng:

"Tôi học đây, chỉ để giữ ḿnh thôi. Nếu hai cha con tôi không giữ bí truyền của thầy, th́ sẽ bị cọp hú nữa!"

Ông già thấy thề độc địa như vậy, nên cũng dạy cho tất nhiên không hết nghề của ḿnh, nhưng đủ sức một ḿnh đánh nổi ba con cọp vậy.

Mọi việc tưởng đă êm rồi, không dè đêm nọ hắn ta chiêm bao, thấy vợ về nữa, mà chuyến nấy có vẽ lo sợ, buồn thảm lắm. Hắn ta hỏi, th́ bà vợ đáp:

"Lâu nay, tôi lén bọn cô hồn mà đi báo trước cho người ta hay cọp đến để trốn. Không dè, sau bọn cô hồn chia nhau mà canh tôi, giữ tôi lại không cho làm như vậy nữa. Thành ra con cọp đă ăn được thêm hai mạng người. Nó đă thành hùm xám rồi. Chín mươi chín cô hồn kia giục nó bỏ rừng Khánh Hoà, mà đi t́m ḿnh, để hú ḿnh cho chúng nó xem chơi. Chúng nó lại biết rằng hai cha con ḿnh học vơ giỏi lắm, nên cứ bảo nhau: ‘Chuyến nầy vừa coi được một trận đấu vơ tuyệt trần lại thêm được một cuộc cọp hú nữa!’ Tôi lo quá, lén đến trước cho ḿnh hay. Không thể nào trốn được việc cọp hú đâu, dầu là ḿnh giỏi nghề vơ. Trốn đi th́ hơn."

Giựt ḿnh dậy, chàng ta đổ mồ hôi hột. Trốn đâu bây giờ? Từ Khánh Hoà thẳng tới bên Tàu, rừng núi liên tiếp, th́ ở đâu con hùm xám cũng tới được. Nếu bây giờ xin đổi qua miền Hậu Giang, th́ hoạ may nhờ sông Cửu Long rộng ba bốn ngàn thước nó ngăn cách, hùm xám đến không được chăng. Nghĩ vậy chàng ta xin phép đổi, và được đi Cà Mau; không dám đi đường bộ, chàng ta đi tàu vào Sài G̣n, rồi từ Sài G̣n đi tàu thẳng tới sở.

Hắn ta làm sở dây thép, ở tại sở chật hẹp. Vậy mà đứa con năm nay mười chín tuổi rồi, hắn chỉ bằng ḷng gả ở mà thôi. Cô ấy không đến đỗi đẹp lắm, mà hắn ta không giàu ǵ, th́ có cậu nào đến đỗi bằng ḷng ở rể nơi nhà cửa chật hẹp của sở đâu! Hắn thấy cũng tội nghiệp con, nhưng an ủi rằng:

"Thôi con rán giữ giùm cho cha đến già, chết cái chết tốt một chút."

Một hôm hai cha con có việc đi Khánh An, th́ trên đường vắng, nghe mùi tanh tanh ở đâu đưa lại. Cọp rồi! Bỗng nghe tiếng người ta nói ồn ào, như giữa chợ, nhưng chẳng có ai hết. Mà từ trong bụi, nhảy ra một con cọp to như con ḅ, lông lá xám hết. Hắn ta sợ hết hồn la lên:

"Hùm xám!"

Con cọp hự một cái, gật đầu, rồi bỏ bộ ngồi xuống, chậm răi liếm râu, nhích mép như là cười mỉm chi, chứ không nhảy tới vồ.

Đứa con gái lật đật kéo vạt áo dài mà quấn chung quanh lưng, nhét mối cẩn thận cho gọn để giữ chừng, rồi nói:

"Cha tháo lui để cho con cản nó.”

Hắn ta nghe lời lùi lần. Cọp thấy vậy nhảy phóng tới, đưa móng để chụp. Th́ cô gái lẹ chân đá ngang hông cọp. Con cọp té nhào một bên không chụp được. Cọp vừa đau, vừa tức ḿnh, con mắt đỏ như lửa, hự hẹ om ṣm. C̣n đàng kia hắn ta co gị chạy như bay, có mấy phút đă xa lắc. Bỗng từ đâu không biết, tiếng người ta nổi lên ồn ào, mà chẳng thấy một tâm dạng ai. Th́ con hùm xám h́nh như nghe, cười hắt hắt lên, ngồi lại đàng hoàng, cất tiếng hú to nghe rùng ḿnh. Chàng kia chạy đă xa rồi nghe tiếng hú, quay đầu lại cất tiếng cười ḍn dă, rồi trở lại, bộ mặt hân hoan lắm. Đứa con gái hỏi:

“Sao cha không chạy cho xa, c̣n lại đây làm chi nữa?”

Hắn ta không đáp lại, cười khanh khách, chạy nhào đến chỗ cọp ngồi. Đứa con hoảng hồn, nhảy tới vận quyền mà thoi vào mặt cọp, để nó hoảng chạy đi mà đừng có th́ giờ bắt cha nàng, thế là cọp và nàng ấy đấu nhau. Cọp đấu không lại, nhảy ra ṿng ngoài. Th́ nàng ấy lại kéo cha đi. Nhưng anh ta vừa lách vừa cười, cứ nhằm con cọp mà xốc tới. Nàng ấy cản lại không được, nên cứ phải rượt theo đánh đuổi con cọp. Cọp thua chạy, th́ hắn ta cũng chạy theo, bộ tịch mừng rỡ lắm. Đứa con không biết làm sao.

Có người xen vào hỏi:

“Tại sao cô ấy không bắt cọp quách đi cho rồi?”

Bộ cọp dễ bắt lắm sao chớ? Bởi vậy cứ giằng co như vậy măi. Bỗng đâu tiếng ồn ào nổi lên nữa. Cọp liền hú nữa, th́ hắn ta gật đầu, đắc chí lắm, dùng miếng lưỡng long quá hải mà thoi ngay vào mặt con gái ḿnh hai quả đấm một lượt. Đứa con lật đật đỡ rồi chạy, không dám đánh lại cha. Bây giờ mới khổ cho cô ta. Vừa con hùm xám, vừa cha nàng xông đến mà cự với nàng. Đối với con hùm xám nàng thoi đá tưng bừng mà đối với cha, nàng chỉ có nước tránh đ̣n mà thôi. Lẽ tất nhiên nàng phải thua, nhảy ra ngoài mà thở. Th́ cọp hú một tiếng nữa. Hắn ta ríu ríu nhảy vào ḷng cọp, để cho cọp móc họng.

Cứu cha không kịp, người con gái chỉ c̣n lại một nước là đánh đuổi con cọp để giành cái xác đem về. Nhưng lạ thay, con cọp cứ lẽo đẽo theo chực cướp lại. Và tuy hắn ta đă chết, song mỗi lần cọp hú, th́ cười sặc sặc và có ư tŕ lại, không để cho con kéo đi.

Rê một cái xác khó nết như vậy, mà c̣n phải cự với con hùm xám to tướng kia, th́ cô ta xem chừng không kham. Nên cô ta cố sức đánh lui con cọp, rồi bứt dây rừng cột thúc kẻ ông già lại, treo ṭn ten trên cây cao, khỏi mặt đất mấy chục thước cho cọp nhảy không tới. Rồi cô về xóm, gọi người lực lưỡng, hèo gậy đàng hoàng thật đông, để cự với cọp và đem xác cha về. Khi ra đến nơi, ai cũng lấy làm lạ mà thấy rằng dưới nầy, cọp đi qua đi lại, nh́n lên mà hú, th́ ở trên lăo ấy nhào qua lộn lại giữa không trung cười ḍn dă, như muốn cỡi dây xuống giỡn với cọp mà không được…

Khi đuổi con hùm xám đi rồi, ai nấy giúp sức đem cái xác kia về chôn cất tử tế. Th́ tối lại nghe mùi hôi tanh của cọp và tiếng hú rùng rợn, tiếng cười ḍn dă, tiếng reo ḥ như của hàng trăm người hoan nghinh một việc ǵ. Nhưng đêm tối chẳng ai dám ra. Riêng cô con gái nghi là hùm xám đến quật mồ của cha ḿnh để ăn xác, nên đánh liều gọi người ta đốt đuốc sáng giúp cho. Và cô xông ra một ḿnh. Nhưng trễ quá, cọp đă ăn hết thịt và đương gặm bộ xương. Cô xông tới đánh cọp, cọp thua chạy đi. Cô cướp được bộ xương đem vào.

Hàng xóm sáng đến xem, th́ không có dấu cọp moi. Hùm xám chỉ hú một cái, là hắn ta tung mồ lên nạp mạng. Có mấy ông già biết chuyện mới dạy:

“Cha cô hồi trước chắc có thề cọp hú, mà không giữ, nên mới bị như vậy. Và có đầu thai mấy ngàn đời th́ vẫn bị cọp hú. Tội nghiệp th́ thôi! Tốt hơn là đừng cho ông ấy đầu thai nữa. Chớ đi đầu thai, mà mỗi lần đều bị cọp ăn như vậy th́ thảm biết chừng nào!”

Cô nọ mới hỏi:

“Làm sao đừng cho hồn cha tôi đi đầu thai được?”

Ông già đáp:

“Bây giờ cô thiêu hết bộ xương nầy đựng vào cái lọ nhỏ, đem vào chùa nào có hoà thượng giỏi, dùng phép ngũ hành của Phật mà nhốt hồn lại. Tài biến hoá như Tôn Hành Giả mà thoát ra c̣n không được kia!”

Cô ta nghe lời làm y theo.

Từ ấy trong rừng có tiếng cọp hú, th́ trong b́nh có tiếng cười ḍn dă rồi cái b́nh lúc lắc như muốn đi. Ông hoà thượng phải lật đật tụng một phi kinh Kim Cang, mới êm được.

Đó chuyện cọp hú vậy đó!

Thuật xong th́ anh chàng khi năy nói:

"Chuyện dị đoan mà, làm ǵ có!"

Người kể chuyện đáp:

"Nếu hiểu nghĩa đen, th́ hẳn là không có. Nhưng nếu xem câu chuyện vừa kể đây là một bài văn tượng trưng th́ trong đời thiếu chi kẻ bị cọp hú ríu ríu vâng lời kẻ thù nghịch mà thù nghịch lại ḍng họ ḿnh… Những kẻ nông nổi, những kẻ không biết văn chương là cái quái ǵ, mới dám nói tôi nói chuyện dị đoan…"

(Sài G̣n Mới, số xuân Canh Dần)

[1]Bạn nào c̣n giữ Quả trứng thần, xin cho tác giả mượn (nguyên chú của Hồ Hữu Tường).

 

6 - Thuỷ Hoàng và thuốc trường sanh

Khi Tần Thủy Hoàng diệt xong lục quốc, tóm thâu cả đất trung nguyên, th́ ḷng muốn hưởng tất cả cái khoái lạc của địa vị hoàng đế của ḿnh. Bèn cho xây dựng cung A pḥng, rồi hạ lịnh truyền ba ngàn gái đẹp hơn hết mà chứa vào cung ấy. Các nàng nầy, giữa tuổi xuân t́nh phát động, mà bị ở vào cảnh ấy, thường suy nghĩ đến số phận hẩm hiu của ḿnh, oán trách trời xanh, cũng không giải khổ, cầu ḷng tứ bí của ai, cũng không bớt buồn tủi. Họ chỉ c̣n có một lối, là được ngày nào, th́ tận hưởng ngày ấy, biết đâu đi giáp ba ngàn cung nữ, Thuỷ Hoàng có thể trở lại viếng ḿnh sau gần mười năm xa cách chăng? Do sự đ̣i hỏi đó, mà không bao lâu Thuỷ Hoàng suy nhược, thể xác ṃn mỏi, lư trí rối beng…

Một hôm Thuỷ Hoàng mệt đừ, nằm nơi ghế ở ngự viên, th́ mơ màng hồn phách mà thấy một cơn ác mộng. Tỉnh giấc dậy, th́ tay chân bủn rủn, mà tâm hồn lại phảng phất, ḷng lo sợ rằng ḿnh sẽ chết nay mai, không được hưởng những khoái lạc của đời, thêm cả sự nghiệp nhà Tần tan ră. Trọn ngày buồn bực, bèn thương nghị với cận thần, để t́m kế hoạch nào để được trường sanh bất tử, hầu làm hoàng đế đến muôn đời.

Thời ấy ở nước Yên có chàng thi sĩ họ Từ tên Phước, thơ đă hay và vẽ rất khéo. Từ Phước nhà nghèo, học giỏi, vốn muốn dùng sở học để làm kế tiến thân. Song đă là một thi sĩ, tâm hồn gởi theo gió thổi đi khắp bốn phương, ḷng mong mỏi một cái ǵ quang đăng, tốt tươi, êm dịu, th́ thi sĩ ấy đâu có chịu v́ mấy đấu gạo, mấy đồng lương, chút quyền thế mà g̣ bó bản thân ḿnh trong một chế độ quá độc tài, quá khắt khe như chế độ của Thuỷ Hoàng? Sanh kế đă giải quyết không xong, mà giấc mơ ḷng cũng tuyệt vọng. Chàng muốn phô trương văn tâm văn tài của ḿnh để cảm động ḷng tuyết giá của một trang gái đẹp lẫn sắc lẫn tâm hồn, để rồi một túp lều tranh, hai quả tim vàng, thơ chàng được giọng nàng ngâm lên, ư nhạc, lời thơ, nung nấu một ái t́nh đầy thơ mộng. Chàng cũng đă để ư đến một hai nàng quốc sắc, một vài đoá thiên hương, nhưng rủi thay, cuộc tuyển chọn cung nữ vào A pḥng, đă hốt tất cả hoa đẹp của trần gian về trồng riêng cho Thuỷ Hoàng độc hưởng. Chàng vỡ mộng, như say, như tỉnh, chán thế sự, chán t́nh đời. Từ sáng đến chiều chỉ uống rượu, vẽ các cô đẹp lên tranh, rồi nh́n tranh ngâm thơ, để vịnh, để hưởng khoái lạc với người trong cảnh mộng… Chẳng bao lâu, sự nghiệp hết sạch, không kế sanh nhai, cũng may là có vị quan già của nước Yên, tên là Vị Vô Kỵ, mến tài vẽ, tài làm thơ của chàng, nên đem chàng về cho ở nơi thơ pḥng, cấp rượu, cho áo cơm, để mặc, t́nh chàng sáng tác…

Vị Vô Kỵ không có con trai, chỉ sanh có một gái. Tuy nết na thuần thục, trí tuệ thông minh, song tiểu thơ không có chút nhan sắc, thành ra thiên hạ thường gọi nàng là Vị Vô Diệm, mặc dầu cha mẹ đă đặt cho nàng một cái tên rất đẹp là Lệ Tiên. Vô Diệm sớm mồ côi mẹ, và cũng bởi buồn về nhan sắc của ḿnh, thành ra hay đọc sách để cho tâm hồn thoát cảnh trần gian là cảnh khổ của ḿnh và tách vào được cảnh tiên đầy thơ mộng. Gặp hoa nói chuyện với hoa, gặp điểu nàng vui đùa với điểu, nàng lần lần làm bạn với đủ mọi loài, che chở cho giống nầy, binh vực cho giống kia, nàng trở thành nàng tiên của miếng vườn của ḿnh… Một hôm, nàng thấy một con ong mật vướng lưới, the thé gọi nàng cứu tử, v́ một con nhện hùm to tướng toan chạy lại để giết con ong. Nàng lật đật nhặt cành, khều con ong thoát khỏi lưới nhện. Ong chưa chịu bay đi, c̣n lẩn quẩn bên tai mà tạ ơn.

"Cảm ơn tiên nương đă cứu mạng, ngày sau tôi sẽ trả ơn! Tiên nương muốn điều chi, ngày mai xin cho tôi biết."

Vô Diệm chưa biết đ̣i hỏi ǵ, th́ ngẫu nhiên, bước thơ thẩn của nàng đưa nàng đến bên cạnh cửa sổ của thư pḥng Từ Phước đang ở. Từ Phước đang chăm lo vẽ tranh, không để ư đến nàng. Nàng đứng nép một bên, thấy tranh cũng gần xong, và vẽ một nàng tiên cực kỳ đẹp đẽ, áo xiêm màu sắc lộng lẫy, má phấn ửng hồng môi son thắm nở, mũi thẳng mày cong, dáng đứng rất yểu điệu, cầm cây quạt xoè mà che khuất chút cầm. Khi vẽ xong Từ Phước mới lấy bút, chấm mực mà vẽ vào quạt, rồi đứng lui lại ngắm nghía, và ngâm lên bài thơ vừa viết, như là niệm thần chú:

Chiêu dương cung tạm vắng một giờ,

Ngó ư, tơ ḷng lựa phải mơ!

Trót đă yêu đương đừng ái ngại,

Cùng nhau ta sống một bài thơ.

Vô Diệm thấy nàng trong tranh nhích nụ cười duyên, cúi đầu như tỏ vẻ ưng thuận, rồi bước ra khỏi tranh, đến trước Từ Phước mà hỏi:

"Chàng gọi thiếp đến có việc chi?"

"Cảnh đời buồn tẻ vắng kẻ tri âm. Bực tài hoa, trang quốc sắc, không đâu t́m có, nên ta mời nàng đến, nhờ nàng đăi thi sĩ đôi giờ hạnh phúc. Nàng có vui ḷng chăng?"

"Thiếp là tiên trong mộng, chàng dạy sao, thiếp đâu có chối từ, huống chi, không c̣n bao lâu, chàng sẽ gặp duyên lành, th́ cái t́nh chùng lén của đôi ta, biết chàng có nung nấu trong ḷng hay chỉ mải vui duyên mới."

"Vội nói chi đến phút xa cách. Ta nên tận hưởng sự vui của hội ngộ. Vậy nhớ nàng khiêu vũ để giúp vui."

Nàng trong tranh vâng lời, nhún ḿnh, ṿng tay rồi múa, chậm chậm ngâm theo nhịp:

Nhẹ nhàng bước lụa nhịp lên nhung,

Nầy khúc nghê thường ở quảng cung…

Từ Phước nối lời ngâm theo cho hoà giọng:

Vóc liễu uốn cong, tà áo cuốn,

Má đào ẩn hiện giữa muôn hồng.

Chẳng nhịn được Vô Diệm khen lớn:

"Sắc đẹp thơ hay, múa dịu dàng, tiếng thanh tao! Ở trần thế làm ǵ có một nàng thứ hai như vậy?"

Nghe có tiếng người, nàng tiên lật đật chạy vào tranh, rồi đứng nghiêm, im bằt bặt. Từ Phước cũng bẽn lẽn chào Vô Diệm.

Về nhà trong, Vô Diệm cứ mơ mơ tưởng tưởng cảnh âu yếm mà nàng vừa mục kích, chỉ tiếc sao ḿnh quá xấu xí, không sánh được cùng Từ Phước như nàng tiên. Song nàng nghĩ rằng Từ Phước đă có phép hoạ bức tranh thành tiên được, th́ chẳng lẽ nào chẳng biến ḿnh ra đẹp được? Nàng tin tưởng như thế, nên vào thưa với cha, thuật tất cả điều ḿnh vừa mới thấy và tỏ nỗi ḷng tha thiết của ḿnh. Vị Vô Kỵ, vốn thương con, nhơn ở trào biết ḷng mong mỏi của Thuỷ Hoàng, nên hỏi:

"Con có chắc Từ Phước có tài vời tiên đến chăng?"

"Con dám quả quyết như vậy."

"Như vậy, th́ cha có cách làm cho chàng phải bằng ḷng cưới con. Chờ cha e chàng chê con thô kịch mà từ chối, nếu cha ngỏ ư gả con cho chàng. Cách ấy như thế nầy, là ngày mai, cha sẽ tâu với vua, là con có biết một người có phép vời tiên đến. Nếu vua muốn t́m thuốc trường sanh, th́ không thể hỏi người phàm, mà chỉ hỏi tiên mới được. Nếu vua bằng ḷng tứ hôn, gả con cho Từ Phước th́ chàng sẽ vời tiên đến cho vua hỏi. C̣n việc tiên sẽ ban cho cùng không, là việc riêng của tiên không can hệ chi đến ḿnh..."

Hôm sau, khi Vị Vô Kỵ vào chầu, th́ Vô Diệm sống trong những phút hồi hộp. Nàng không biết nhà vua có chấp thuận lời tâu của cha nàng không? Nàng không biết Từ Phước có sợ oai vua mà cầu tiên đến chăng?

Bỗng nghe bên tai văng vẳng tiếng chào:

"Tiên nương chớ nên lo lắng lắm. Tôi đă biết rơ các chi tiết, tôi đi hút trong một vườn hoa ngự, nghe trong cung bàn rằng, vua sẽ tứ hôn mà gả tiên nương cho Từ công tử. Song muốn cho được t́nh duyên ép buộc nầy được dẫy đầy hạnh phúc, th́ xin cho tôi dâng kế mọn nầy, gọi là tạ ơn cứu tử hôm qua."

Vô Diệm hỏi:

"Kế chi?"

"Tiên nương hăy vào lấy cái ly thuỷ tinh có nắp, lấy sáp trây đầy phía trong của ly lẫn nắp, rồi nhắc ghế cao mà để ly nơi giữa sân vườn. Mọi mặt khác, tiên nương lấy giấy viết như vầy, như vầy…"

Vô Diệm y lời, đặt ly thuỷ tinh xong nơi giữa vườn, th́ viết một cái thư cho Từ Phước.

Ngồi nơi thơ pḥng đọc sách Từ Phước thấy hơn một trăm con ong ngậm một sợi tơ dài, bay đến, kéo theo một bức thơ. Thơ rằng:

"Thưa Từ công tử,

Công tử sẽ được thiên tử triệu vào chầu hỏi công tử có phép vời tiên đến chăng? Th́ công tử hăy đáp rằng các vị tiên đa đoan, không phải lúc nào là vời cũng đặng. Nếu nhà vua muốn hỏi công tử t́nh nguyện đi t́m mà hỏi thay cho. Nếu nhà vua ngỏ ư muốn có thuốc trường sanh, th́ công tử tâu rằng ngày trước tiên có ban cho công tử một ly, đủ cho một người uống, và công tử có gởi cho Vị tiểu thư cất. Nếu nhà vua muốn dùng, th́ xin truyền lịnh cho Vị Tiểu thư dâng cho."

Chàng lấy làm lạ, không biết thư từ ở đâu mà gởi đến. C̣n đang suy nghĩ, bỗng đâu cả trời vần vũ, mây che khuất bóng thái dương, tiếng ù ù càng gần, rồi sát bên cạnh tai. Chàng thấy Vô Diệm đứng ngoài sân dường như nói chuyện với người khuất mặt, bên cạnh một cái ghế có đặt một cái ly thuỷ tinh. Hơn giờ sau, trời lần lần tỏ lại, mây đen tan rồi tiếng ù ù bớt rồi im hẳn, vầng thái dương lại lộ ra. Vô Diệm lấy nắp đậy ly thuỷ tinh, dùng sáp trét kính rồi bưng vào nhà. Từ Phước mới yên ḷng, cho rằng nàng đă có ly thuốc trường sanh th́ đồng thời, bức thơ nấy đă có linh nghiệm.

C̣n về phần Vô Diệm, khi đứng ngoài sân, nàng đă nói chuyện với ong, làm cho nàng lâng lâng trong ḷng, tin rằng nàng cầm chắc hạnh phúc của nàng trong tay. Con ong đă nói:

 “Từ ngày Thuỷ Hoàng lập cung A pḥng, dài rộng không kể được bao nhiêu dặm th́ đem hoa lạ cỏ thơm mà trồng khắp. Hoa đă đẹp th́ mật ong càng chứa nhiều chất hậu mật. Nên chi trong các tổ ong, chất hậu mật dồi dào, thừa số cầu, chứa lâu không dùng, th́ mất chất quí của nó. Nhờ ơn tiên nương cứu tử tôi có đến các tổ mà hỏi vay đến các phong hậu, ít nhiều hậu mật để đủ lượng mà cung cấp cho tiên nương. Đàn ong đến đây, tức là đem hậu mật mà cho tôi đó! Sau nầy, nhà vua có hỏi thuốc trường sanh, th́ tiên nương hăy đem ly mật đó mà dâng. Nhà vua không dám dùng, th́ tiên nương t́nh nguyện mà uống để thí nghiệm. Tiên nương chỉ đóng cửa mà ngủ ba ngày ba đêm, th́ sẽ có hoàn toàn công hiệu…"

Ngày thứ hai Vô Diệm theo cha vào chầu, triều bái tung hô xong rồi th́ Thuỷ Hoàng ra lệnh gọi Vô Diệm đến qú trước sân chầu mà hỏi:

"Khanh có biết vị đạo sĩ biết vời tiên đến phải không? Nếu quả như vậy khanh hăy giới thiệu cho trẫm biết. Trẫm tứ hôn ngay cho khanh, y như theo lời xin của cha khanh."

Vô Diệm tâu:

"Thần thiếp vô phúc, mà chẳng có nhan sắc, lại thầm yêu vị đạo sĩ ấy. Nếu thiên tử tứ hôn, ấy là ban phúc lớn cho thiếp, v́ thiếp sẽ nhờ chàng vời tiên đến mà biến h́nh cải dạng cho thiếp thành tiên và hoá ra bất tử nữa! Vị đạo sĩ ấy đang ở tại nhà cha thiếp, họ Từ tên Phước đó. Chính thiếp đă chứng kiến thấy rơ chàng vời tiên đến, lại khiến tiên múa, hát, ngâm thơ."

Thuỷ Hoàng sai sứ đem kiệu vời Từ Phước đến ngay; khi chàng tung hô xong xa, th́ Thuỷ Hoàng hỏi:

"Khanh có phép vời tiên đến được phải không?"

"Tâu bệ hạ, việc vời tiên đến, th́ quả thật là có. Nhưng tiên đa đoan, không phải lúc nào cũng vời đến được, hay có thể vời bất cứ hạng nào cũng được. Bần đạo, nếu cần th́ phải đi t́m tiên mà hỏi. Gần hay xa, là tuỳ theo muốn hỏi vị tiên nào, tức là tuỳ câu hỏi vậy."

"Trẫm muốn nhờ khanh t́m tiên để cầu thuốc trường sanh, phỏng có được không?"

"Thuốc trường sanh không phải dễ t́m. Nhưng nếu bệ hạ muốn dùng, hà tất phải nhọc. Trước đây, tiên có ban cho bần đạo một ly thuốc trường sanh, chỉ đủ cho một người như chúng ta uống vào, th́ hoá ngay ra tiên, thành trường sanh bất tử. Ly thuốc ấy, bần đạo chưa dùng, c̣n gởi cho Vị tiểu thơ cất giữ giùm. Xin bệ hạ cho hỏi Vị tiểu thơ để coi ly thuốc trường sanh hăy c̣n chăng?"

Tần Thuỷ Hoàng gọi Vô Diệm hỏi:

"Tiểu thơ có cất ly thuốc trường sanh chăng?"

"Tâu bệ hạ có! Xin cho thần thiếp về đem lại ngay."

Nàng lên kiệu về, trong một khắc đem lại ly thuỷ tinh đầy mật, quí mà dâng, và tâu rằng:

"Đây là ly thuốc trường sanh, xin kính dâng bệ hạ."

Thuỷ Hoàng vừa muốn ra lịnh thâu nạp, th́ thừa tướng Lư Tư qú xuống tâu rằng:

"Xin bệ hạ chớ vội. Phỏng đạo sĩ và Vị tiểu thơ toa rập mà dưng thuốc độc cho bệ hạ, th́ giang sơn nầy sẽ ra sao?"

Thuỷ Hoàng nổi giận, truyền dẫn Từ Phước, Vị Vô Kỵ và Vị Lệ Tiên ra pháp trường chém ngay. Lệ Tiên qú lạy tâu rằng:

"Trước khi chịu tội chết, xin bệ hạ nghe thần thiếp tâu. Bệ hạ chưa biết ly thuốc này là ly thuốc độc hay ly thuốc trường sanh. Vậy xin bệ hạ cho thần thiếp uống ngay giữa triều. Thuốc trong ba ngày sẽ có công hiệu. Nếu là thuốc độc, thần thiếp chết rồi, bệ hạ hành quyết cha thiếp và Từ Phước sau cũng không muộn. C̣n nếu quả là thuốc tiên, th́ vợ chồng thiếp t́nh nguyện đi cầu tiên mà xin thuốc khác cho bệ hạ dùng."

Thuỷ Hoàng nghe tâu có lư, truyền giao ly mật cho Vô Diệm uống hết, lại gọi Từ Phước mà an ủi:

"Nay trẫm tứ hôn cho khanh và tiểu thơ. Việc bất thành th́ vợ chồng chịu chung chết. May mà vị tiểu thơ cởi lốt thành tiên, th́ ta sẽ cho hai vợ chồng cùng đi t́m tiên mà xin hai phần thuốc nữa. Để ta cùng ngươi cùng uống, đặng đồng cởi lốt thành tiên, đồng hưởng phú quí đời đời kiếp kiếp."

Măn chầu Từ Phước buồn bực hết sức, ăn ngủ không an. Phần bị bắt buộc làm chồng của một nàng thô kệch, xấu xí, phần lo rằng thuốc không công hiệu. C̣n tiểu thơ th́ khoá chặt pḥng, ngủ thiêm thiếp, chẳng nghe cựa quậy.

Vừa dứt ngày thứ ba, th́ một bầy ong như cũ, đem lại cho chàng một bức thơ như lần trước. Thơ rằng:

"Thưa công tử,

Công việc đă thành. Vị tiểu thơ đă cởi lốt thành tiên. Nhưng hai vợ chồng phải t́m kế mà thoát thân. Ở lại, mang hoạ lớn với tay bạo ngược. Mà dâng thuốc trường sanh cho giống ác, th́ công tử đời đời kiếp kiếp, sẽ bị nguyền rủa của dân chúng bị áp bức và lầm than!

Vậy nên thừa lúc nó mong mỏi thuốc trường sanh, mà đ̣i mười chiếc thuyền lớn, năm trăm gái đẹp, năm trăm trai tơ khoẻ, các thợ khéo đủ nghề, hột giống đủ thứ của báu, gấm vóc đủ thức gọi là lễ cầu thuốc tiên. Rồi ra Đông Hải, nhắm mặt trời mọc mà đi hoài, sẽ có chỗ gởi thân."

Đến ngày thứ ba, Vị Vô Kỵ, Vị Lệ Tiên và Từ Phước đồng đi vào chầu. Thuỷ Hoàng gọi Lệ Tiên nàng thoát màn kiệu, bước ra sân chầu, th́ quả nhiên là một tuyệt sắc giai nhân, ngực vung, lưng eo như lưng ong, mông tṛn, chân dài, tay dịu, mặt như tranh vẽ, mày liễu, mắt ngời. Ba ngàn cung nữ trong A pḥng không ai sánh kịp, Tần Thuỷ Hoàng đă muốn đổi ư.

Từ Phước qú tâu để tŕnh bày chương tŕnh vượt Đông Hải t́m hiểu. Không quên nhắc rằng Thuỷ Hoàng có thể cầu được thứ thuốc để biến thêm người đẹp hơn Vị tiểu thư nữa… Thuỷ Hoàng y tấu, truyền chọn đúng tất cả các món đă kể. C̣n đưa thêm nhiều món quí để cầu xin nhiều thuốc, hầu luôn dịp cải ít người cung nữ thành tiên một thể. Trong vài ngày dự bị xong xuôi, vợ chồng Từ Phước xuống thuyền. Mười chiếc thuyền, một buổi tinh sương, tiến nhẹ trên biển đông êm lặng. Vừng thái dương vừa ló dạng, nhuộm màu tươi cho nền trời… Để Thuỷ Hoàng vị độc tài khét tiếng của thời xưa ở lại lănh cái số phận thối tha là chết sinh trên đường từ Sa Châu về Hàm Dương, trên xe chở quan tài lại chở thêm cá ươn cho tiệp mùi hôi.

 

7 - Ngày chót của một nữ sứ quân

Ở vào thời loạn ly, quần hùng tranh khởi mỗi nơi, và xưng làm sứ quân. Hà Tranh, sứ quân ở một xứ nọ bị tuỳ tướng là Đặng Huy giết đi mà đoạt tất cả binh quyền. Hà Mai là con gái Hà Tranh bị ép làm thiếp. Nàng không chịu, chờ cái chết.

Lưu Hổ, một thầy thuốc ở miền thượng du xuống, xúi nàng hăy tạm ưng đi, rồi sau sẽ t́m cách thuốc chết Đặng Huy và gia đ́nh đoạt lại sự nghiệp của cha. Riêng Lưu Hổ hy vọng sau nầy sẽ làm chồng của Hà Mai và làm chủ một cơi. Kế nầy thành nhưng Hà Mai lại có chí hiên ngang, gạt Hổ qua một bên, tự ḿnh làm sứ quân.

Hổ giận oán t́m con gái của Đặng Huy c̣n sống sót mà xúi dục báo thù.

Nàng Đặng Liên v́ sức yếu, v́ không thề gần vị nữ sứ quân mà hành thích, bèn lập kế t́m anh là Đặng Huệ đang tu luyện ở một ngôi chùa miền rừng núi dùng đủ lời lẽ xúi anh báo thù. Khi Huệ đă xiêu ḷng, Liên bày kế giục anh đến gần Mai mà giảng đạo, làm cho Mai mê, rồi chiếm quả tim của Mai, sau sẽ thuốc chết Mai mà đoạt lại ngôi sứ quân cùng trả thù cha.

Kế nầy thi hành được phân nửa th́ Mai lại biết được. Mai và Huệ lại yêu nhau nồng nàn. Mai bèn thành thực mà giải tại sao nàng phải làm như thế. Mỗi bên đă mất một người cha. Nàng lại có mang. Nếu không chấm dứt dây nhơn quá th́ thù oán biết bao giờ cho hết. Âu là để cho kết quả của t́nh yêu được ra đời.

Đàng nầy Liên thấy kế ḿnh thất bại, định giết người thù, lẫn cả người anh phản bội bèn hỏi kế nơi Hổ khiến giả vờ để có dịp ăn chung mà thuốc chết cặp vợ chồng ấy đi.

Có người hay được báo cho Mai. Mai gọi Liên đến Liên thú nhận. Mai thành thật tha tội cho và chọn ngày mở tiệc đoàn viên. Bộ hạ của Mai khuyên gián không được bèn định với nhau toan thuốc chết tiêu đi cho rồi.

Trong tiệc đoàn viên, hai vợ chồng sứ quân và em là Liên cùng ăn. Giữa tiệc, mọi người đều thấy rằng ḿnh đă sắp chết không cứu được… Quân do thám vào báo. Đạo quân hùng hậu của Đinh Bộ Lĩnh tràn đến. Mai và Huệ cùng nói:

 “Sức của một số ít người không thể dứt được sợi dây nhân quả của tiền cừu hậu hậu mà nguyên nhân đầu tiên là sự tranh giành ngôi sứ quân này, nay âu cho nó dứt bằng cách hàng đầu Đinh Tiên Hoàng đế vậy.”

 (Ánh Sáng, số 234, ngày 12-12-1948)

 

8 - Nàng mọt sách

Ngày xưa…

Ở đất Hậu Xuyên có chàng học tṛ nọ, họ Hồ, tên Lân Trinh, tự là Khổng cưu. Lân Trinh vốn nhà nghèo, nên lúc nhỏ, vừa học biết chữ, th́ sang học nghề, chớ chưa được theo đ̣i thơ phú. Chàng thấy những bạn cùng trang lứa vịnh hoa, thưởng nguyệt, uống rượu, rung đùi, th́ cũng biết thèm thuồng. Song nghĩ rằng: Những thú đắt tiền nầy chưa phải để cho ḿnh, âu là nhịn vậy. Chừng nào đánh đuổi được con ma nghèo đang quấn quít bên lưng, chừng ấy hăy thưởng thức văn chương, cũng chẳng muộn đó!

Cho hay, trời ít chiều người. Khi Lân Trinh dành dụm được một món tiền, toan đến tỉnh thành mua văn thơ để đọc, th́ giặc giă nổi lên, đốt thành, phá xóm. Chàng phải trốn tránh, bỏ xứ, đến ở ngụ một vùng sơn cước rất quê mùa, nơi tư am của một vị lăo đạo sĩ. Ngày, ngày, đạo sĩ chỉ lo việc dưỡng thần, nuôi khí, luyện đơn không ưa tṛ chuyện nên Lân Trinh kéo dài một đời chán phèo, cách khoảng bằng những việc trồng khoai, tỉa bắp. Một hôm, khi dọn am cho sạch sẽ, chàng lượm được trong xó một quyển sách xưa. Mừng như được vật báu, chàng giở ra xem, th́ than ôi, không có một trang nào là c̣n nguyên cả. Và có một con hai đuôi đương vội vă len ḿnh vào giữa những tờ sách để trốn.

Giận lắm, chàng lấy ngón tay đè lên con hai đuôi. Chỉ nhấn mạnh một cái, th́ con vật ấy nát ngớ… Chàng nói:

"À, té ra mi đă đục khoét những tờ sách quí nầy. Để ta giết mi, mà phạt cái tội ấy."

Nhưng đă nói được, th́ hơi giận hạ xuống, trí chàng sáng lại, và nghĩ:

"Ta bảo nó có tội, nhưng mà tội ǵ? Cắn giấy ăn sách để sống, th́ nó cũng như ta ăn cơm để sống; mà có ai bắt tội ta ăn cơm?..."

Nghĩ thấy ḿnh vô lư, chàng giơ tay lên, thả cho con hai đuôi lẩn trốn giữa hai tờ sách. Rồi, tiếc của quí, chàng t́m đọc chữ được, chữ mất, trang có, trang không. Đọc măi, mắt hoa, trí mệt, mà không hiểu chi cả. Chàng mới dựa cột, gấp sách lại để nghỉ…

Bỗng nhiên, chàng phải giựt ḿnh, choá mắt v́ những tia sáng phóng về hướng chàng. Lân Trinh nh́n kỹ, th́ từ ngoài sân bước vào một thiếu nữ, mặc áo dài tha thướt, bằng một thứ lụa ngời như bạc, phản chiếu ánh sáng nên lấp lánh như kim cương. Nàng bước tới nhẹ nhẹ, vạt áo sau kéo dài. Lân Trinh nh́n thấy vạt áo có hai tà c̣n lê thê tận ngoài băi cỏ, không khác chi các thứ áo lễ phục của những bà hoàng ở Tây phương. Chàng đứng dậy vái chào. Thiếu nữ mủm mỉm cười duyên, gật đầu đáp lễ và thưa:

"Thấy chàng cô độc, cùng ở với lăo đạo sĩ mà không được mấy khi hầu chuyện, t́m làm bạn với sách vở lại không nên việc, thiếp đường đột đến luận chuyện thơ văn với chàng, gọi để đền chút ơn riêng. Chẳng hay chàng có vui ḷng chăng?"

Lân Trinh vốn là một thơ sinh chưa từng có dịp nói chuyện thân mật với một trang gái đẹp nên luống cuống và ấp úng hỏi:

"Chẳng hay nàng là ai, có họ hàng chi với lăo đạo sĩ chăng?"

Thiếu nữ đáp:

"Chàng hỏi như vậy rất chí lư. Vậy xin nghe thiếp thuật chuyện sau đây."

Ngày xưa, trên Thiên Đ́nh, luôn mấy năm, những táo quân về chầu Ngọc Hoàng đều dâng sớ tâu rằng: Dưới trần thế không có việc chi cả. Ngọc Hoàng lấy làm lạ sao loài người th́nh ĺnh lại ngoan như thế; bèn sai Thái Bạch Kim Tinh xuống trần xem xét, coi sự thể do đâu.

Sau khi xem xét xong rồi, vị tiên ấy về tâu lại rằng:

"Sở dĩ loài người ngoan ngoăn thế nầy, ấy bởi họ đương trải qua một hồi ‘văn trị’. Họ không mê say việc chiến đấu, giết lẫn nhau; họ không thèm nghĩ đến việc hại nhau, lừa nhau…"

Ngọc Hoàng nghe tâu đến đó, ngạc nhiên hỏi:

"Thế th́ họ không tuân theo luật của Tạo hoá đặt để cho là: ‘Cạnh tranh sanh tồn’, ‘Ưu thắng liệt hại’, nữa sao?"

Thái Bạch Kim Tinh đáp:

"Tâu Ngọc Đế, điều ấy tôi không dám dự đoán về tương lai. Song xét hiện t́nh, tôi thấy họ chỉ thích ngâm thơ mà rung đùi, đọc sách mà đánh chén… và quên luật tranh đấu của Tạo hoá."

Ngọc Hoàng hỏi:

"Sách là cái ǵ, mà chúng nó đọc phải mê, quên cái luật vĩ đại của Tạo hoá?"

Thái Bạch Kim Tinh thưa:

"Tiên, Phật chúng ta là người của thời thái cổ, bởi dày công tu luyện, mà đă sớm thành chánh quả. Bởi sớm thành chánh quả, nên chưa chứng kiến được những việc phát kiến sau nầy của loài người, do một ḷng muốn vô biên. Ấy là ḷng cố gắng t́m ṭi để sáng chế vật nầy món nọ, hầu đoạt quyền của con Tạo. Ḷng cố gắng ấy do óc tranh đấu kích thích. Tranh đấu lẫn nhau chưa đă, họ c̣n muốn thi đua với Tạo vật nữa… V́ vậy mà suốt một quảng hạ ngươn, hai mươi bảy ngàn năm, họ giết chóc lẫn nhau, chuyên lấy vơ mà trị nhau, làm mồi cho Quỷ vương cám dỗ, thoát xác, th́ sa xuống Diêm đ́nh, bị phán xét rồi, th́ chịu những h́nh phạt của Địa ngục.

Trong khi ‘Cạnh tranh sanh tồn’, ‘Ưu thắng liệt bại’, kẻ nào có khi giới lợi hại hơn th́ hơn. Mà cái khi giới siêu đẳng lại là thứ ‘khí giới để chế tất cả khí giới khác’: Ấy là trí óc. Trí óc của loài người đă giành đoạt không biết bao nhiêu bí mật của vũ trụ, lại sáng chế lắm thứ, mà con Tạo chưa thể chế ra. Thế nên, để ghi chép bao nhiêu thành tích nầy, trí óc loài người bày ra văn tự, vừa là cái kho tàng để chứa bao nhiêu phát kiến, vừa là một lợi khí sắc bén để tranh đấu lẫn nhau.

Hướng theo chiều của tranh đấu, th́ văn tự là một thứ khí giới lợi hại hơn tất cả khí giới khác. Mà thỉnh thoảng, khi nào không có dịp chiến đấu, một đôi kẻ nh́n trở vô tâm t́nh ḿnh, họ thấy có cái ǵ hay hay, đẹp đẹp. Họ cũng mượn văn tự mà ghi lấy, gọi là Thơ. Thơ có thể làm cho loài người mê say, mê hơn mê gái đẹp. Rồi ca lên măi, tụng lên măi. Thơ lại chiều ḷng người, hiện h́nh ra, đến cùng người, đem lại quyến luyến. Một tôn giáo mới xuất hiện, mà giáo chủ là Nàng Thơ. Kẻ tín đồ của tôn giáo nầy cũng say mê, khổ hạnh, hi sinh, tử đạo. Và thỉnh thoảng cũng có kẻ đắc đạo. Và khi đắc đạo rồi không sa xuống Địa ngục, chẳng sang Tây phương chầu Phật, chẳng đến Bồng Lai mà thành Tiên. Kẻ đắc đạo nầy về một cơi riêng gọi là Tao Đàn, do Nữ hoàng là Nàng Thơ làm giáo chủ.

Quỷ ở Diêm cung khó gặp. Đạo sĩ phải dày công tu luyện lắm, mới ra mắt được Tiên. Tu sĩ phải khổ hạnh mấy chục kiếp mới mong tao ngộ Phật. C̣n những vị đắc đạo của tôn giáo nầy, những vị mà tín đồ của họ tặng gọi là Thi sĩ, lại dễ cầu khẩn, mà đến ngay. Họ cũng dễ thoát xác, mà thành trường sanh bất tử. Nhưng mà khi họ c̣n tu luyện, mỗi vị đều để lại những phù chú riêng ḿnh, ghi lại trong những thứ gọi là sách. Muốn cầu họ đến, tín đồ chỉ có việc giở sách ra, mà đọc lại những lời phù chú ấy. Lập tức các vị trường sanh bất tử kia đến ngay mà đàm đạo thân mật với tín đồ. Kẻ thấp tu, th́ chỉ nghe họ thuyết pháp. Người bắt đầu vào đường đạo, th́ được tự do thảo luận, biện bác tuỳ nghi. Rồi khi giáo chủ là Nàng Thơ điểm đạo cho, th́ người ấy cũng có thể thành Thi sĩ, ghi phù chú vào sách, để đời sau truyền tụng thành ra bất tử, lên cơi Tao đàn.”

Ngọc Hoàng nghe báo cáo, suy nghĩ giây lâu, rồi phán rằng:

 “Thứ tôn giáo nầy, tu dễ đắc đạo, có thể nào bị Quỷ vương len vào cám dỗ tín đồ chăng?”

Thái Bạch Kim Tinh tâu rằng:

 “Thưa Ngọc Đế, thỉnh thoảng cũng có kẻ bị Quỷ vương cám dỗ, dùng lời thơ mà ca tụng sự giết chóc, dùng hồn thơ mà phụng sự cho lẽ tà.”

 “Thế th́, Thiên Bồng Nguyên Soái, mau xây dựng một viện tàng thơ cho to rộng; các Thiên thần mau đi khắp trần giới sưu tầm tất cả những tập kinh của tôn giáo ấy đă có từ bao giờ; và đặt luật nạp bản để về sau, mỗi Thi sĩ mới đều phải cung cấp cho Thiên đ́nh bản nạp để làm dấu tích. Trước là để Thiên đ́nh khảo dượt xem tôn giáo ấy phải chăng là một chính giáo hay là một tà giáo? Sau để Tiên, Phật có thể có đủ thứ sách mà đọc. Chẳng lẽ người phàm ô trược, lại được hưởng thụ đọc sách, c̣n bực dày công tu luyện lại chẳng được hưởng thú ấy sao? Và cũng chẳng lẽ, khi Tiên Phật muốn đọc sách, lại phải xuống trần gian, chịu luật đấu tranh, ngụp lặn trong biển khổ, mới được đọc sách? Như vậy, Bồng Lai và Niết Bàn sẽ tẻ lạnh, nếu ta cho Tiên Phật tự do mà xuống trần đọc sách. C̣n nếu ta sợ Tiên Phật cạm vào mùi tục luỵ mà ngăn cấm, th́ Thiên đ́nh sẽ loạn mất đi! Bởi cái lư dễ hiểu rằng Tiên Phật cố t́nh làm vi pháp để được, nghe rơ chưa, để được bị đày xuống trần gian… mà đọc sách!”

Cách đó không bao lâu, Ngọc Hoàng gọi Tiên Dung công chúa, là gái út, đến mà dạy rằng:

 “Ngày nay ngày khánh thành viện tàng thơ, các bác Phật, các chú Tiên của con đều đến đủ mặt để dự lễ. Con hăy sớm sang bên đó, dọn sẵn đào trường sanh nơi sảnh đường, chưng tất cả những chè tiên tửu cho ấm để đăi khách.”

Tiên Dung công chúa nghe lời cha, đă thấy vui ḷng rồi, thêm khắp khởi mừng, v́ được chứng kiến một lễ có mời đủ Phật, Tiên, một lễ chưa từng có trên Thiên đ́nh.

Đúng giờ, tường vân bao phủ khắp, hào quang muôn sắc chọc thủng nóc trời, bắn tia ngoài càn khôn, rọi khắp ta bà thế giới. Từng chập, đàn bạc do các vị Tiên cỡi đến, kết thành những ca vũ đoàn thiên nhiên, múa hát tưng bừng; tiếng nhạc trong trầm bổng ngân, len lỏi khắp mọi nơi, làm cho lũ Ngạ quỷ bị trừng phạt ở Diêm đ́nh nghe mà mê say, quên cả đau khổ của tra tấn. Vừng Thái Dương nghe nhạc, dừng lại trên đường nghiêng tai nghe, rồi nhảy múa theo nhịp. C̣n vừng trăng, năy giờ bỏ trống bởi chị Hằng Nga được mời dự lễ bây giờ nghe nhạc, trở nên lững lờ, như say v́ nhạc, như mê v́ âm. Rồi mùi hương sen, do các hoa sen chư Phật ngự đến, xông lên như thuỷ ba giợn sóng, làm cho vạn vật ngửi lấy mà tự nhiên thoi thóp thở; đồi núi được luồng sóng ấy gởi vào, chỗi dậy, nghiêng tai nghe, suối thác th́ thầm nói chuyện với nhau, ca ngợi mùi hương lạ chưa hề ngửi được…

Nơi sảnh đường, đủ mặt chư Tiên, chư Phật, Ngọc Hoàng ra lệnh gọi Tiên Dung công chúa dâng tiên tửu chưng ấm, để làm lễ khai mạc cuộc khánh thành tàng thơ nầy. Nghe lịnh, Tiên Dung công chúa rụt rè tiến đến trước Vua cha, mọp xuống, mặt biến sắc, thất thần, chỉ nói được câu:

 “Con xin chịu tội!”

Chư Tiên, chư Phật đều làm lạ sao buổi lễ long trọng dường này, lại là một toà án đặc biệt để cho Ngọc Hoàng xử tội đứa con gái cưng của ḿnh. Cả thảy đều nh́n vào Đức Phật Di Lạc, như nhờ người hỏi tại sao có việc lạ vậy? Không dè chính Ngọc Hoàng cũng lấy làm lạ, mà nhẹ nhàng hỏi con:

 “Sao con không bưng rượu chưng, lên để đăi khách, mà lại xin tội? Tội ǵ?”

 “Tội con thiếu nữ công, nữ hạnh…”

Ngọc Hoàng, chư Phật, chư Tiên nghe Tiên Dung công chúa tâu đến đó, dường như nghe sét đánh bên tai. Tất cả muốn hiểu v́ sao vị công chúa ngoan ngoăn như thế kia lại phạm vào trọng tội nọ. Th́ công chúa tâu tiếp:

 “Bởi v́ con đă lỡ ṭ ṃ, muốn biết trước lư do của cuộc lễ long trọng này. Nên con đă để tất cả rượu lên lửa, rồi con lẻn vào tàng thơ coi nơi ấy có ǵ. Con thấy chồng chất đầy trên ngăn, những vật giống nhau, đưa gáy ra ngoài, trên gáy có chữ vàng. Không biết là vật ǵ.”

Tâu đến đây, dường như cảm xúc, Tiên Dung công chúa tức tưởi khóc. Đức Di Lạc thấy vậy động ḷng thương hỏi:

 “Tại sao cháu lại khóc?”

Tiên Dung công chúa thưa:

 “Phải chi con là gái trần tục quê mùa, th́ có lẽ con không đến đổi phạm trọng tội nầy. Nhưng bởi con là Tiên, không học cũng biết, nên con ṭ ṃ lấy ra một mà xem. Th́ giữa hai cái b́a cứng, dính nhau bởi một cái gáy bằng da, lại có những tờ mỏng chi chít chữ là chữ. Bởi không học mà biết đọc, nên con đọc thử xem trong ấy nói ǵ, th́ dường như có người hiện ra, kể chuyện cho con nghe vậy.”

Tiên Phật nghe thuật, liền hiểu ngay rằng chính Ngọc Hoàng vừa chứa được một kho tàng vô tận những bửu bối. Lấy một món, không cần niệm chú, đọc phù, chỉ giở ra, th́ hiện ngay một đấng, đàm đạo với ḿnh. Và khi đă được một kho tàng bửu bối như vầy, làm lễ trọng, mời đủ chư Tiên, chư Phật đến dự một cuộc khánh thành là phải lắm.

Tiên Dung công chúa tâu tiếp:

 “Ban đầu con phát sợ, v́ nơi vắng vẻ, th́nh ĺnh có người đến nói chuyện với ḿnh. Nên con xếp để vào chỗ cũ, chạy trở về, coi chừng lửa mà chưng rượu. Nhưng có một sức ǵ quyến rũ, nhịn không được, con trở lại tàng thơ, lấy bất cứ món nào, giở ra xem, th́ tức khắc nghe tiếng người hiện đến mà kể chuyện. Và chuyện nào khởi đầu nghe cũng lư thú cả. Con nói rằng khởi đầu chuyện, v́ con không dám đọc nốt, xem sơ vài tờ, rồi trở lại coi chừng làm rượu.”

Tiên Dung công chúa tâu đến đây, lại ngập ngừng, rồi dừng lại không dám nói tiếp. Các vị Phật Tiên khuyên:

 “Con cứ thuật, sẵn đủ mặt tại đây, chúng ta sẽ cứu rỗi cho con.”

Nghe khuyên, Tiên Dung công chúa kể:

 “Thế rồi, con bị cám dỗ, mê say, quên cả trách nhiệm. Đến chừng nghe nơi trù pḥng phát hoả, hơi nóng bốc lên, lửa phựt sáng ngời, con chợt tỉnh, chạy đến, th́ rượu chưng quá nóng, bốc thành hơi, xông lên, gặp lửa phát cháy. Cũng may mà trù pḥng cất bằng lưu ly, mă năo, xa cừ, lại có trấn ngọc tỵ hoả, nên không phát cháy theo. Nhưng con không sao cứu được mấy ché rượu tiền tửu nối nhau cháy phừng phừng, không c̣n một giọt.”

Chư Phật, chư Tiên nghe kể, ngẩn người không hiểu, sao một nàng công chúa ngoan ngoăn như Tiên Dung, lại có thể bị cám dỗ dường ấy. Riêng Ngọc Hoàng lại tự thấy thẹn. Thẹn v́ mời đủ khách quí đến, mà không c̣n một giọt rượu tiên để đăi khách. Thẹn v́ chính con gái ḿnh lại kém nữ công, nữ hạnh. Thẹn thêm v́ đứa con gái ấy thú nhận trước Phật Tiên rằng ḿnh đă bị cám dỗ. Rồi v́ gia phong, v́ để làm cho luật trời được tôn nghiêm, Ngọc Hoàng phán:

 “Trọng tội như thế này, ngươi đầu thai xuống trần mà tu luyện lại để chuộc tội.”

Tiên Dung công chúa chỉ có lạy cha mà vâng lệnh, rồi lạy mẹ, rơi luỵ, mà từ biệt.

Chư Phật, chư Tiên không dám nói thế nào, v́ tự xét một cái lỗi to như vậy, nếu không trị tội, th́ làm sao giữ được uy nghiêm của luật trời. Chỉ có Phật Di Lạc, vị Phật đang hoài băo cái mộng lớn là sửa đổi lại luật trời cho hiệp với sự tiến hoá của người, của vũ trụ, Phật Di Lạc e rằng trong việc Tiên Dung công chúa phạm tội nầy, ắt có đôi điều trắc ẩn. Ngài bèn gọi Tiên Dung công chúa đến an ủi:

 “Nay con bị đày xuống trần gian, con có mong được đầu thai làm thế nào, con cứ nói bác liệu có tâu rỗi giùm, th́ bác cố gắng.”

Tiên Dung công chúa ngập ngừng rồi thưa:

 “Nếu bác thương t́nh, con lạy bác, xin bác tâu với vua cha cho con đầu thai làm con mọi sách.”

Phật Di Lạc lấy làm lạ hỏi:

 “Tại sao con muốn đầu thai làm giống vật chỉ có ăn giấy mục, mực hôi loài người thù ghét, gặp đâu giết đó, lại đem thuốc độc mà phun vào giấy, vào hồ, để con ăn phải, th́ chết ngay?”

Tiên Dung công chúa thẹn thùng thưa:

 “Con vốn biết cái kiếp của con mọt sách là như thế. Nhưng mà trót đọc lở dở một chuyện lư thú, mà dừng nửa chừng, con tiếc không cùng. Con nguyện, khi xuống trần, t́m khắp nơi, quyển sách con đă đọc một phần, để đọc nốt cho hả dạ. Mà có giống ǵ măi măi sống bằng sách vở, ngoài ra con mọt sách?”

Nghe thuật đến đây, Lân Trinh chặn ngang hỏi:

 “Vậy th́ Tiên Dung công chúa được đầu thai làm con mọt sách à?”

 “Chính là như vậy! Nàng đă đời đời, kiếp kiếp len lỏi tất cả đủ các thơ viện, khắp tất cả tủ sách, để t́m một quyển như quyển đă được ḿnh đọc lúc c̣n ở Thiên đ́nh. Thế mà chưa gặp nên lang thang kéo dài một nghiệp ăn giấy mực, mực hôi. Và khi gặp người, th́ bị giết.”

Dừng lại một phút để nén sự cảm động, nàng nói tiếp:

 “Chỉ có một lần thôi, Tiên Dung công chúa không bị giết. Vừa bị tay đè lên ḿnh, tưởng đă nát thân, chính là chàng đă cất tay lên để dung cho mạng sống. Nên bây giờ, tôi đến đây, để đền ơn tha giết, kể lại văn thơ tôi đă được đọc cho chàng nghe. Chàng không sách mà đọc, th́ hăy nghe tôi kể chuyện. Cũng chẳng khác nào chàng được đọc sách vậy.”

 

9 - Những chuyện tiếu lâm về “quặp râu”

  • CHUYỆN ANH NHÀ QUÊ QUẶP RÂU

Ngày xưa, có hai anh nọ, Giáp và Ất, là bạn chỉ thân. Hôm nọ, Giáp đến nhà Ất chơi, thấy Ất mặt mày sưng vù, dấu cào xé c̣n rơ trên má. Thấy bạn như vầy, Giáp động ḷng, hỏi:

 “Tại sao anh ra như thế?”

 “Tại trời…”

 “Làm ǵ mà tại trời? Trời đánh th́ chết ngay, trúng xém, th́ anh cũng nám da nám mặt, đâu có những dấu cào xé như thế này?”

 “… Tại trời mưa.”

 “Trời mưa, th́ ướt ḿnh, có mưa đá đi nữa, th́ một hai dấu ném trên đầu, chớ làm sao có những dấu nọ?”

 “Anh nóng quá, để tôi kể đầu đuôi cho mà nghe. Số là, sớm mai nầy, khi đi chợ, mẹ nó có phơi cái váy nơi sào. Tôi ở nhà mê đọc tiểu thuyết, nên trời mưa mà tôi quên lấy vào. Khi mẹ nó về, thấy váy của nó ướt, nên đánh tôi ra thân thể như vầy.”

 “Hứ! Anh là thứ đàn ông hư phải gặp tôi, mà xem…”

Vừa nói đến đây, th́ Giáp nghe sau lưng ḿnh, có tiếng thứ ba chen vào:

 “… Phỏng gặp tôi, th́ đă xem cái ǵ?”

Giáp lật đật quay lại nh́n, th́ là bà Giáp đứng ngay sau lưng, và vừa hỏi câu nọ. Lanh trí, Giáp quặp râu lại và trả lời:

 “Phải gặp tôi, th́ trời vừa kéo mây, tôi đă cẩn thận lấy vô rồi.”

  • CHUYỆN NHÀ TRÍ THỨC QUẶP RÂU

Ngày xưa, có một vị vua nọ đến đỗi là anh hùng, đánh đâu thắng đó, oai danh đồn khắp các nước ngoài, trẻ con nghe nói đến tên chẳng dám khóc, quân vừa kéo đến biên giới một nước nào, th́ nước ấy đầu hàng ngay. Thấy ai nấy cũng sợ ḿnh th́ nhà vua càng khổ tâm hơn nữa.

Một hôm, người cho vời tất cả bá quan văn vơ, các bực hiền đức, các nhà trí thức đến đủ mặt tại sân chầu, rồi trang nghiêm, người đứng phán rằng:

 “Ta được tiếng là anh hùng nhưng không ai biết ḿnh cho rơ hơn chính ḿnh, ta xét ta không đủ tư cách mà lănh cái danh lớn ấy. Bởi ta cảm thấy ta c̣n biết sợ. V́ vậy, mà ta xét thấy ḿnh không xứng đáng mà ngồi nơi ngai nầy. Nay ta muốn noi gương các vua hiền đời xưa, nhường ngôi cho ai nhiều đức hạnh hơn. Nên ta cho gọi tất cả bậc hiền lương trong xứ, và hôm nay, ta mở một cuộc thi chung để t́m ra người nào là xứng đáng thay ta mà lên ngôi báu. Vậy ta ra lệnh cho tất cả tham gia vào cuộc thi nầy. Và đây là bài thi thứ nhất. Nơi sân, ta đă vạch trước một đường thẳng. Vậy cả thảy đều bước sang tay tả đi.”

Lịnh vừa truyền tất cả đều sang bên tả, Vua nói tiếp:

 “Những ai sợ vợ, th́ bước sang hữu, ai không sợ th́ đứng lại!”

Cả thảy ríu ríu bước sang qua bên hữu, chỉ chừa một lăo già quặp râu lại mà đứng nguyên chỗ cũ. Vua mừng quá, bước xuống ngai, vịn vai lăo già mà nói rằng:

 “Thật là hồng phúc của nước ta, mới được có người xứng đáng như thế này. Ta vốn có tiếng là anh hùng, nhưng trong cung, hăy c̣n sợ hoàng hậu. Nay có người, ngoài không sợ ai, trong không sợ vợ th́ xứng làm vua nước nầy biết chừng nào!”

Lăo già run bẩy bẩy tâu rằng:

“Tâu bệ hạ, thần không dám nhận.”

 “Cớ sao khi năy, ta truyền lịnh xong người chẳng bước sang bên hữu?”

 “Bởi v́ thần sợ vợ quá. Vừa nghe nói đến, th́ là hồn phi phách tán, chết đứng rồi, c̣n đi đâu nổi mà bước sang bên kia? Bệ hạ cứ xem lại râu của thần, nó quặp sát vào cổ th́ biết.”

  • CHUYỆN DIÊM VƯƠNG QUẶP RÂU

 Ngày xưa, có một chàng thi sĩ nọ dùng thơ ca ḿnh mà rung động không biết bao nhiêu trái tim non, mà chẳng để cho cô nào được diễm phúc yêu chàng. Rồi thất vọng, các cô ấy thảy liều ḿnh tự tử. Trên trần tục, chẳng có luật pháp nào trị tội giết người bằng lối đó. Nên bè bạn của chàng thi sĩ khuyên dứt chàng:

 “Anh làm vừa vừa chớ! Đă đành luật đời chưa có khoản nào buộc tội anh được. Nhưng luật trời khó thoát. Khi chết rồi, anh không sợ bị luật của Diêm đ́nh sao?”

 “Diêm đ́nh ấy à? Tôi nào có sợ thứ toà án vô hiệu lực ấy?”

Không dè lời thống mạ toà án nọ đă có kẻ ghi chép, tâu ngay với Diêm Vương. Sổ biên đă quá dài rồi, nên khi tới số, hồn chàng bị bắt xuống Diêm đ́nh. Th́ hôm ấy chín cung kia đều nghỉ việc và tất cả mười vua ở Diêm thế, tất cả quỷ dạ xoa đều hội lại thành hội đồng đề h́nh đặc biệt. Mục đích của hội đồng đề h́nh là: 1) xét coi cái tội giết người bằng t́nh yêu của chàng thi sĩ, trên trần chẳng có luật nào buộc tội, dưới âm phủ, cũng chưa lập thành điều rơ ràng, nay phải phạt bằng cách nào; 2) xử tội chàng thi sĩ nầy dám buông lời mắng toà án là vô hiệu.

Hôm ấy, Diêm chúa làm chủ toạ, các vua khác, ngồi ghế hội đồng. Bao nhiêu quỷ dạ xoa hầm hầm, chờ hô một tiếng là xốc vào, mần…

Phán quan đọc án vừa xong, th́ Diêm chúa hỏi chàng có lời ǵ để bào chữa lấy. Chàng bước tới, bộ nghinh ngang, dáng khinh khỉnh, ai thấy cũng no giận cành hông, nhưng chờ chàng nói ǵ. Chàng mở miệng:

 “Thưa dượng…”

Nghe gọi ḿnh bằng dượng, Diêm chúa sợ hăi, liền quặp râu, té xỉu. Các vua xốc lại đỡ vào hậu đường, và tạm bế mạc phiên toà. Vào trong, quạt hồi lâu, Diêm chúa mới tỉnh, th́ thấy bóng bà đi ngang qua. Vội vă, người gọi lại hỏi nhỏ nhỏ:

 “Bà có nhớ, hồi trên trần, bà có con cháu ǵ gọi bà bằng cô hay bằng d́ chăng?”

 “Ông khéo hỏi mà thôi? Bộ ông bà tôi làm ác, làm tội đến thế nào, mà tuyệt tự, cho đến đỗi tôi không c̣n con, c̣n cháu?”

Nói rồi, bà nguưt ông một cái, mà bước vào sau. Diêm chúa mừng không xiết. Cũng may mà người chết xỉu kịp, bằng không, rủi kết án nhằm con cháu của bà, (mà đích thị là con cháu của bà rồi, lại là gọi bà bằng cô hay bằng d́, nên mới kêu ḿnh bằng dượng), nếu rủi kết án con cháu bà, th́ chỉ có đường bỏ quách chức Diêm Vương nầy cho rồi mà trốn đi, chớ ở nán lại đây, th́ làm sao mà chịu bà cho nổi?

Có phải là sợ vợ, sợ tên tiếng vợ chưa phải là quá. Diêm chúa sợ lấy đến cả cháu vợ nữa chăng?

(Truyền Tin, Xuân Ất Mùi)

 

10 - Đồng bào ơi! Quả thật là đại biến

 (Kịch trào phúng)

Màn duy nhất, xảy ra tại Phan Thành, kinh đô của Nước Mắm, vào dịp Tết đầu năm Dê. Nhân vật gồm có ba ngô Dê là:

Trạng sư Tẹo,

Bác sĩ Tèo,

Chú bút Teo.

Ba cái tên Tẹo, Tèo, rồi Teo, diễn tả đúng ba quá tŕnh của một chàng Dê, vừa thấy “ đối tượng” là cô sáu Mường Mán, (C.S.M.M.) là sanh bụng Teo, tức nhiên bày lắm tṛ lung tung để… Tèo. Nhưng mà khi gặp cái “phản tượng”, th́… Teo mất.

Vậy hai nhân vật đàn bà (là cô sáu Mường Mán và bà chủ bút Teo) chỉ là nhân vật phụ mà thôi.

Tác giả kém tài sáng tác, nên nhận lỗi trước rằng chính ḿnh đă Ki Góp Jo Ć.. (xin đọc là Khi Góp Gió Kỳ… Nghĩa là người ta góp gió làm băo, c̣n khi tôi hứng thú mà góp gió kỳ lạ th́…) mà ăn cắp mấy bạn văn vài đoạn.

Vậy th́ kịch trào phúng nầy vốn là một BẢN KỊCH ĂN CẮP. Bởi chữ Hán Việt, ăn cắp th́ nói rằng “du”, th́ tác giả xin phép đặt tên bằng một “danh từ mới” là “du kịch”, và yêu cầu danh từ nầy được nêu trong bộ từ điển của bạn Vi Huyền Đắc đang khởi sự viết.

Và nếu bạn văn nào thấy ḿnh bị cóp văn, th́ viết thơ cho chúng tôi, chúng tôi xin đền tội bằng một số Văn, có đóng b́a đẹp và có đăng kịch nầy vào.

Toà soạn Văn

*

Nhà cô sáu Mường Mán, một nữ danh ca của Phan Thành, kinh đô của Nước Mắm. Cảnh trang hoàng có vẻ ăn Tết. Trên bàn bày sẵn đồ nhậu rượu… Bốn cái ghế c̣n trống.

C.S.M.M. (đứng dậy nh́n đồng hồ) – Quá giờ hẹn rồi! Mà sao mấy ổng chưa chịu lại? Tết nhứt mà bị cái điềm sai hẹn đầu năm nầy, th́ hết làm ăn ǵ nữa! (nh́n vào đồ nhậu) đă sai hẹn với người, lại sai hẹn luôn cả với đồ nhậu! Để nó lạnh hết th́ sao? Sai hẹn và sai hẹn! Mấy ông nghị tương lai nầy lôi thôi quá! Không biết rồi họ hứa với dân, họ có giữ đúng lời không? Chớ hứa với em út, th́ họ sai lời rồi đó. (Bộ tịch chán nản, ngồi phịch vào một cái ghế, ấy tờ bào mở ra.) Thôi mặc kệ họ! Trông chờ chi cho mỏi mắt? Sẵn có tờ báo VỊT CỒ Vừa gởi tới số báo Xuân và ra mắt, ta coi thử có ǵ chăng. (Lật báo, liếc sơ, chẳng buồn đọc.) Luận là luận. Thứ ấy ngán như cơm nếp mà in măi cho tốn giấy… À, có thơ, Thơ trào phúng nữa! Ngâm thử bài thơ của ông Đồ Quỷnầy xem ra sao! (ngâm)

Phen nầy quyết đầu đơn, ta ứng cử.

Ra tranh tài, làm ông nghị, thử một kỳ chơi!

Trước được danh, sau nữa để… khuấy đời.

Cùng múa mỏ, khua môi, hùng biện… đại.

Nào dèm xiểm chuyện người tin là.. phải,

Nào ngợi khen kẻ làm trái, bị .. hàm oan Nào bốc tưng mấy “sư”, mấy “lăo” làm tàng.

Nào binh vực kẻ nghinh ngang.. hiếp yếu.

Muốn chương tŕnh đủ đầy không thiếu.

Cần một bài hiệu triệu… thật chối tai.

Ra kỳ nầy quyết thay mặt bất kỳ ai..

TRẠNG SƯ TẸO, BÁC SĨ TÈO, CHỦ BÚT TEO(cùng bước ra một lượt, và cùng ngâm tiếp theo)

Nhứt là thay mặt nàng có tài ngâm vịnh…

Chữ dạy rằng “duyên do thiên định”

Tẹo, Tèo, Teo cùng một “bịnh” mới gặp nhau đây.

C.S.M.M. (nghe ngâm thơ day lại) – Dữ hôn! Tưởng nước sông Mường Mán đă lụt kéo mấy anh ra ngoài khơi rồi! Trễ ǵ mà trễ đến nửa tiếng đồng hồ?

T.S. TẸO – Đành xin lỗi em vậy! Qua phải lo viết cho xong bài diễn văn, để vài năm nữa anh đăng đàn, em biết không, anh đăng đàn ra mắt cử tri.

B.S. TÈO – Qua cũng vậy! Bởi nghe nói phái đẹp sẽ bỏ thăm, nên anh g̣ gẫm cho bài diễn văn thật là… mùi

C.B. TEO – C̣n qua đây cũng vậy. Bởi qua quen viết văn bút chiếu, mà chuyến nầy nghe nói sẽ có cử tri ở phái yếu nhiều, th́ e giọng “chiến” không hạp nữa, nên qua lo rèn luyện lối văn “bút hoà” vậy!

CẢ BA (làm bộ trịnh trọng) – Cả ba tôi xin tạ tội với người đẹp Phan Thành có giọng hát ngọt nồng như… nước mắm nhỉ.

C.S.M.M. – Thôi đừng giễu nữa, các anh. Mời các anh nhập tiệc.

C.B.TEO – Nhập th́ nhập. Nhưng đây là buổi tiệc thân mật và nồng nàn của đầu năm. Em Sáu, em hăy tuyên bố cho các anh biết lư do và mục đích của buổi tiệc nầy!

T.S. TẸO và B.S. TÈO – Phải! Phải. Anh chủ bút nói có lư lắm. Đáng là tay cầm đầu dư luận lắm! Nếu em không nói rơ ư nghĩa của bữa tiệc nầy, th́ các anh đây: chủ bút Teo, bác sĩ Tèo, trạng sư Tẹo, các anh thiếu hăng hái để xung phong bọn địch (chỉ những đồ nhậu) do món gỏi ghẹ nầy chỉ huy, và do món rượu đế nầy làm tham mưu.

C.S.M.M. – Thôi mời các anh ngồi đă (cả ba kéo ghế ngồi) các anh đă hỏi, th́ em xin thưa. Lư do là mừng trước ba anh sắp làm nghị sĩ của Nước Mắm. C̣n mục đích là nhắc cho các anh nhớ rằng, khi đă công thành danh toại, phỉ chí rồng mây, th́ các anh đừng quên em. Để cho em được chút thơm lây đó mà!

CẢ BA – (vỗ tay) Hoan nghinh em Sáu. Em chớ lo.

C.B. TEO – Dân đen kia, lầm than đói khổ, tiều tuỵ, xanh xao kia đă bị nạn nước lụt mà không cơm ăn, thêm bị nạn lửa cháy mà không nhà ở, mà chúng anh c̣n không quên thay! Th́ có lư nào lại quên được một người mặt hoa da phấn, hàng lụa bọc ḿnh, ngọc vàng lấp lánh như em. Huống chi em c̣n là con chim hoạ mi, thinh sắc lưỡng toàn của kinh đô Nước Mắm?

C.S.M.M. – Các anh khen quá lời. Em cám ơn đấy! Và để đánh dấu lời hứa hẹn, mà em mong rằng ba anh giữ, chớ không quên như lời các ông ứng cử hứa với cử tri, em mời ba anh nâng ly rượu! (bốn người nâng ly rượu)

C.B. TEO – Chỉ c̣n thiếu mỗi người nhỏ một giọt máu vào rượu, hoà lại, chia nhau mà uống, th́ bữa tiệc nầy có khác nào, đời Đông Châu Liệt quốc, những lễ hội, chư hầu uống máu ăn thề.

C.S.M.M. – Và em là vị thiên tử nhà Châu. Ai pḥ được em, th́ được làm bá chủ: (cả thảy cười, cụng ly uống rượu) Mà nầy, ba anh có đứng chung một số không?

CẢ BA – Không.

C.S.M.M. – C̣n đợi ǵ mà không đứng chung một sổ cho dễ cổ động? Em nghĩ thành phố ḿnh chỉ có ba anh là bực anh tài, “một ḷng v́ dân (dân đen), v́ nước (nước mắm)” Th́ đừng chung một sổ cho nó mạnh. Trước để cho đồng bào khỏi hoang mang. Kế đến, em bước ra sân khấu, hát để cổ động, th́ chẳng lẽ đỡ đầu anh nầy mà phụ t́nh anh kia? Chung một sổ, th́ em dễ ủng hộ. MỘT CÂY LÀM CHẲNG NÊN NON…

CẢ BA – (đồng đứng dậy, hoan nghinh) Ba anh chung sổ, th́ c̣n… sổ nào hơn.

C.S.M.M. – Chi lư vậy thay. Sẵn hứng, các anh hăy chọn một cái tên cho đầy ư nghĩa.

B.S. TÈO. – Để tôi đặt tên cho, Tánh tôi mau mắn lắm! Gặp bịnh, tay bắt mạch, tay viết toa. Bất cứ bịnh ǵ. Tánh tôi mau lắm.

C.S.M.M. – Th́ anh đặt tên cho!

B.S. TÈO – Tôi đặt tên cho sổ chúng ta là sổ “Sức khoẻ mới”

C.S.M.M. – Thật là tuyệt: Nghe đến tên sổ, người ta đă thấy ngay các anh sẽ truyền bá vệ sinh và tân y học, sẽ gây đời sống mới, sẽ lo sức khoẻ của dân nghèo. Dân đă có sức khoẻ mới th́ dân sẽ mạnh. Dân đă mạnh, th́ lo ǵ mà nước không giàu?

T.S. TẸO – Nhưng tôi c̣n có ư kiến này, cô Sáu. Nước ḿnh là Nước Mắm. Dân ḿnh th́ thích, Vị tất dân nước ngoài đă ưa? Bởi v́ mùi nước mắm hăng lỗ mũi họ, họ khó chịu. Bây giờ tôi đặt tên sổ ta là sổ “Nước Mắm mới”.

C.S.M.M. – Thật là tuyệt nữa. Đó là một khẩu hiệu, một con đường. Dân ta cố gắng theo sản xuất một thứ nước mắm vừa hạp với sở thích của người trong nước, vừa xuất cảng ra ngoài được cả thế giới hoan nghinh. Trong có hậu thuẫn nhân dân. Ngoài có lập trường quốc tế, lo ǵ mà nước chẳng giàu, dân chẳng mạnh?

C.B. TEO. – Em Sáu thật là hùng biện. Nhưng xin lỗi hai anh, bởi các nghề của tôi là nghề làm báo, nên tôi rơ tâm lư của công chúng lắm. Tên ḿnh đặt có ư nghĩa lắm…

B.S. TÈO và T.S. TẸO – Ư nghĩa lắm!

C.B. TEO – Đọc lên nghe kêu lắm…

B.S. TÈO và T.S.TẸO – Nghe kêu lắm!

C.B. TEO. – Ấy thế! Chính la tên có ư nghĩa đọc lên nghe kêu là hai cái nguyên nhân làm cho ḿnh mất thăm. Bởi công chúng Nước Mắm nầy kỳ lạ lắm. Không quảng cáo, họ c̣n để ư. Hễ quảng cáo nhiều, th́ họ phát nghi.

C.S.M.M., B.S. TÈO và T.S. TẸO - Ừ nhỉ!

C.B. TEO. – Trong dịp tuyển cử nầy, cốt yếu à đắc cử.

CẢ BA NGƯỜI KIA – Đúng đấy.

C.B. TEO, - Vậy không nên lấy cái thế “ư nghĩa” không nên lấy cái thế “nghe kêu”, mà chính là ta hăy lấy cái thế “cử tri”, th́ việc mới thành.

BA NGƯỜI KIA. – Chỉ cần có “thế” ấy thôi.

C.B. TEO. – Mà cử tri chỉ sợ có một điều, là khi đắc cử rồi th́ ḿnh phủi áo.

BA NGƯỜI KIA. - Ừ nhỉ!

C.B. TEO. – Thế nên, phỏng theo tâm lư quần chúng, tôi xin đặt tên cho sổ ḿnh là “chẳng quên ai!”

C.S.M.M. – Tuyệt diệu! Tuyệt diệu! Nhứt là ba anh cùng long trọng tuyên bố như vậy… Nghĩa là cũng chẳng quên em!

T.S. TẸO và B.S. TÈO – Đặt tên như vậy thật là nhă ngọc phun châu. Hai tôi (cùng đứng dậy một lượt nâng ly lên) bằng ḷng “chẳng quên ai”. (cả thẩy đứng dậy, cụng ly uống.)

C.S.M.M. – Ba anh ơi! Không được!

CẢ BA. – Cái ǵ mà không được?

C.S.M.M. – Ta lựa cái tên thật tốt. Không khác nào đưa ra một chai có dán một cái nhăn hiệu rất mê hồn. Nhưng mà…

CẢ BA – Nhưng mà cái ǵ?

C.S.M.M. – Nhưng mà sợ e cử tri thấy trong chai trống không, th́ ai mua chi cái chai không?

CẢ BA – Phải. Vậy ta cần phải thảo ngay một bản chương tŕnh thật hay… (ho luôn ba bốn tiếng)

C.S.M.M. – Mau mau ta thảo chương tŕnh đi!

B.S. TÈO. – Tôi chuyên môn (đưa hai tay làm như tiêm thật) tiêm chích. Vậy xin nhường lại cho hai anh. Kẻ có tài ăn nói (chỉ T.S) người múa bút như phụng múa rồng bay. (chỉ C.B)

T.S. TẸO – Nghề của tôi là (le lưỡi ra) uốn ba tấc lưỡi. Khi ra tranh cử, nhảy lên diễn đàn, tôi sẽ không sợ ai. C̣n việc bút sa (chỉ mấy món nhậu)… gà chết nầy, th́ hôm nay, gà đă chết rồi, âu là bút sa đi vậy!

C.B. TẸO. – Thảo chương tŕnh, th́ phần nầy vậy. Nhưng mà khi công thành danh toại rồi (nh́n C.S.M.M.), th́ tất nhiên “chẳng quên ai!”

CẢ BA NGƯỜI KHÁC. – Hoan nghinh! Hoan nghinh triệt để! Triệt để hoanh nghinh!

C.S.M.M. – (Bưng các chén đĩa đă hết món nhậu rồi). Vâng! Tôi xin “triệt” các chén đĩa nầy… (bước vào trong cất rồi đem ra giấy bút)… “để hoan nghinh”. Nầy, anh chủ bút! Để “chẳng quên ai”. Tôi ngâm cho anh một bài, để anh nghe mà lấy hứng.

CẢ BA. – Hoan nghinh!

C.S.M.M. – (ngâm)

Nầy anh nghị tương lai ơi!

Là thăm trắng, tấm ḷng trong,

Em biên hối hả mấy ḍng, em gởi biếu anh!

Lá thăm nầy là thăm nghĩa, thăm t́nh.

Bao nhiêu mong ước ẩn ḿnh ở trong.

Dân đen vẫn ước cùng mong.

Mong anh sao không quên hết, là quên hết nỗi ḷng.

Là cái nỗi ḷng của đám dân đem!

Họ mong cho anh sẽ thành một cây đèn.

Soi cùng ngơ ngách, chẳng quên, nào một cái hẻm nhỏ nào.

Mặc dầu sóng gió lao xao.

Dám, ăn, dám nói, đương mũi chịu sào, cho thiên hạ đừng cười lại đừng có la.

Này nghị tương lai ơi,

Mong thế nào, em đă kể hết ra.

Nhưng nầy anh nghị hỡi!

C̣n ba điều, anh xin tránh cả ba.

Một điều là: Nghị Gật xấu hổ thay là.

Hai là: Nghị áp phe coi vậy, thế mà lại xấu hơn,

Song le Nghị Dĩa Hát, cũng xin can.

Ư dân th́ thế, mà ư xóm làng rất hợp với ư em.

BS. TÈO – T.S. TẸO (Cùng hỏi trong lúc C.B. TEO đang hí hoáy viết) c̣n ư em th́ lại sao?

C.S.M.M. – (hát nối):

Này, này, nghe cho rơ ư em!

Đừng làm nghị RÂU QUẶP chẳng có cô nào thèm, anh Nghị hỏi, anh Nghị ơi!

CẢ BA. – (Vỗ tay, cười). – Thật là thâm trầm. Thật là giết người không dao. Thưởng em một ly rượu.

C.S.M.M. – Em không dám nhận lời khen đó! Em chỉ đại diện cho giới em út mà nói thôi! Các anh có gan, th́ hăy ăn chơi, đừng có thấy Bà mà quặp râu, rồi thiên hạ họ gọi rằng Dê, th́ xấu hổ lắm.

T.S.TẸO. – B.S. TÈO.- Sao? Anh chủ bút kiêm đầu sổ “chẳng quên ai”, Hai tôi nhường lời cho thủ lănh.

C.S.M.M. – Mời anh chủ bút trổ tài nhả ngọc phun châu.

C.B. TEO. – Xin vâng lời người ngọc (sửa giọng) Bây giờ tôi xin đọc bản điều trần tôi đă thảo. (Đứng lại một góc, trên một cái ghế, tằng hắng, vuốt cổ vài lần. Cả ba người kia dồn lại như la thính giả) Đồng bào! Toàn thể đồng bào ! Tôi xin khai mào bằng bốn câu thơ (Cử toạ tuỳ lúc, khi th́ vỗ tay, khi lại giậm chân, khi lấy vật gơ vào bàn ghế có nhịp nhàng).

CỬ TOẠ - Ừ ơ ơ ơ.

C.B. TEO. – (ngâm nghiêm trang)

Người xưa ném bút theo đao cung,

Cán bút ta nâng luống thẹn thùng.

Ví bằng bút phụ ḷng ta nguyện:

Biết kiếp nào đây sáng nghiệp Hồng?

CỬ TOẠ. – (làm ồn để hoan nghinh) Đùng… đùng… đùng. Là đùng… đùng… đùng.

C.B. TEO. – (giọng hài hước ngâm tiếp)

Tôi là chủ bút ốm tong… teo,

Nhưng chẳng hề khi nào… nấu cháo mượn đầu heo.

Hay phĩnh dư luận… như các ông bà chủ… báo

Và… nghiệp báo đời… đời tôi quyết đeo theo.

CỬ TOẠ. – (làm ồn) ẹo… èo…eooooo.

C.B. TEO. – (trịnh trọng ngâm nối)

Vốn là chủ bút,

Tôi luôn luôn mài bút

Cho nhọn, cho bén, cho sắc, để cắt nanh cắt vút.

Của những đồ ham hút…

CỬ TOẠ. – (làm ồn) – Hút ǵ? Hút á phiện chăng?

C.B. TEO. – (trịnh trọng, hơn, ngâm tiếp)

Hút mồ hôi nước mắt dân nghèo, ốm tong, ốm teo,

CỬ TOẠ. – (làm ồn , hoan nghinh). – Họ ốm tong teo cũng bởi v́ nghèo.

C.B. TEO. – (hùng dũng, một tay múa)

Tôi múa cây bút,

Tức th́ bọn bợm phải thụt,

 (Lấy bộ bi thương)

Những đám dân hiền lành như bụt

Bị doạm, bị hâm, là lo đem đút:

Hết tiền, hết ruộng,

C̣n sợ cuống cuồng!

 (Lấy bộ giận dỗi)

Cho mấy ông cá mập, chỉ biết có cái bụng ḿnh,

Bụng lớn ch́nh ́nh.

CỬ TOẠ. – (làm ồn để hoan nghinh) – Th́nh Thùng th́nh… Thùng th́nh… Lắc cắc cắc…

Thùng th́nh.

C.B. TEO. – (oai vệ)

Rồi tôi hươi ngọn bút,

Để mà hun đúc

Tinh thần bất khuất phục

Cho một số đồng bào bấy lâu nay chi biết cúi đầu.

Mà nhịn với nhục.

Bây giờ họ hiên ngang thẳng đầu lên, mà tố cáo.

CỬ TOẠ, - (hoan nghinh) Áo!.. Áo!... Áoooo

C.B.TEO. – (đổi giọng thân mật)

Tôi đây sẵn trong tay có báo

Không làm tiền không nói láo,

CỬ TOẠ. – (mỉa mai) Báo!... Báo !... Báo !

C.B. TEO. – (oai vệ lại, tay chỉ thẳng)

Nầy lớn mặt! Hối lộ, ăn hớt, ăn hao, ăn sau, ăn trước

Nầy tai to! Đầu cơ: cửa trước đón, cửa sau vào.

CỬ TOẠ. (hát đưa em) Ầu ơ ơ ơ. Đầu cơ là hỡi đầu cơ.

C.B.TEO. – (căm hờn)

Này lũ quỷ! Đem đủ mánh khoé mà khoét, mà đục.

Cho thêm điêu linh, cho thêm khổ cực

Đám dân vừa thoát qua nạn lụt,

Nghĩa là vừa thoát cơn chết hụt!

CỬ TOẠ – (hưởng ứng, đứng dậy chỉ thẳng)

A lê, bọn hạm bay, mau mau cút!

Các phường chuyên hút

Máu dân đen:

Cút mau nghen!

C.B. TEO. – (bí mật nói nhỏ nhỏ)

Đồng bào, này hỡi đồng bào... nghèo!

Đă thấy chăng? Chủ bút ốm tong… teo

Thế mà chương tŕnh chuyến vĩ đại.

Cực kỳ vĩ đại!

CỬ TOẠ. – (trào phúng) Làm được không, chưa biết, thế mà kể đại !

C.B. TEO. – (thong thả, nửa đùa, nửa thật)

Làm được không? Teo này hăy c̣n một cái

Kế hay. Thật vô cùng hay!

Khổng Minh ơi! Mi có sống dậy cũng chẳng sánh tày.

Để hàn vá giang sơn gấm vóc.

CỬ TOẠ. – (hấp tấp đứng dậy) Hay lắm… Hay lắm… Hay lắm lắm

C.B. TEO. – (cười chánh trị).Nhưng mà phải bỏ thăm cho tôi chớ!

CỬ TOẠ. – (nóng nảy) Ừ, ừ ừ. C̣n đem thăm về thêm cho một mớ.

C.B. TEO. – (chậm răi, đều đều, như đọc một bản báo cáo)

Kể từ Non Nước bị chia đôi,

Bên nở chê rằng món ấy hôi!

Ăn uống chi ṛng dùng chất muối.

Cố quên quốc tuư phứt cho rồi.

CỬ TOẠ. – (ra vẻ tội nghiệp) Nhè nước mắm nhỉ mà đ̣i quên phứt cho rồi. Hỡi hỡi ôi! Là hỡi hỡi ôi!

C.B. TEO. – (hơi buồn)

Vừa dọn cơm ra đă thấy thêm…

Lấy ǵ mà chấm: Chả cùng nem?

Thịt ḅ bảy món, ai dùng muối?

Tội nghiệp dân đen măi măi thèm.

CỬ TOẠ. – (Hoan nghinh nhiệt liệt) Tất cả chủ lều nước mắm của Phan Thành nầy phải đậu tiền ủng hộ cho sổ ḿnh đắc thắng. Quảng cáo cho Nước Mắm như vậy, th́ thật là ngon như nước mắm nhỉ…

C.B. TEO. – (ranh mănh)

Bây giờ ta đặt tại biên cương,

Mấy tĩn mắm ṛng hiệu “Quốc Hương”.

Máy quạt khổng lồ cho thổi mạnh,

Dồn mùi quốc tuư khắp mười phương.

CỬ TOẠ. – (cùng cười, lấy tay quạt quạt trước mũi). Mười phương sẽ thơm nồng mùi “Quốc Hương”. Ha ha ha… Là Ha ha ha.

C.B. TEO. – (giả lấy tay bóp mũi)

Mười phương nồng nực một mùi hương.

Cán bộ nhó nhăn, thể khác thường.

Dân chúng thấy thèm nhễu nước miếng.

Ngược luồn gió thổi tiến lên đường.

CẢ BA. – (đứng dậy kẻ sau người trước đi bỏ chân trái trước). Một hai một! Một hai một! Nào!

Anh em ta cùng nhau xông pha lên đường!

C.B. TEO. – (ngó lên trời, có vẻ một nhà tiên tri)

Bất kể biên giới,

Họ cứ tràn tới,

Xung phong, tiến tới!

Để cho gặp Nước Mắm mới

Thoả bấy t́nh thương nỗi nhớ Nước

CẢ BA. – (vẫn đi như quân đội) – Bước … Bước… Bước. Là ta bước… bước.

C.B. TEO. – (hoảng hốt, như đă làm một việc trọng tội)

Té ra đă vi phạm hiệp ước,

Cái hiệp ước chia ra hai nước

Nước Muối và Nước Mắm,

CẢ BA.- (ngừng lại th́nh ĺnh, có đáng sợ hăi). Nguy lắm… Nguy lắm… là nguy lắm lắm..

C.B.TEO.- (hân hoan dường như đắc kế)

Nguy th́ có nguy

Nhưng không mấy dữ.

V́ tôi hiền lành:

Tôi không đội bom nguyên tử!

CẢ BA.- (dường như bớt lo). Cũng may! Nếu thả bom nguyên tử!... Th́ chỉ có nước thứ ba thêm vào: Nước tử.

C.B. TEO. – (hơi phách lối)

Th́nh ĺnh một trận lụt

Một trận lụt tối đa

Từ Mường Mán thổi qua.

Chẳng phải lụt Nước Mắm Quốc Hương

Mà là lụt Mê Hồn Hương

Căn bản là Nước Mắm,

Chế biến ra thành hơi,

Một thứ NƯỚC MẮM MỚI

 (hất cằm nh́n T.S.Tẹo)

Đem lại SỨC KHOẺ MỚI

 (hất cằm nh́n B.S. TÈO)

Đă là nước mắm, chắc chắn là có tính chất dân tộc.

CẢ BA. – (vui mừng) Dân tộc hoá quá !

C.B. TEO. – (phồng ngực lên)

Thêm chế thật nhiều, cung cấp đủ mọi người ăn.

CẢ BA. – (hoan nghinh) Đại chúng hoà ghê quá !

C.B. TEO. – (Ưỡn người lên)

Lại chế bằng nhà máy tối tân

Cho kỹ sư điều khiển

Nhà bác học chế biến

Nên nó không hôi:

Chẳng một ai lôi thôi

Đ̣i chia rẽ Mắm Muối !

Thật là đúng với khoa học

CẢ BA. – (vỗ tay) Khoa học hoá ghê quá sá!

C.B. TEO. – (sung sướng nh́n ngược lên trời, không thấy ǵ bên cạnh râu đưa thẳng) – A ha ha! Thế là tăm tiếng…

CẢ BA. – (vừa chạy toán loạn, vừa la) Trời ơi có biến, có biến!

C.B.TEO. – (lúc đó vợ TEO đă vèo vào cổ TEO một cái, TEO vẫn nh́n thẳng lên trời, tay rờ lên cổ)

Sao mà cổ tôi đau, như bị kiến….

 (gặp tay vợ, quay lại thấy, hoảng hốt, RÂU QUẶP lại)

Đồng bào ơi! Quả thật là đại biến.

Hạ màn

Cùng viết với Nguiễn Ngu Í

 (Truyền Tin, số xuân Ất Mùi)

 

Nguồn: Hồ Hữu Tường, Kể chuyện, Huệ Minh xuất bản năm 1965. Bản điện tử do talawas thực hiện.