Trầm tư của một tên tội tử h́nh
Hồ Hữu Tường
Mục lục
- Tựa
- Trầm tư thứ nhất – Cái
nghiệp tiên thiên
- Trầm tư thứ hai - Về vơ
trụ
- Trầm tư thứ ba - Về hoà
b́nh
- Trầm tư thứ tư -
Về nạn đói kém
- Trầm tư thứ năm -
Về nạn nhân măn
Tựa
Ngày 29 tháng 8 năm 1957, tôi bị Toà án Quân sự Sài G̣n lên án
tử h́nh. Tôi có kư tên xin phá án, mà ḷng không tin sẽ
được, lại đă tự hẹn nếu không
được phá án, th́ âu để bị hành quyết cho
rồi một đời, mà tôi muốn chấm dứt
một cách khéo hơn là để bị giết mờ ám,
nơi một chốn hẻo lánh nào đó, rồi tên
tuổi thêm trầm luân trong một cái biển phỉ báng
vô biên. Song lẽ, sự tự hẹn ấy
được bè bạn ở nước ngoài hay
được. Nên chi, sau ngày bác đơn xin phá án, ngày 31
tháng Chạp năm ấy, ông A. Camus, thay mặt cho bè
bạn nói tiếng Pháp, bà R. Fischer, thay mặt cho bè bạn
nói tiếng Anh, ông Nguyễn Ngọc Bích, thay mặt cho
người Việt ở hải ngoại, đánh
điện cho tôi, ân cần khuyên tôi nên kư tên xin ân xá
để cho họ tiện bề vận động xin
phóng thích cho tôi. Nể t́nh họ, tôi đă kư tên. Gần
năm năm đă qua, mặc dầu các bè bạn này không
ngớt kêu gào, tôi vẫn đội trên đầu bản
án tử h́nh, và trong mấy năm này, trước khi đi
ngủ, đêm nào tôi cũng tự hỏi: “Ngày mai phải
chăng là ḿnh phải đứng trước toán lính hành
quyết?” Sống trong tâm trạng phập phồng nọ,
những trầm tư của một tên tội tử h́nh,
bị tử thần uốn nắn chiều hướng
rất nhiều, chẳng khác nào tia sáng bị chạy
gần một khối thu hút khổng lồ vậy.
Phương chi, tôi c̣n mắc một cơn bệnh
trầm kha, kéo dài từ tháng 4 năm 1959 đến tháng 9
năm 1961, mà đến nay, tháng 6 năm 1962, thời
hồi xuân vẫn chưa dứt. Trong điều kiện
ấy, những trang sau này phỏng có giá trị nào
chăng?
Tuy vậy, tôi không ngại ngùng mà đăng chúng nó ra,
trước để làm một bức thơ cảm
ơn chung cho những ai, rải rác trong bốn
phương trời, hoặc danh tiếng lẫy lừng
như A. Camus hay Nehru, hoặc tên tuổi c̣n trong bóng như
sinh viên và học sinh, sau để đặt một
vấn đề mà tôi tin rằng là vấn đề
trọng đại hơn hết của nửa thế
kỷ sau của thế kỷ hai mươi. Tôi muốn
nói đến sự đại nhất thống tôn giáo, triết
học, khoa học và chánh trị.
Hơn hai ngàn năm trăm năm trước đây,
khi khoa học chưa phát sanh và sự hiểu biết
của loài người chỉ c̣n thô sơ, khi chánh trị
c̣n là cái luân lư của các tiểu quốc vương
đối với nhau và đối với thần dân,
đă có người, tôi muốn nói đến Thích Ca Mâu Ni,
đem tôn giáo và triết học mà thống nhất lại,
thành ra Phật pháp c̣n truyền đến bây giờ.
Hơn trăm năm trước đây, Marx đem
triết học của nước Đức thời
ấy, dung hoà với kinh tế học của Anh và xă
hội chủ nghĩa của nước Pháp mà đắp
nền cho một cái văn minh mới, văn minh chánh
uỷ, hiện nay đang chi phối cả tỉ
người. Rồi, do một sự ngẫu ngộ
của lịch sử, sáu trăm triệu dân Trung Hoa,
đương sùng bái đạo Phật đây, lại
phải tôn thờ một lư tưởng mới, mà Thánh
nhơn là Marx, Engels, Lénine, Staline và Mao Trạch Đông... Hai
nguồn văn minh này, của đạo Phật và của
chủ nghĩa cộng sản, cả hai đều có xu
hướng xa thơ, sai khi gặp gỡ nhau trên
đất Trung Hoa, sẽ ai thắng, ai bại, hay sẽ
tổng hợp nhau thành ra một cái ǵ mới mẻ?
Về một mặt khác, khoa học, phát sanh ở Hy
Lạp vài thế kỷ sau Phật pháp, từ đấy
vạch một con đường càng lâu càng rộng thênh
thang và ngày nay không biết biên giới nào cả. Vào
những buổi đầu, nó c̣n phải tuỳ thuộc
vào tôn giáo. Vài thế kỷ này, nó gỡ được cái
ách ấy, nhưng lại bị trói vào những tuỳ
thuộc mới của chánh trị. Nó sẽ cởi
được những tuỳ thuộc mới này
chăng, hay sẽ hạ ḿnh làm cái máy cho kẻ mạnh
thế vặn theo ư muốn? Vài mươi năm nay,
Phật pháp vừa bỏ ṿi ḅ qua các xứ Tây
phương, Anh, Đức, Pháp, Mỹ, Úc... Đụng
chạm với khoa học của các xứ này, tôn giáo
ấy sẽ ra sao, hay cũng sẽ bị khoa học bài
bác, cũng như các giáo điều khác, trước kia?
Nói đến sự đại nhất thống tôn
giáo, triết học, khoa học và chánh trị, mà chỉ
đề cập đến Phật pháp, ấy không
phải là một sự thiên lệch. Các giáo điều
khác không nhận chịu một sự sửa lại,
vaincre ou périr [1] .
H́nh như là giáo điều căn bản của các giáo
điều. Đặt cái pháp của ḿnh dưới
sự dắt dẫn của trí tuệ. Phật pháp lấy
sự sửa lại làm căn bản, và khi bảo
rằng sau này Maitreya giáng thế làm vị Phật
tương lai, để chỉnh lại cái pháp cũ, phải
chăng là Thích Ca Mâu Ni dặn trước tín đồ ḿnh
nên dọn ḿnh đón rước một cuộc sửa
lại vĩ đại? Tôi bái phục cái tinh thần
cải tiến canh tân ấy cũng như tôi bái phục
điều mà trong khoa học, từ Copernic, Galilée, Képler,
Newton và nhất là đầu thế kỷ XX, mỗi danh
nhân đều đánh dấu cho một cuộc cách
mạng trong tư tưởng. Cái tinh thần chung ấy
phải chăng là miếng đất dung hoà Phật pháp và
khoa học? Tôi tin rằng trong mấy năm gần đây
sẽ có câu trả lời thoả đáng cho câu hỏi trên
đây.
Một ngàn năm trăm năm trước Thích Ca Mâu
Ni, triết học của Ấn Độ đă phồn
thịnh lắm rồi và dọn đường cho sự
thống nhất cái triết học ấy với sự hiểu
biết, dưới dấu hiệu của trí tuệ,
để thành Phật pháp. Cái triết học của Tây
phương, lập ra từ thời Socrate, và bắt
đầu phồn thịnh từ Bacon, sẽ nhờ
một Maitreya mà thống nhất với khoa học,
cũng dưới dấu hiệu của trí tuệ,
ắt một tôn giáo mới ra đời, một tôn giáo
không dựa vào tín ngưỡng và cuồng tín mà bắt
nguồn nơi từ tâm, do trí tuệ soi sáng. Ba viên đá
lớn, là tôn giáo, triết học và khoa học, đă
nhờ trí tuệ mà xây liền với nhau được,
th́ cái mộng lớn kia, cái mộng đại nhất
thống, gần thành vậy.
Chỉ c̣n viên đá chót: chánh trị. Từ muôn
thuở, chánh trị thay đổi sát theo người làm
và lịch sử đầy dẫy những cái xảy ra
bất ngờ, cũng như những cái hiển nhiên tránh
không nổi. Đầu thế kỷ này, có mấy ai
đoán trước được sự trổi dậy
của Á châu và Phi châu, cũng như những cố
gắng đâu có thể ngăn nổi chiến tranh
thế giới thứ nhất và thứ hai nổ bùng ra? Và
mặc dầu bắt nguồn nơi chung hệ thống của
Marx, chánh trị của Lénine, của Trotsky, của Staline,
của Khroutchev, của Mao Trạch Đông đâu có liên
tục với nhau! Thuyết tiền định, thịnh
hành ở phương Đông, phải chăng căn
cứ nơi sự vô định của chánh trị? Và
từ khi, trong sách Cộng hoà, Platon ước mong những
hiền triết cầm quyền, hơn hai ngàn năm qua,
trên khắp địa cầu, đă đếm
được bao nhiêu người như thế ấy?
Thế mà, lúc này hơn lúc nào cả, thế giới của
chúng ta đ̣i hỏi những nhà cầm quyền hiền
triết. Sự phân hoá thế giới thành hai khối
tương phản nhau, cả đôi bên đều nắm
những khí giới tàn sát rất kinh khủng, đang
đe doạ nhân loại bằng sự phá hoại vô
chừng, có thể kéo lùi lịch sử năm mươi
thế kỷ là ít. Sự khôn ngoan của đôi bên liệu
có thể ngăn nổi một cuộc chiến tranh
thế giới thứ ba chăng? Nh́n theo tầm mắt
của cái mộng đại nhất thống, liệu
chánh trị có chịu đem viên đá của ḿnh mà xây
chung, cùng với tôn giáo, triết học và khoa học, cái
lầu đài của ngày mai soi sáng bởi trí tuệ
chăng? Hay chánh trị vẫn kiêu căng, vẫn bắt
tôn giáo, triết học và khoa học làm nô lệ cho ḿnh, và
vẫn chỉ nghe tiếng gọi của bản năng và
nhiệt t́nh?
Trong năm năm, lúc bịnh cũng như lúc
mạnh, đầu óc tôi bị mấy vấn đề
ấy ám ảnh, tôi nghĩ cách viết ra mấy bài
trầm tư này. Chính tôi lấy làm lạ hơn ai hết
sao một tên tội tử h́nh, số phận đặt
nằm bên cạnh cái chết, lại không nghĩ về cái
chết, mà lại lo chuyện của người sống.
Mà lo nghĩ về chuyện của người khác, không
lúc nào ḷng tôi được yên nghỉ, cho đến
đỗi lắm khi, tôi tự ví là một damné [2] .
Đương đợi sự giải thoát của ḿnh.
Mà sự giải thoát này, tôi tin rằng khi đăng
tập sách này để hỏi những ai suy nghĩ trong
bốn phương trời, tôi sẽ đón rước
được những lời chỉ giáo.
Côn Sơn, tháng Sáu năm 1962
*
* *
Tái bút đúng ba năm sau
Khởi viết vào đầu tháng Sáu 1962, mỗi tháng
được một bài, đến tháng Mười Hai
năm ấy, tôi viết đến bài thứ năm.
Nhưng tưởng có thể tiếp tục như
vậy măi, không dè cuối năm 1932, chúng tôi bị xét pḥng.
Sách, mấy chục số Esprit của ông Domenach
gởi cho, mấy chục số Preuves do bộ biên
tập này tặng, ba bản thảo của ba bộ
trường thiên tiểu thuyết đă viết xong,
một quyển tự thuật, hai quyển tiểu
luận, bị dồn vào một cần xé cất vào kho...
để cúng dường cho bọn mối làm thực
phẩm. C̣n những cái viết lỡ dở, th́ bị gom
gởi lên ban quản đốc. Nhờ vậy mà, khi Ngô
Đ́nh Diệm bị hạ, mớ tài liệu này
được trả lại. Những bài “Trầm tư”,
nhờ vậy mà sống sót.
Gởi về nhà trước khi tôi bước chân ra
khỏi Chí Hoà, tạp chí Bách Khoa lần lượt
cho đăng ra. Tôi không hài ḷng lắm. Những bài tôi
viết, dựa vào mớ kiến thức tôi đă có
năm 1954, vào tù có đọc chi thêm, chi cho khỏi là
lỗi thời? Nay ông giám đốc nhà xuất bản Lá
Bối ngỏ ư cho in ra thành tập, tôi càng không hài ḷng
hơn nữa.
Song nghĩ cho kỹ, tại sao có cái tự ái như
vậy?
Công chúng muốn hiểu tâm trạng của một
người tội tử h́nh, nằm trong bốn vách,
chẳng biết chi xảy ra ngoài đời, bịnh
hoạn liên miên, tử thần lảng vảng măi bên
cạnh. Th́ thành thật cho công chúng hiểu.
C̣n việc nói trúng hay trật, ai nỡ, ḿnh là kẻ
có đủ sách vở để học mỗi ngày, ai
nỡ tranh hơn thua với một kẻ, chỉ có kư
ức leo lét của tên tội tử h́nh ốm đau
nhắc nhở?
Sài G̣n, tháng Sáu 1965
*
* *
Trầm tư thứ nhứt: Cái nghiệp tiên thiên
Tôi sanh trưởng nơi một gia
đ́nh nông dân nghèo ở miền Hậu Giang. Cha tôi, mồ
côi cha sớm từ mười hai tuổi đă phải
đi ở đợ để nuôi thân và không
được đi học. Nhờ tánh t́nh hiền
hậu, ngay thẳng và siêng năng, ông được
một nhà giàu gả cho đứa con nuôi, cho mướn
ruộng và giúp vốn để cất nhà, làm mùa, rời
thân phận ở đợ để trở nên một tá
điền cho đến ngày lâm chung. Lúc ấy, cả hai
đều không có học. Về mặt tư tưởng,
cha tôi không theo đạo Phật, chẳng theo Lăo giáo, mà
cũng không biết Khổng giáo là ǵ, b́nh sanh rất ghét
thầy chùa, thầy pháp, và chỉ biết thờ kính ông
bà.
Làm mùa trúng luôn mấy năm, trong nhà dành dụm có
dư chút đỉnh, cha tôi mới gởi anh cả tôi
đến một ông đồ ở gần đó mà
học chữ HÁN. Ngày th́ đi làm ngoài đồng, tối
lại quạt muỗi cho con học, ông học lóm
được chữ Hán, chữ Nôm, đọc
được truyện sách và bắt đầu giao
thiệp rộng. Mỗi năm hễ hết mùa mưa, th́
có ghe bầu từ những miền Quảng Nam, Quảng
Ngăi, B́nh Định, Phú Yên, chở những thổ sản
ngoài ấy vào, thỉnh thoảng có một vài thầy
thuốc bắc, một hai ông đó theo các ghe ấy vào mà
đi t́m việc: đó là những mối giao du thích
nhất của cha tôi. Tết năm 1910, lúc ấy tôi c̣n
trong bụng mẹ, theo lời thuật lại, cha tôi giao
thiệp được một người, không biết
tên họ ǵ, mà thiên hạ sau này đều gọi là
thầy Quảng, v́ có giọng nói Quảng Nam đặc
biệt. Không ai thấy ông này làm nghề ǵ, nhưng
người ta đồn ông làm thợ mộc, rồi
bởi ông giỏi bùa Lỗ Ban nên thiên hạ sợ ông ểm,
mà không ai mướn cả. Ông say rượu cả ngày,
ngồi trên một chiếc xuồng mà bơi đi hoài, ít
ghé đâu cả. Thế mà ông thích ghé nhà tôi để
thuyết đạo cho cha tôi. Ông thuyết cái ǵ? Sau này tôi
chỉ nghe tóm tắt mà thôi. Thầy Quảng khuyên cha tôi nên
theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương mà tin
rằng Di Lặc sẽ giáng trần chỉnh lại pháp
cũ, làm cho “minh đạo” sẽ tái sanh. Cha mẹ tôi bàn
luận với nhau nhiều về sự này, nhưng
rốt rồi không theo. Cha tôi đợi măi đến
năm 1930, vài chục tháng trước khi ông chết,
mới thượng trần điều trên bàn thờ,
để tỏ ra rằng bây giờ ông đă là tín
đồ của đạo ấy. Nhưng đến lúc
đó, toàn xứ Việt đếm không c̣n được
vài ngàn tín đồ theo phái này.
*
Tôi lớn lên, đi học khoa học ở Âu châu,
nhiễm thêm được một mớ chủ nghĩa
Marx, về xứ rồi, thấy trần điều
thượng lên bàn thờ, hỏi ra, mới biết
nguồn căn của cái tôn giáo đă để hai
mươi năm đặng thay đổi ḷng của
một nông dân thiếu học. Bây giờ đến phiên
cha tôi đem những truyền thống mà ông và mẹ tôi
đă nghe, lúc mà tôi chỉ là một cái thai vừa
tượng, mà thuật lại cho tôi, đương
đầy kiêu hănh v́ mớ khoa học và chủ nghĩa
vừa nuốt được. V́ ḷng kiêu hănh của
một tân đồ kia, tôi không chấp nhận lời
truyền đạo ngay của người cha kính mến.
Hơn ba mươi năm đă qua. Nhiều sự
thất bại trong cuộc vật lộn với
đời làm cho tôi có nhiều kinh nghiệm hơn, và do
đó, trở nên khiêm tốn. Vào nhà tù chuyến này, tôi
lại chỉ thấy có một cửa ra: cái chết, v́
mười hai viên đạn, hay v́ bịnh, hoặc già.
Càng gần cái chết, con người cần xét nét
để ôn lại đời ḿnh. Tôi mới thấy tôi
đă vương lấy cái nghiệp của tôi,
trước khi ra bụng mẹ: lúc ấy mẹ tôi
đang nghe bàn đến sự sửa lại
thường xuyên của đạo Phật mà tượng
trưng là Maitreya, đức Phật đầu thai lại
măi để chỉnh lại cái pháp, nên chi bây giờ,
mặc dầu tôi không phải là tín đồ của
đạo Phật, tôi măi lo âu về sự sửa lại
ấy.
Tôi lo âu về sự này từ năm 1939, khi bắt
đầu cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Hai,
lúc ấy tôi cũng bắt đầu một kỳ tù
năm năm. Năm ấy, tôi bắt đầu hoài nghi
về mớ lư thuyết mà tôi đă học của Marx, và
thấy rằng, ngày sau mà thế giới một nhà
được, vai tṛ của luân lư và tôn giáo rất là
hệ trọng. Trong năm năm ở tù, không có sách
đọc, tôi cứ suy nghĩ măi về sự tổng hợp
chủ nghĩa xă hội và đạo Phật. Về
mặt lư thuyết, sự tổng hợp ấy có thể
làm được, nhưng về đường thực
tế, trong hai cái đại gia đ́nh, gia đ́nh xă
hội chủ nghĩa và gia đ́nh Phật tử,
chẳng có ai ươm thử việc này. Từ ấy,
cái nghiệp nói trên càng quấn quít tâm hồn tôi. Nên chi tôi
đặt cái trầm tư thứ nhất này dưới
dấu hiệu của Maitreya, không phải bởi tôi tin
rằng ngài sẽ đến bằng xương thịt,
mà bởi tôn tán thưởng cái tượng trưng sự
sửa lại.
*
Với sự tấn triển của khoa học và
nhất là của chủ nghĩa Marx, một tôn giáo nào,
ở phương Đông hay ở phương Tây, mà
muốn tồn tại, tất phải sửa lại giáo
điều của ḿnh. Đối với Phật pháp,
sự sửa lại này gọi là chỉnh lại cái pháp.
Và đạo Phật rất khoan dung đối với
những sự chỉnh pháp như vậy. Năm trăm
năm sau khi phát sanh, đạo Phật đă thay lốt
một lần, do sự đụng chạm với các
học phái Bà La Môn, mà phát xiển phần h́nh nhi
thượng, mà sáng tạo lắm tượng trưng,
đến đổi hoá ra hữu thần: ấy là
buổi đầu của Phật giáo đại thặng.
Cuối thế kỷ mười ba, dưới sự
đô hộ của dân Mông Cổ, khắp nước Tàu
tràn lan một chi phái mới, dưới tên là Bạch Liên
giáo, truyền rằng Di Lặc giáng trần, để tổ
chức tín đồ vào một giáo phái, nửa tôn giáo,
nửa chánh trị Bạch Liên giáo này đă chủ
động bao nhiêu cuộc khởi nghĩa làm rúng
động cả nước Tàu, suốt mấy trăm
năm, đến cuối thể kỷ mười tám
mới dứt, mà dư ba hăy c̣n kéo dài đến cuối
chiến tranh Quyền phỉ. Nay, trăm năm triệu
tín đồ của Phật ở Trung Hoa lại lọt
dưới sự chi phối của chủ nghĩa
cộng sản, nếu không có một sự vươn ḿnh
thay lốt nào cả để tồn tại, th́ chỉ
c̣n một vài thế hệ thôi, đạo Phật sẽ
rời bỏ xứ này. C̣n lại gần trăm triệu
người ở Nhật, gần trăm triệu người
ở Đông Nam Á và các nơi: th́, ở đây, ngoài sự
không an ninh về chánh trị, đạo Phật lại
bị các tôn giáo khác và khoa học tấn công. Trong viễn
đồ này, mấy năm chót của thế kỷ hai
mươi h́nh như là những năm chót của
đạo Phật trong thế giới. Muốn tồn
tại, ở Tàu cũng như ở ngoài nước Tàu,
đạo Phật cần phải chỉnh lại pháp ḿnh.
Mà đạo Phật cùng các tôn giáo khác, cần
phải tồn tại chăng? Nói một cách khác sự
tiến bộ của loài người, về triết
học, về khoa học và về chánh trị, đă
đủ chưa để xây dựng một cái xă hội
không cần đến tôn giáo và luân lư? Trả lời
rằng đă đủ, ấy là một cái sự quá
vội vă. Chánh trị chưa t́m tổ chức
được một xă hội trong ấy chỉ cần
luật pháp và quân đội để cai trị, mà
chẳng nhờ đến luân lư và tôn giáo để
đứa hoá đa số nhân dân. Khoa học chỉ
khảo cứu được một phần các hiện
tượng của vạn vật mà c̣n lưu lại vô
số vấn đề đương đ̣i hỏi câu
trả lời, mà triết học và khoa học chưa t́m
được. Và lư lẽ quyết định hơn
hết, là con người của thế kỷ hai
mươi này vẫn c̣n những bản tính thô sơ, c̣n
bị bản năng kích thích mạnh, c̣n bị nhiệt
t́nh đốt nóng, th́ c̣n cần có một cái văn ḿnh
mới để rèn luyện, uốn nắn, hun đúc cho
ngày càng cao quí đẹp đẽ hơn, trong ít lắm là
năm ba trăm năm. Tôi muốn nói đến cái văn
minh tu sĩ. Th́ đạo Phật, cũng như các tôn giáo
khác, cần phải hoà ḿnh vào các văn minh tu sĩ ấy,
cho loài người dùng, chẳng khác nào những cái phao cho
người tập lội ôm trong buổi đầu
vậy.
Tuy các tôn giáo thảy cần tồn tại, để
hoà ḿnh vào cái văn minh tu sĩ ấy, song không phải cái
nào cũng dễ trường tồn. Xét về bản
chất của nó, đạo Phật có nhiều nội
lực giúp cho nó vượt thời gian dài hơn hết,
thế mà nó bị những yếu tố ngoại quan
của lịch sử làm cho nó bị đe doạ nhiều
hơn cả. Bị nguy cơ kế đó là Ấn giáo,
bởi đạo này không chịu đựng nỗi
một cuộc cách mạng chánh trị mà động cơ
chính là thuyết b́nh đẳng. Kế đến là
Hồi giáo ở Trung Đông và Bắc Phi. Trong viễn
đồ Đông Tây cộng tồn, th́ Kitô giáo
được sự an ninh chánh trị đảm bảo
cho vững vàng hơn hết. Song sự cộng tồn này
kéo dài được bao lâu? Hay là rồi đây nhân loại
phải dấn vào một cuộc chiến tranh thế
giới thứ ba? Mỗi lần có chiến tranh thế
giới, là có những thay đổi vĩ đại. Trông
gương chiến tranh thế giới thứ nhất: nó
sanh đẻ ra cách mạng Nga làm cho gần một trăm
năm mươi triệu tín đồ của Kitô giáo chánh
thống lọt vào lưới của cộng sản. Trông
gương Chiến tranh Thế giới thứ Hai: nó làm
cho cả Trung Âu bị Hồng quân chiếm và nó sanh
đẻ ra cách mạng Tàu, làm cho năm trăm triệu
tín đồ của Phật giáo lọt vào lưới
của chủ nghĩa Marx. Rồi ta thử nh́n cái cứu
cánh của một cuộc chiến tranh thế giới
thứ ba, với khí giới nguyên tử và khinh khí, với
khí giới hoá học và vi trùng và nhất là với khí
giới lợi hại hơn tất cả là lư
tưởng chiến tranh thế giới thứ ba, hơn
cả thứ nhất và thứ hai, sẽ làm trúc đổ
bao nhiêu đế quốc khổng lồ, làm tan nát lắm
kiến trúc chánh trị cũng như tôn giáo, làm cho nhân
loại trở lùi trên đường lịch sử
năm ba trăm năm là ít. Nó sẽ là cái mạt pháp cho
tất cả, chớ không phải riêng cho đại
Phật, ở xứ thắng cũng như ở xứ
bại, nối tiếp sự tàn phá và sợ hăi, là
luồng gió bi quan, sau đó mới đến sự mong
mỏi thuận lợi cho một tôn giáo bao trùm cả loài
người.
Qua những đợi hăi hùng ấy, trong bốn tôn
giáo lớn cũ, cái nào có thể thay lốt mấy
lần, như con tằm từ trứng sang sâu, hoá
nhộng để thành bướm bay đi
được? Tôi không biết trong Ấn giáo, trong Hồi
giáo, trong Kitô giáo có những lo âu như thế chăng? Riêng
Phật giáo, với sự bá chiếm cộng sản
của nước Tàu và sự không an ninh ở Đông Nam
Á, th́ vấn đề đă đặt ra hơn
mười mấy năm nay rồi và đ̣i hỏi
những giải quyết cấp bách. Thế mà tôi chưa
nghe được một tiếng vang nào cả về
một cái ướm thử chỉnh lại Phật pháp:
năm 1959, tạp chí France-Asie, trong số đặc
biệt về sự hiện diện của đạo
Phật, mặc dầu có rất nhiều bài của các
vị bác học và cao tăng, không có nói phớt qua
đến vấn đề trọng đại này.
Tôi không phải là một nhà bác học hay một
bực cao tăng. Nhưng, đứng trước sự
bức bách này mà chẳng ai thốt lời nào, và bị cái
nghiệp tiên thiên nói trên kia thúc đẩy, âu là tôi lên
tiếng vậy.
*
Điều mà cần chỉnh lại hơn hết
trong đại Phật, là xu hướng xuất thế.
Trong Phật giáo tiểu thặng cũng như trong
Phật giáo đại thặng, cái xu hướng này là
của chung và Thích Ca Mâu Ni dạy người giải thoát
cá nhân vào Niết Bàn, khi c̣n sống, cũng như sau khi
tịch diệt. Có lẽ hồi thời của Phật,
kinh tế c̣n là tự nhiên, con người ít bị
đớn đau mỗi ngày v́ sự bóc lột, chánh
trị c̣n là đơn sơ, thần dân ít bị khổ
sở v́ sự thiếu tổ chức xă hội, nên chi nh́n
nhận cái khổ, người thấy rơ chỉ có sanh,
bịnh, lăo, tử, không ưa mà hợp, ưa mà phải xa
ĺa, muốn mà không được, mất cái vinh lạc.
Cái khổ này là cái khổ cá nhân, th́ sự t́m giải thoát
bằng phương pháp cá nhân là một việc giải
thích được. Nhưng loài người càng tiến
triển, liên hệ xă hội càng phức hoá, th́ một cái
khổ khác tràn lên, cái khổ tập thể bởi sự
tiến triển này. Cái khổ tập thể này xảy ra
thường xuyên, mà thỉnh thoảng dồn thành cơn
ngặt nghèo là chiến tranh: là chiến tranh nội
loạn và chiến tranh dân tộc, lần lần gom
lại thành chiến tranh lư tưởng và chiến tranh
thế giới. Đối với cái khổ mới và
lớn này, nếu không có một lối diệt khổ
thích đáng, th́ quần chúng quên hẳn lối xuất
thế của của đạo Phật, hay của
bất cứ tôn giáo nào khác, nghe theo những khẩu
hiệu tuyên truyền của các đảng phái chánh
trị. Mà những người tu sĩ cũng không thể
yên ḷng được để nhập định.
Đối với một tối tiểu thiểu
số, có thể duy tŕ cái xu hướng xuất thế,
để an ḷng họ trong khi họ bị vi trùng của
bịnh h́nh nhi thượng đục khoét. Nhưng
đối với tối đại đa số, cái pháp
mới phải có một đại xu hướng xử
thế. Làm thế nào để tránh chiến tranh và cách
mạng? Nói một cách khác, tôn giáo phải đồng
nhất với chánh trị. Sự đồng nhất này
không thể quan niệm bằng cách lập những
đảng chánh trị để bệnh vực cho
những giáo điều sẵn có – cái mà ta thường
thấy sau trận chiến tranh thế giới thứ hai
– mà phải hiểu rằng đây là một sự cố
gắng làm cho quần chúng đến một sự
giải thoát đích thực, miễn cho loài người làm
chánh trị cái trạng thái con tằm nhả tơ tự
dệt cái ổ để nhốt ḿnh vào. Chính cái xu
hướng xuất thế xưa kia làm cho người ta
lầm tưởng rằng đạo Phật dạy tín
đồ nhẫn tùng, rồi cho rằng “tôn giáo là
thuốc phiện của dân”. Maitreya của thời này
phải đánh tan cái lầm ấy và đáp lại lời
đ̣i hỏi của tín đồ Bạch Liên giáo suốt
năm trăm năm, của tín đồ Bửu Sơn
Kỳ Hương gần một trăm hai mươi
năm, là lập thiên đàng trên cơi thế.
*
Đồng nhất với chánh trị để xử
thế, không phải là tôn giáo chạy theo chánh trị
để a dua theo kẻ có quyền thế và để ban
phép lành cho họ. Kẻ làm chánh trị, hơn hẳn
người thường, là những kẻ bản năng
mạnh, nhiệt t́nh nồng, hay thiên về cực
đoan, hay ngă về bạo lực. Để tránh
những việc như đày hàng mấy chục triệu
người vào trại giam, như đốt ng̣i chiến
tranh thế giới để củng cố địa
vị cá nhân cha ḿnh, th́ không nên để cho sự ngẫu
nhiên của tranh đấu, đưa kẻ tranh
đấu lên dẫn đầu, mà phải tuyển
trạch kẻ ấy trong hàng những người sáng
suốt, bác ái và hiền lành hơn cả. Nếu không có
cả một cái văn minh mới để rèn luyện,
uốn nắn, hun đúc con người theo cái mẫu này,
để rồi tuyến trạch những phần tử
ưu tú hơn hết trong đó, đặng đưa lên
làm người lănh đạo, th́ cái văn minh
đương thịnh hành ngày nay, cái văn minh chánh
uỷ, chỉ cung cấp cho ta những người
cầm đầu bạo ngược và man trá.
Đồng nhất với chánh trị, cái tôn giáo
đội lốt mới này mở màn cho cái văn minh
mới ấy, gọi là văn minh tu sĩ. Từ ngàn
xưa, hễ bắt đầu có tôn giáo, th́ đă có
người tu hành. Có lắm lúc, kẻ tu hành này lại
nắm luôn quyền chánh trị. Nhưng, những h́nh thức
đó chưa lập nên được cái văn minh tu
sĩ. Nay là lúc phải nâng sự tu hành này lên bực văn
minh để nó d́u dắt loài người, từ trạng
thái ly tán từng dân tộc, từng giai cấp, đến
cái thế giới đại đồng, điều mà
chánh trị chỉ thấy thực hiện được
bằng máu lửa của chiến tranh và cách mạng.
Nếu mà cái văn minh tu sĩ này sớm xuất hiện
được, hoạ may sẽ miễn cho nhân loại
cuộc đại chiến thế giới thứ ba.
Rủi mà chiến tranh thứ ba nổ ra trước
rồi, th́ quả địa cầu sẽ đầy
dẫy tàn phá, tang tóc và căm hờn. Dẫu ai là chủ
của mai sau, kẻ thống nhất được
địa cầu bằng máu lửa sẽ chẳng hơn
ǵ các Cásars xưa lập đế quốc La Mă lên để
dọn cho Kitô giáo cũ: một văn minh tu sĩ sẽ
rất cần để hàn vá những vết thương
và dập tắt các căm hờn, để xây đắp
sự thống nhất loài người trên những
nền tảng vững chắc và vĩnh cửu hơn là
quân đội và cảnh sát.
Từ mấy năm nay, nhiều nhà cách mạng cũ
rời bỏ hàng ngũ của chủ nghĩa Marx, v́ cái
chánh trị của đảng này thiếu một cơ
sở luân lư. Khroutchev, khi chỉ trích cái chánh trị của
Staline, cũng đưa những lư lẽ thuộc nhơn
luân. Kinh nghiệm của gần năm mươi năm
cách mạng Nga chứng cho ta thấy rằng chánh trị mà
buông lung, th́ chẳng khác nào ngựa mạnh mà không
cương, thêm bịt mắt, nó có thể đưa vào
hố thẳm. Mà nếu không có một cái văn minh tu
sĩ đặt những lignes de force [3] cho
kẻ làm chánh trị hướng theo, th́ họ biết
nghe vào đâu khác hơn là tiếng gọi của bản
năng?
Kẻ chiến sĩ, người lănh đạo
đă cần có luân lư, th́ đám quần chúng lại cần
đến tôn giáo để biết đâu là nên, đâu là
không, hầu xử sự. Những tôn giáo có giáo
điều phản khoa học là những cái lần
lần bị khoa học gạt bỏ. Nhưng những
thị kiến của đạo Phật không trái với
khoa học, th́ đạo Phật có nội lực
để trường tồn. Những học thuyết
dựa vào sự “chúa sáng tạo” đụng chạm
hẳn với thuyết duy vật vô thần, th́ một bên
thắng một bên tiêu đă đành. Mà thuyết vô
thường vô ngă của đạo Phật có thể dung
hoà với biện chứng pháp được.
*
Đồng nhất với chánh trị, vươn
ḿnh lên thành một cái văn minh mới, mà mỗi năm
thêm lại bị một phát minh mới của khoa học
kích bác, th́ là một việc không thể dung thứ
được. Đạo Phật xuất hiện
trước khi khoa học phát sinh, nên thay v́ một sự
hiểu biết chính xác bằng vào thực nghiệm,
chỉ có những thị kiến về vũ trụ,
về vật lư, về sinh vật, về tâm lư. Đă
đành rằng lắm thị kiến này thật là thiên tài
và đến thế kỷ mười chín và hai
mươi, sự hiểu biết của thời này
nhận rằng Phật và các vị Bồ Tát đă
thấy đúng. Nhưng không nên lấy đó mà bảo
rằng giáo điều của Phật là hơn tất
cả. Cái tương quan giữa Phật giáo và khoa
học, cả hai đều căn cứ vào lư trí, không nên
xây dựng trên sự dùng khoa học mà chứng minh tôn giáo,
hoặc sự dùng tôn giáo mà thay thế cho khoa học.
Đạo Phật, và chỗ này nó khác hơn các tôn
giáo khác, là một sự tu luyện, theo nghĩa tầm
nguyên của danh từ này: tu là làm cho càng tốt đẹp
thêm măi, luyện là làm cho tinh ṛng thêm măi. Phật tử tu
luyện để làm cho lư trí càng thuần thục hơn
hầu đến cái giác. Nếu sự tu luyện ấy
dùng để dự bị vấn đề, chuẩn
bị các điều kiện, vạch lối trước
bằng trực giác hay thị kiến cho các sự giải
đáp các vấn đề này, th́ tôn giáo sẽ là
hướng đạo cho đại hội quân của
khoa học. Chừng ấy Niết Bàn sẽ không c̣n là
một cái chứa không có ǵ đựng ở trong và chỗ
nhằm của các vị Bồ Tát, (tự giác nhi giác tha),
mới đạt được. Trong hai mươi
lăm thế kỷ đă qua, những thị kiến
của đạo Phật đă làm khởi hứng cho
văn chương và nghệ thuật của nhiều dân
tộc ở Á châu. Nay, nếu làm khởi hứng
được cho khoa học, những thị kiến
của cái văn minh tu sĩ mới này sẽ làm cho văn
minh này tràn lan khắp địa cầu, trở nên một
cái chung của nhân loại.
Phần nào của những thị kiến này
chứng minh bằng khoa học được, th́ tài
bồi cho miếng đất khoa học rộng lớn và
ph́ nhiêu thêm, phần nào chưa thực nghiệm
được, th́ dùng trực giác để thẩm xét và
phê phán. Như vậy các thị kiến mới này sẽ
làm chất phân nuôi sống các loài câu triết học cho cành
là sum sê, hoa quả vinh mậu. Chừng ấy cái gạch
nối liền tôn giáo – triết học – khoa học – chánh
trị sẽ thành được.
*
Nhưng chừng ấy, tôn giáo đó không c̣n là
đạo Phật cũ xưa nữa. Sau mấy lần
thay lốt đổi h́nh, nó không c̣n giữ vững nét dáng
mà người ta thường thấy. Vậy, dưới
cái sắc mới, ta hăy cho một cái danh mới, và gọi
là minh đạo. Nh́n trong minh đạo, ta thấy có
từ bi và bác ái, có công b́nh và thương người, có
b́nh đẳng và tự do... tóm một lời là tất
cả các cao vọng của các tôn giáo, kể cả xă
hội chủ nghĩa hiện kim. Thế th́ tuy bắt
nguồn nơi đạo Phật, minh đạo phải
tổng hợp tất cả các nền tảng luân lư
của tất cả các tôn giáo, để xây đắp cái
cơ sở chung cho việc xử thế: đạo
đức.
Có nền tảng đạo đức vững
chắc rồi, th́ chánh trị mới hoàn về cái sửa
trị, sửa đường vạy để đi theo
đường chính, một con đường rộng
thênh thang, lại được trí tuệ soi sáng tỏ,
chớ không phải lối mê ly eo hẹp mà trong mù tối
như từ xưa đến nay. Có cái chánh trị như
thế mới tránh được hoạ dân tộc và giai
cấp tương tranh, lập được cảnh
thanh b́nh cho loài người. Như vậy, sẽ không c̣n là
cái chánh trị cũ xưa, theo lối của Thương
Ưởng ở phương Đông và Machiavel ở
phương Tây; bởi v́, một khi đă được
cảnh thanh b́nh, th́ cần quyền xử thế không c̣n
là những người đầy dục vọng, mà là
những bậc hiền triết, vậy đâu c̣n cần
những thuật man trá và bạo ngược như bây
giờ?
Khoa học và triết học sẽ hun đúc theo
một tinh thần mới. Minh đạo cũng sẽ
khởi hứng cho nghệ thuật và văn chương.
Các thứ này sẽ nhờ nó mà có một gia tốc lớn
và tiến tới với một vận tốc chưa
từng thấy. Đó là cuộc cách mạng văn hoá,
cuộc cách mạng đích thực và bền vững hơn
hết. Nó đă đến không nhờ những trúc
đổ ầm ĩ và phá hoại khổng lồ. Nó
đă đến trong đôi giày nhung, không ai nghe mà ngờ,
chỉ có kẻ sáng suốt mới trông thấy
được.
*
Như thế người sáng ra cái minh đạo – là
Maitreya giáng trần như đạo Bửu Sơn Kỳ
Hương tin – là người cách mạng vĩ
đại hơn hết, chớ chẳng phải chỉ
là vị Phật cao hơn hết như lời của
Thích Ca Mâu Ni đă nói ba lần dưới cây Long Hoa. Mẹ
tôi, một đàn bà nông dân quê mùa, đă nghe tới việc
ấy, khi mang tôi trong bụng và đem chuyện ấy mà
thuật lại chung lộn với những cổ tích đầy
thần tiên cho tôi nghe khi tôi c̣n nhỏ xíu. Cha tôi, khi gần
lâm chung, nhắc lại cho tôi nhớ, dường như là
một lời di chúc. Thế mà, mấy chục năm nay,
tôi không hiểu, chẳng khác nào thấy cây mà chẳng
thấy rừng.
Nay hiểu được, th́ thân đă bị giam vào
giữa bốn bức tường, với một cái án
không thấy thoát ra được. Làm sao mà đeo
đuổi được cái nghiệp tiên thiên này? Âu là
ước mong sao cho những trầm tư này động
được ḷng ai đương khổ v́ cái khổ
lớn của thế kỷ hai mươi vậy.
Côn Sơn,
tháng Bảy 1962
*
* *
Trầm tư thứ hai: Về
vơ trụ
Trường học ở gần nhà tôi chỉ có
đến lớp dự bị. Tôi mài trôn quần tôi trên
bàn của lớp ấy suốt mấy năm, mới
được cha mẹ tôi gởi tôi ra chợ, ở
trọ nơi nhà người quen, mà đến học
ở lớp sơ đẳng. Lúc ấy tôi
được mười tuổi, nên c̣n dại, chẳng
biết lo học mà chỉ mê xem hát bội: đêm nào tôi
cũng len lỏi vào được trong rạp hát, xem cho tới
khuya, để rồi ngày sau, vào lớp ngủ gục.
T́nh thế ấy buộc cha mẹ tôi phải dời
chỗ ở trọ, bấy giờ đem tôi gởi
nơi một cái am, cách chợ gần hai cây số, từ
ấy, sự cách xa nọ làm cho tôi không lân la
được với các thú vui, mà ràng buộc tôi, ngoài
giờ đi học, lẩn quẩn quanh am. Mỗi ngày ba
lần tụng kinh, đều có tôi nghe cả.
Kinh tụng thảy đầu viết bằng
chữ Hán, ban đầu tôi nghe không hiểu chi cả, th́
lấy làm bực lắm. Ông sư mới cho tôi
mượn một tập bằng thơ lục bát,
mỗi câu dạy được bảy chữ với
nghĩa của nó, để cho tôi học. Tôi không học
mặt chữ, mà chỉ học tiếng Hán – Việt cùng
nghĩa, chẳng bao lâu hiểu được nghĩa
của mấy ngàn tiếng và bắt đầu hiểu
hơi hơi các kinh tụng có nghĩa ǵ. Cái Phật
học của tôi rất đơn sơ, v́ chỉ là cái
nghe lóm trong hai năm ở trọ nơi am để đi
học.
Tuy vậy, nó cũng đủ mà giúp cho tôi biết
rằng cái thị kiến của Phật về vũ
trụ mà khoa học tả ra, cũng na ná như thế
thôi.
*
Trong tám tháng đầu năm 1956, tôi bị nhốt
ở Đề lao Gia Định để chờ
đưa ra thẩm vấn. Chúng tôi không có một tí ǵ
để đọc cả. Th́nh ĺnh, có người cho
chúng tôi một số báo Paris Match, mà ngẫu nhiên, trong
ấy có một bài dài về vũ trụ. Trong hai
mươi lăm năm đă qua, mê mải với
những thăng trầm của chánh trị thực
tiễn, tôi không có dịp nào đọc về vấn
đề này. Nay lại được nghe đến
những tên của Hubble, Lemaitre, Hoyle, v.v... và những lư
thuyết của họ, tôi mới hay rằng thị
kiến của Phật bị vượt qua quá xa rồi.
Kế tôi bị thẩm vấn, rồi đưa ra
toà. Trong lúc ấy, thần trí không lúc nào rảnh rang
để suy nghĩ ǵ khác. Đến chừng bị lên án
tử h́nh xong, tôi thấy dường như đă phủi
sạch nợ đời, không c̣n vướng víu với
chánh trị nữa, tôi lại sực nhớ đến bài
báo đă đọc trong Paris Match, và lấy đó làm
đề để trầm tư. Không có kính viễn
vọng như các nhà thiên văn, chẳng có sách vở nào
để khảo cứu, ngay cho đến cái mớ toán
học đă thu thập ở nhà trường th́, bị
hai mươi lăm năm ruồng bỏ, đă quên
hết phần nhiều, tôi sực nhớ c̣n
đường lối mà Thích Ca Mâu Ni đă vạch, là
thiền định, để lắng trong thần trí
của ḿnh, rồi chừng ấy xoay qua trầm tư cái
đề của ḿnh để đến một thị
kiến. Và sau đây, là kết quả của cuộc
trầm tư về vấn đề này. Tôi thuật nó ra
để cống hiến cái thị kiến hầu như
các nhà bác học thẩm xét lại bằng khoa học.
Sự phát minh của Hubble thuộc về thực
nghiệm: người t́m thấy rằng các tinh vân
đều dang xa ra với một tốc lực càng
lớn lên, nếu tinh vân ấu càng xa vời. Bằng vào
sự phát minh này, Lemaitre diễn dịch ra bằng cái
giả thiết, là vũ trụ là kết quả của
một cái nổ lớn của một nguyên tử
khổng lồ sơ khai. Tôi phải mất mấy tháng
để trầm tư về giả thiết này. Tôi
thấy nó thiếu sót về hai điểm trọng
đại.
Điểm thứ nhất về do lai của cái
nguyên tử khổng lồ sơ khai. Do đâu mà có nó?
Tại đâu phải đặt vị trí của nó?
Nếu ta quay ngược cái phim nói về quá khứ
của nó, ta sẽ thấy ǵ?
Điểm thứ hai về do lai của cái làm cho muôn
vàn tinh vân, càng xa vời thêm, th́ càng có tốc lực lớn
hơn. Do đâu mà có cái ấy? Nếu bằng vào luật
hấp dẫn, th́ dầu có cái nổ đầu tiên tung các
mảnh văng ra sáu phương, sức các mảnh ấy
thu hút nhau chỉ làm cho các tốc lực phải giảm
hoài với thời gian, rồi đổi chiều
hướng lại, làm cho các tinh vân hết dang ra nữa,
mà bu lại cùng nhau. Ngày nay, các tinh vân đều dang xa. Cái
xa hơn hết, mà đo lường thấy
được, ước độ 228 triệu năm ánh
sáng, với tốc lực 40.000 cây số trong một giây. Bằng
vào các con số ấy, th́ tốc lực đầu tiên
của lắm tinh vân lại cao hơn tốc độ
của ánh sáng. Vậy th́ cái làm cho các tinh vân, càng xa vời
hơn th́ càng có tốc lực lớn hơn, là một
sức gia tốc chung, nó ở ngoài cái “vũ trụ”
gồm có các tinh vân này.
Có cái gia tốc lực này, th́ cái vũ trụ, ngày nay
đang dang ra, sẽ không bao giờ rút lại, như Gamow
cho, và cách tinh vân, mà càng xa th́ tốc lực càng cao, sẽ
đạt được cái tốc lực của ánh sáng,
như Hoyle đă thấy.
*
Tuy Hoyle thấy được rằng các tinh vân,
hết phiên cái này đến cái khác, sẽ đạt
được tốc lực của ánh sáng, nhưng
thuyết của Hoyle không sao cắt nghĩa do lai cái
sức hấp dẫn nguyên nhân của sự này. Và nó
cũng không nói được, sau khi đạt
được tốc lực này, các tinh vân sẽ trở
nên cái ǵ, và đi đâu? Hoyle cho rằng những câu hỏi
này không nghĩa, v́ một khi đạt được
tốc lực cùa ánh sáng rồi, th́ vật ấy lọt
ngoài không phận của cái thấy hoặc của tất
cả sự đo lường nào khác. Nhưng cái ư, cái giác
quan thứ sau của nhà Phật, không sao thoả măn
được bằng một lời giải đáp
như vậy. Sự bất măn này làm cho tôi phải
trầm tư, và một khi thị kiến được
“cái chung” của vũ trụ của Hoyle, tôi lại
thị kiến được “cái thuỷ” của cái nguyên
tử khổng lồ sơ khai của Lemaitre.
*
Tôi gọi là “univers” của chúng ta cái tập hợp
của tỉ, tỉ, tỉ “galaxies” đương làm
đối tượng cho sự nghiên cứu của thiên
văn học ngày nay. Cái univers của chúng ta có biên giới:
ấy là nơi mà các galaxies đạt tới tốc
độ của ánh sáng. Tới cái biên giới ấy,
mỗi ngôi sao đều có một khối lượng vô
biên và một tinh lực vô biên, cái chất của nó không c̣n
là photons, neutrons, protons, électrons rung động vô cùng mau
lẹ nên không kết hợp nhau lại. Toán học có
thể tính được cái biên giới ấy xa ta là bao
nhiêu, nói một cách khác là có thể tính được cái
h́nh của univers và mấy bề lớn của nó, nếu
biết được toàn thể cái cosmos. Nhưng cái
cosmos, vô biên và vô thủy, vô chung, là vô thường, thay đổi hoài, th́ cái
h́nh và bề lớn của univers chúng ta, nếu có tính
được, là tương đối với thời
gian.
Ngoài cái univers của chúng ta, có vô số cái univers khác mà
tôi gọi là univers extérieurs. Để đếm những
cái univers extérieurs này cho được, hoạ may là
mượn phép mạng số xưa (mười lần
một là mười, mười lần mười là
trăm, trăm lần trăm là vạn, vạn lần
vạn là ức, ức lần ức là triệu, triệu
lần triệu là kinh, kinh lần kinh là cai, cai lần cai là
tỉ, tỉ lần tỉ là nhương, nhương
lần nhương là câu, câu lần câu là giản, giản
lần giản là chánh, chánh lần chánh là tải, và vân vân).
Thế mà một phép mạng số như vậy hoá ra vô
lực để đếm những univers của cosmos.
Mỗi univers đều có thủy có chung có biên giới,
nhưng cả cái cosmos là vô thuỷ vô chung và vô biên.
Khởi thuỷ của một cái univers nào đó là
một nguyên tử khổng lồ sơ khai. Cả vật
chất của nó (protons, neutrons, électrons) và cả tinh
lực của nó (protons) gom vào một khối có lẽ
bằng một ngôi sao thôi. Nhưng mật lực v́ vậy
mà to lớn vô cùng, đến những số khổng
lồ, và nhiệt độ cũng lên hàng mấy tỉ
độ. Đó có lẽ là cái “vô minh”, cái nhân đầu
tiên của thập nhị nhân duyên của Phật. Nó là cái
hỗn độn sơ khai, bởi lúc ấy chưa có
một nguyên tử vật chất nào có được.
Sức dồn ép ấy, nhiệt độ ấy
đốt cháy cái nổ đầu tiên: đó là “sáng
thế” không phải của cả cái cosmos, mà chỉ riêng
của univers nọ. Đối với cái univers mà chúng ta
ở, các nhà bác học Lemaitre, Gamow, Dirac... đă viết
được lịch sử của sự sáng thế này,
mà họ tính lâu chừng 30o Năm phút đầu,
nhiệt độ rớt xuống c̣n một tỉ
độ và khối lượng nổ ra được
cả ngàn lần. Từ đó những bộ phận của
hạch tâm bắt đầu kết khối nhau
được. Mười hai phút sau, vật chất
hiện h́nh với các nguyên tử của hydrogène và hélium. Và
mười ba phút nữa, tất cả nguyên tử,
(dưỡng khí, lân tinh, calcium, sắt, uranium, v.v...)
đều hiện diện. Đám mây do sức nổ gây ra
đó tràn túa và nguội lại. Vài trăm triệu năm
sau nó phân ra làm prégalaxies, rồi đến các galaxies.
Mấy cái này, do tốc độ đầu tiên. Những
cái càng xa th́ đi càng mau, cái gần th́ chậm hơn, mà
khoảng cách chúng nó càng thêm ra măi.
Nhưng sự nổ ấy không xảy ra nơi
một cái trống không tuyệt đối. Nó xảy ra
giữa một cái milieu cosmique trong ấy đầy
dẫy vật chất cũ xưa tràn lan thành mây, hoặc
đă hoàn nguyên như sau này sẽ nói. Có những ngôi sao,
cũng như mặt trời, mà t́nh cờ đi gần
một đám mây nọ, th́ kết tụ mây này thành hành tinh
chạy quanh theo ḿnh. Các hành t́nh này, mới tạo ra th́
nguội, lần lần bị sức dồn ép mà trung tâm
ấm dần, đến một lúc, trên hành tinh sự
sống phát sanh, cũng như trên địa cầu,
rồi vạn vật phục sanh, có loài người có óc
suy nghĩ và có óc sáng tạo. Có những ngôi sao khác lại
th́nh ĺnh nổ banh ra mà trở nên đám mây... Bởi
sức ngăn trở của cái milieu cosmique này và bởi
sức tự hấp dẫn của cái trọng tâm lực
của hệ thống, cái univers không thể nào nổ ra mau
lẹ được như bây giờ. V́ vậy mà trong cái
milieu cosmique này, phải có một cái ǵ khác hơn.
*
Cái ǵ khác hơn ấy là thứ vật chất đă
đạt đến tốc lực của ánh sáng có
một khối lượng vô biên, và một tinh lực vô
biên, mà phải hoàn nguyên lại. Khi lọt ra ngoài không
phận của các univers rồi, th́ các galaxies hoàn nguyên kia
lại bị luật hấp dẫn mà kết tụ
lại. Bởi chúng nó do nhiều univers mà đến, nên cái
tụ lại đó, tôi gọi nó là multivers.
Chính những multivers này, với những khối
lượng vô biên của nó, thu hút các galaxies về chúng nó
và làm cho trong các univers, những galaxies nào càng gần chúng nó,
tức là gần biên giới, có tốc độ gần
tới của ánh sáng. Sức nổ đầu tiên, làm cho
các galaxies có một tốc lực đầu tiên là một
chuyện. Nhưng thêm vào, có sự hấp dẫn của
các multivers, chung quanh cái univers, nó cao hơn cái hấp dẫn
nội tại của cái univers này, mới có cái gia tốc
lực làm cho các galaxies càng dang xa ra lại càng có tốc
lực gia thêm hoài, cho đến khi đạt tới cái
tốc lực giới hạn. Sự hấp dẫn này làm
cho các galaxies hoàn nguyên, bu lại chung quanh các multivers,
để thành chung một khối với chúng. Thêm các
multivers lại kết khối với nhau.
Các multivers này lại càng lâu càng thu khối
lượng lại, bởi các bộ phận thu hút lẫn
nhau. Mật lượng lớn lên, áp lực lớn lên và
nhiệt độ cao lên. Đến một lúc, áp lực
này đốt cháy một cái multivers, bây giờ là một
nguyên tử khổng lồ, một cái sáng thế mới
diễn ra, một trang sử mới của vụ trị
bắt đầu.
Và cuốn sử này không biết bao nhiêu trang như
vậy. Có một cái nổ gần với univers, th́ ảnh
hưởng của cái nổ ấy dội đến ta
mạnh bạo. Có nổ xa, th́ ảnh hưởng nhỏ
hơn. Từ ngày có quả đĩa cầu, trái
đất đă mấy lần thay trục, phải
chăng mỗi lượt nam bắc cực thay như
vậy, là bởi gần univers của chúng ta có những cái
nổ khổng lồ? Và biết đâu những hiện
tượng trong quả địa cầu ta, mà ngày nay khoa
học chưa thấy được nguyên nhân, lại do
những biến thiên của cái milieu cosmique?
Univers và multivers, từng cái này nổ ra thành cái kia,
những mảnh múng của nhiều cái kia hiệp lại
thành cái này, có thể phân biệt nhau nơi chỗ trong
multivers th́ vật chất hoàn nguyên, không có sự sống
được, c̣n trong univers th́ vật chất phức hoá
và cái điểm tối cao của sự phức hoá này là
sự sống.
*
Loài người, sống trong một cái univers, đă
sáng tạo ra được khoa học để thẩm
xét, đo lường, nghiên cứu cái univers của ḿnh. Có
lẽ những luật chi phối cho những hiện
tượng của univers này có thể áp dụng cho
những univers khác được. Nhưng mà trong cái milieu
cosmique, khi mà các galaxies vượt ra ngoài không phận
của các univers và hoàn nguyên, chúng nó sẽ theo những
luật nào? Tốc độ nó sẽ không đổi, hay
sẽ dịu lần khi đến gần kề một
cái multivers? Các multivers hấp dẫn lẫn nhau theo
định luật nào? Chúng nó kết hợp với nhau làm
sao? Biết bao câu hỏi mà dùng khoa học tương
đối của chúng ta để giải đáp không
được.
Mà có thể nào lập một cái khoa học mới cho
các multivers chăng? Và nghiên cứu chúng nó có ích ǵ?
Tôi thị kiến vài thế kỷ nữa đây, loài
người sinh sản quá nhiều, các địa lục
quá trù mật, không đất để ở và trồng
trọt cho đủ, chừng ấy vấn đề di
cư vài ba tỉ những người sang cung trăng, sang
cách hành tinh gần ta như Kim tinh (Vénus) và Hoả tinh (Mars)
sẽ đặt ra. Nhưng trước khi, phải làm cho
các hành tinh này có nước, có không khí, có thảo mộc,
rồi mới ở được. Làm sao mà cho hằng
tỉ tỉ tỉ tấn nước, hằng tỉ
tỉ tỉ tấn không khí, từ địa cầu sang
qua các bên ấy? Rồi làm sao di cư hàng mấy tỉ
người đi?
Nếu nghiên cứu vũ trụ, t́m được
cái tinh lực vũ trụ và chế ngự
được cái tinh lực này, có lẽ những vấn
đề trên không phải là nan giải. Nhưng đây
không phải là việc của thị kiến nữa, mà
trở nên công việc của khoa học và kỹ thuật.
T́m được đề tài cho khoa học là sứ
mạng của thị kiến, mà thị kiến
được khoa học chứng minh là đúng th́
được một cái vinh hạnh lắm rồi.
*
* *
Trầm tư thứ ba: Về
hoà b́nh
Đạo Phật, muốn vươn lên để
thành minh đạo, tất phải gặp nhiều vấn
đề thuộc về xử thế, mà vấn
đề trọng đại hơn hết là vạch
lối cho tín đồ ḿnh xử sự với chiến
tranh, trong hai h́nh thức mới của nó: chiến tranh
nguội ở từng địa phương và chiến
tranh nóng ở khắp toàn thế giới. Tuy là hai song
vốn là một: cả hai đều do sự phân hoá
thế giới thành hai khối tương phải nhau và
mỗi bên đều muốn biến cả thế
giới theo khuôn mẫu của ḿnh. Bây giờ chiến tranh
không c̣n là sự tranh giành quyền lợi nữa, như
nước thắng trận vừa rồi bỏ tiền
của ra mà nuôi các nước đă thua. Mà bây giờ,
chiến tranh trở nên sự dùng quân lực mà ép buộc
nước khác theo thế lư tưởng của ḿnh. Và
như vậy, đối với kẻ bại trận, lư
tưởng không ưa mà phải thờ, lư tưởng
đáng mến yêu lại phải xa ĺa, c̣n đối
với cả đôi bên th́ tang tóc, tàn phá, nghèo khổ,
truỵ lạc... Đích thị chiến tranh, trong h́nh
thức mới này, là cái khổ to hơn tất cái khổ
khác mà Thích Ca Mâu Ni đă phác hoạ.
Sau trận đại chiến thế giới thứ
nhất, th́ đă bắt đầu, sau trận đại
chiến thế giới thứ hai, th́ phồn thịnh
hơn, ở các xứ Âu châu, người ta khổ về
chiến tranh và tổ chức lại thành đoàn thể
để đề cao hoà b́nh. Lắm đoàn thể này
trở nên những phong trào quốc tế và huy động
được khá đông. Nó đă giác được cái
khổ này trước hơn số đông của tín
đồ đạo Phật, và sau mấy chục năm
hoạt động, ắt có nhiều kinh nghiệm. Người
xướng ra minh đạo, nếu t́m được
lối giải thoát chung cho nhân loại khỏi cái khổ
lớn này, ắt được hàng triệu những
hưởng ứng, và nhờ đó minh đạo sẽ
có một số người cảm t́nh rải rác khắp
bốn phương trời.
*
Đồng thời với cái khổ lớn này, xuất
hiện những điều kiện để dập
tắt nó: ấy là những phát minh về vi trùng học,
về hoá học và nhất là về vật lư học.
Những phát minh này giúp cho các cường quốc chế
tạo được lắm thứ khí giới vô cùng
lợi hại, gần như tuyệt đối, hễ
tung ra th́ giết chóc hàng triệu người, tàn phá
trọn những thành phố rộng lớn, làm hại mùa
màng và làm cuộc chiến tranh thế giới thứ ba có
tính cách là kéo lui lịch sử loài người vài ba thế
kỷ là ít.
Cái viễn đồ này làm cho lắm
người giựt ḿnh và những nhà cầm quyền các
cường quốc phải suy nghĩ lại rất
nhiều, trước khi quyết định dùng biện
pháp quân sự để giải quyết sự tranh
chấp với nhau. Đó là cái tâm trạng làm cho cái
biện pháp ahima, mà Gandhi rút trong đạo Phật ra
để chủ trương cuộc đấu tranh
giải phóng cho Ấn Độ, được nhiều
người nhắc tới khi phải xử sự
với nhau trên trường quốc tế. Do đó mà
nhiều người tin rằng cuộc chiến tranh nóng,
toàn diện, bằng khí giới vi trùng, hoá học, nguyên
tử và nhiệt hạch tâm (thermo-nucléaires) giữa
khối Đông và khối Tây sẽ không thể nào xảy
ra, v́ cả đôi bên đều sợ sự tiêu huỷ.
Nhưng kết luận này có hơi vội vă: sự
khả hữu của chiến tranh thứ ba tuy có giảm
bớt nhiều, song không phải là mất hắn. Loài
người phải hoạt động nhiều lắm
mới tránh được cái tàn phá tập thể này.
Bởi v́, và ở đây ai cũng
phải đồng ư, từ hồi dứt chiến tranh
thế giới thứ hai đến bây giờ, cuộc
chiến tranh nguội không khi nào ngớt, cho đến
đổi người ta quen với nó và cho nó là cái nếp
sống hiển nhiên của thời này. Khởi lên là
sự thức tỉnh của các thuộc địa cũ
ở Á châu và Phi châu, đến khi các cuộc chiến tranh
giải phóng này thành công, th́ các nước mới ấy
lần ṃ t́m con đường của ḿnh. Chừng
ấy, mỗi bên, Đông và Tây, đem cái lư tưởng
ḿnh mà quyến rũ, nội chiến bùng nổ, hai
đại cường quốc đem binh tiếp viện
cho phe ḿnh: ấy là chiến tranh nguội đă hiện
trọn h́nh của nó. Mà nếu cuộc chiến tranh
nguội này làm nghiêng hẳn đ̣n cân lực lượng
của đôi bên, th́ ng̣i lửa của chiến tranh nóng
châm rồi: hai bên sẽ trực tiếp đánh nhau và
thuyết ahimsa trở nên vô hiệu.
*
Vậy th́, cái nguyên nhân của chiến tranh thế
giới thứ ba là lư tưởng Đông Tây tương
tranh, mà cái duyên khởi của nó là chiến tranh nguội
ở mấy vùng mà hai bên tranh giành ảnh hưởng. Do
sự nhận xét đó mà có nhiều người kèm cái
thuyết trung lập cho các nước nhỏ vào cái
chủ trương cộng tồn của hai khối
lớn. Thuyết trung lập v́ vậy mà phát triển mau
lẹ và đă được thẩm xét trên thứ
bực quốc tế trong Hội nghị Genève (1960).
Trung lập chế của các nước nhỏ là
điều kiện tất yếu chớ chưa phải
là điều kiện sung măn: nó chỉ qui định
sự bang giao của các nước này mà chẳng ảnh
hưởng được lịch tŕnh biến
đổi ở trong. Do đó mà thỉnh thoảng, trong
xứ ấy lại mất thăng bằng, nội
chiến nổ bùng ra, đốt ng̣i cho chiến tranh
nguội nữa. Muốn tránh sự mất thăng
bằng này, cần phải nghiên cứu lại v́ sao mà nó có
và phương pháp nào để tránh.
Những nước nhỏ thường là những
nước hậu lạc, hoặc là những nước
văn minh xưa mà trải qua mấy trăm năm
đồi truỵ. Nó kém về đủ phương
diện kinh tế, xă hội, chánh trị, văn hoá. So sánh
ra, phần đông chỉ gần bằng các nước Âu
châu khi vừa có cách mạng công nghiệp, và trong khoảng
mấy chục năm phải rượt theo kịp khúc
đường mà các nước ấy đă đi trong
gần hai trăm năm. Để vượt tới
với tốc độ này, khối Tây phương không
bày cho họ được phương pháp nào, mà quần
chúng của họ lại thấy gương nước
Nga, nhờ phương pháp độc tài mà trong không
đầu năm mươi năm, rượt theo kịp
các cường quốc. Thế nên, mặc dù Nga không nhúng
tay vào, như trong trường hợp nước Tàu,
quần chúng này cũng tự động mà làm cách mạng.
Ấy là nguyên nhân là mất thăng bằng. Huống chi
Tàu, v́ muốn tranh làm bá chủ với Nga trong một
khối cộng sản, lại can thiệp một cách tích
cực để thúc đẩy các cuộc cách cuộc cách
mạng ấy.
Để tránh sự mất thăng bằng do
biến thiên nội tại này, phương pháp không
phải là dùng ngoại viện để đàn áp các phong
trào dân chúng bằng quân sự và chánh trị. Làm như
thế chỉ tổ chế dầu thêm cho chiến tranh
nguội dễ nổ bùng ra mà thôi. Cái phương pháp phù
hợp hơn hết là vạch cho quần chúng một
lối tiến tới mau lẹ, thoả măn
được sự thèm khát đi mau của chúng, c̣n
đem thêm cho chúng những điều mà chế độ
cộng sản không sao cho họ được. Lối
tiến tới ấy không phải là cái văn minh của
Tây phương cung cấp được, mà cũng không
thể bắt chước theo các nước cộng
sản mà có được. Nó là đường lối
ở giữa, thu nạp được cái hay của
mỗi bên, rồi tài bồi thêm những sở kiến
của ḿnh. Ta gọi nó là “trung đạo”. Nó giúp cho các
nước nhỏ giải thoát được nạn
chiến tranh nguội, đồng thời giúp cho cả
nhân loại xô dang ra xa cái hoạ chiến tranh thứ ba,
cũng như cái trung đạo xưa của Thích Ca Mâu Ni
giúp cho cá nhân giải thoát cái khổ nhỏ vậy.
*
Trung đạo tách dang xa đường lối buông
lung của tư bản chủ nghĩa, cái này làm cho
bần phú cách biệt, kẻ nghèo làm vật bị bóc
lột và áp bức của nhà giàu, làm cho b́nh đẳng và
bác ái trở nên những tiếng trống rỗng, làm cho
công b́nh mất hẳn, và do đó bao nhiêu bất b́nh nổi
lên, gây xung đột, mầm móng của chiến tranh
nội loạn. Trung đạo cũng tách dang xa
đường lối độc tài chà đạp tự
do và nhân phẩm của con người, ngăn đón
sự phát triển của cá nhân về bề cao để
san phẳng bề dưới. V́ vậy, mà đi ở
giữa, trung đạo sẽ là một xă hội chủ
nghĩa nhân đạo.
Bởi là nhân đạo, xă hội chủ nghĩa này
không bóc lột thợ thuyền và nông dân tận
xương tuỷ để tích luỹ theo lối sơ
khai số tư sản cần thiết hầu kiến
thiết kỹ nghệ một cách cấp tốc. Vă
lại có kỹ nghệ nhiều th́ nước chỉ
mạnh về vơ lực, mà bởi các thị trường
thế giới đều đầy nghẹt hàng hoá
rồi, sự kỹ nghệ hoá Á châu và Phi châu chưa
phải là lối hay để giải quyết các khó
khăn về kinh tế. Hiện nay nạn đói kém,
nhất là ở Tàu và Ấn Độ, đương giày
ṿ cả tỉ người, th́ điều mà nhân loại
đ̣i hỏi cấp bách hơn cả, là cuộc cách
mạng nông nghiệp ở Á châu và Phi châu. Áp dụng
đến triệt để máy móc trong nghề canh tác, áp
dụng hoá học để làm cho mùa màng tăng lên gấp
đôi gấp ba, áp dụng sinh vật để chọn
lựa giống tốt hơn, áp dụng tất cả khoa
học để chế tạo các đồ dùng từ
nông sản, thêm vào sự khai thác những rừng hoang minh
mông ở Đông Nam Á và Phi châu... đó là một
chương tŕnh cách mạng nông nghiệp sẽ tiêu
thụ được bao nhiêu sản phẩm kỹ
nghệ của Tây phương cũng như của
Đông phương và sẽ cung cấp thức ăn cho
bao nhiêu người đói kém cũng như nó sẽ làm giàu
cho hàng tỉ khách hàng của các nước kỹ nghệ.
Có số khách hàng này trước, sự kỹ nghệ hoá
các nước Á Phi sẽ đi sau chẳng muộn. Ấy
là, thay v́ sự người bóc lột người, một
sự tân khai thác thiên nhiên. Lấy vốn ở đâu mà chi
phí cho cuộc cách mạng nông nghiệp này? Câu hỏi này là
một cái thử thách cho thuyết viện trợ mà các
cường quốc cao rao trong mười mấy năm
nay. Nếu viện trợ mà không có ư nghĩa thầm kín
nuôi cuộc chiến tranh nguội, th́ đây là dịp
để viện trợ cho các nước yếu đó.
Tiến tới trong con đường của xă
hội chủ nghĩa nhân đạo th́ tất nhiên
nhẹ về oai trị bằng quân đội, công an,
cảnh sát mà nặng nề về đức trị
bằng luân lư và đạo đức. Vậy cần
một văn minh tu sĩ để rèn luyện, uốn
nắn, hun đúc người cho càng ngày cao quí đẹp
đẽ hơn. Cái văn minh tu sĩ này cũng tuyển
trạch giùm cho xă hội những cán bộ chánh trị,
kinh tế. Các tăng già xưa, sống bằng khất
thực như trong Phật giáo tiểu thặng, sống
bằng tự sức ḿnh làm như trong Phật giáo
đại thặng, không thể cung cấp các loại cán
bộ này được. Phải có những cán bộ
mới, lấy sự sáng suốt mà ḿnh nuôi sống ḿnh
đồng thời d́u dắt cho quần chúng sống
nữa. Một cán bộ là một tu sĩ thêm một chuyên
môn, chừng ấy đạo và đời nhất thống
rồi, đạo ấy mới thật là xử thế.
Đă có lúc tăng già đảm bảo được
sự giáo huấn và nền y tế của nhiều
nước ở Á châu, th́ cũng đến lúc cái tăng
già mới của minh đạo cung cấp được
cán bộ cho mọi ngành hoạt động.
*
Điều cốt yếu là nhịp phát triển kinh
tế đo bằng mức sống trung b́nh của dân chúng
và sức sản xuất theo đầu người, và
nhịp phát triển của xă hội của nghĩa
của những nước theo trung đạo đây
phải được mau lẹ hơn của những
xứ tương đương bên phía cộng sản.
Thiếu điều kiện này, quần chúng ắt bị
phương pháp độc tài thu hút mà mầm nổi
loạn không dập được.
Điều nên cố gắng kế đó là tận
dụng những tự do, do sự nhân đạo đảm
bảo, mà thu nhập những cái hay về khoa học,
về văn chương, về nghệ thuật của
cả đôi bên Đông Tây mà làm một cuộc tập
đại thành, để xâu dựng một cái văn hoá
mới. Có cuộc cách mạng văn hoá này, những
nước theo trung đạo mới quyến rũ
người lại, những phần tử bên Đông
cũng như bên Tây, theo đường lối của
ḿnh.
Việc thứ ba là năng gặp gỡ nhau, cũng
như ở Bandoeng, để vạch một
đường lối chung về chánh trị ngoại giao
quốc tế mà chủ đích là tránh nạn chiến tranh
nguội và chiến tranh nóng, để trao đổi kinh
nghiệm lẫn nhau và để giúp đỡ lẫn nhau.
Trong việc giúp đỡ này, phần quan trọng hơn
hết là thoả thuận một chương tŕnh di
cư, để cho những nước rộng
đất mà thưa dân mở cửa đón rước
số người thặng dư ở các nơi có hoạ
nhân măn và đói lạnh. Kế đến là việc trao
đổi cán bộ trong mọi ngành hoạt động,
những cán bộ len lỏi trong dân gian được và
ít đ̣i hỏi như các cán bộ do sự viện
trợ hiện hành.
Nếu có nhiều nước nhỏ như vậy mà
ở chung một vùng, như những nước nhỏ
ở Đông Nam Á, nhiều nước ở Phi châu, th́ nên
tổ chức lại thành Tổng liên bang, để xây
những viên đá đầu của cái xă hội
đại đồng. Được nhiều cái tổng
liên bang trung lập như vậy th́ cái viễn đồ
đặt thế giới trên thế chân vạc mới có
cơ thành tựu được.
Chiến tranh nội loạn ở các xứ nhỏ
dứt, th́ chiến tranh nguội không có cơ khởi nhúm
lên được. Chiến tranh nguội không nhúm lên
được, th́ sự tương tranh giữa hai
khối Đông Tây có thể gom về h́nh thứ đơn
giản hơn hết của nó là thử thách với
lịch sử coi chế độ nào thích ứng hơn mà
tồn tại. Để gom như vậy, cần phải
thuận ước nhiều điều như là sự
không dùng tinh lực nguyên tử để chế khí
giới, tài giảm binh bị và hạ bớt ngân sách
chiến tranh, giải quyết ổn thoả một
số vấn đề làm cho đôi bên găng nhau, tôn
trọng trung lập chế của các nước
nhỏ... Những bước đầu này khai mào cho
những thi thố có tính cách bền vững hơn, như
là giảm bớt chủ quyền của các cường
quốc và nhượng một mớ quyền hạn cho
Liên hiệp quốc, khoáng đại, để đi
tới một chính phủ liên bang thế giới gồm có
sự giải tán các quân đội quốc gia, để
thay thế bằng một đội quân cảnh sát
quốc tế, lập những cơ quan quốc tế
để thi hành những kế hoạch tài chánh, kỹ
nghệ, nông nghiệp, văn hoá chung cho cả loài
người.
Chừng nào đến thế giới đại
đồng rồi th́ mới hết sợ hoạ
chiến tranh và loài người mới bước vào
ngưỡng cửa của một ngươn thanh b́nh.
*
May mắn cho cả loài người, nếu có thể
tránh được nạn chiến tranh thế giới
thứ ba. Như vậy nó sẽ khỏi bị bắt
buộc đi lại khoảng đường đôi ba
thế kỷ mà sự tàn phá xô lùi nó trở lại. Trong cái
giả thiết mà một đôi nơi nhen nhúm
được mầm mống của trung đạo và
như vậy lách ḿnh ra ngoài cuộc binh lửa, th́ rủi
có chiến tranh thứ ba nổ ra, sau cuộc chém giết
và tàn phá rồi, những mầm mống ấy sẽ là
những nơi nhen nhúm cho cái văn minh mới. Mấy dân
tộc ấy sẽ dẫn đầu loài người
trong một hai trăm năm và văn minh nọ sẽ lan
tràn khắp địa cầu. Rủi hơn hết là minh
đạo chưa xuất hiện, mà thế giới
đại chiến đă nổ bùng, đâu đâu
đều chịu cảnh tang tóc và tàn phá chung, th́ một
khi chiến tranh dứt rồi, cái ư bây giờ mới gieo
ra, chừng ấy mới tràn lan ra được. Bởi
nghĩ như vậy mà tôi mới viết bài trầm tư
này.
Khi trầm tư, tôi muốn áp dụng lối tư
duy của Phật vào một vấn đề mới,
đem tứ thánh để làm khuôn, để dắt vào
đó vấn đề chiến tranh và hoà b́nh của
thời đại này. Tôi thấy cả hai
đường lối của Đông phương và
của Tây phương, đều đi ngang qua chiến
tranh mới đến cái hoà b́nh trong ấy ḿnh độc
chiếm thế giới. Đường lối thứ ba,
cái trung đạo, lấy hoà b́nh làm mục đích và
cũng làm phương tiện, hạp với từ bi và
bác ái mà cũng hạp với cao vọng của phần
đông các tôn giáo, và vạch thuyết ahima một lối
đi hợp lư. Làm như thế, trong đám rừng h́nh
như thượng học, nó không cho mọc chen một cây
nào mới để giành chỗ với những cội
cũ. Nó không giành phần nắm chân lư với một tôn
giáo nào hiện hành. Đặt một vấn đề
nhận thật một cái khổ, rồi t́m phương
giải thoát nhân loại khỏi cái khổ ấy, minh
đạo sẽ có thể đồng minh với nhiều
tôn giáo, nhiều phong trào hoà b́nh đang lan tràn khắp
thế giới. Nó có tràn lan mau lẹ chăng là nhờ len
lỏi theo lối ấy. Nhưng như thế, lắm
phần h́nh như thượng trong Phật pháp cần
phải chỉnh lại. Đó là sứ mạng của
người khai đạo, của Maitreya thời nay. Thích
Ca Mâu Ni thường ví cái pháp ḿnh như cái bè để
đưa người sang bờ bên kia. Hai ngàn năm
trăm năm qua, bây giờ không c̣n chỉ vượt qua
một con sông mà cần đưa cả loài người
vượt qua cái biển cả đầy sóng to gió
lớn. Nếu Maitreya t́m được phương pháp
nào thích ứng cho trọng trách mới th́ Thích Ca Mâu Ni là
người hoan nghinh trước nhất. Nhưng một
Maitreya có thể đem hoà b́nh lại chăng? Hay là hoà b́nh
phải do tất cả loài người cố gắng
mới đến được?
Đối với cái khổ tập thể, chỉ có
lối giải thoát tập thể mà thôi.
Côn Sơn, tháng Chín 1962
*
* *
Trầm tư thứ tư: Về nạn đói kém
Cái khổ đang làm mối lo âu hàng
ngày của hơn phân nửa loài người là nạn
đói kém. Không phải mới bây giờ mới có cái
khổ ấy. Vào thời của Thích Ca Mâu Ni, chắc
chắn là đă có nó từ lâu rồi, cho nên trong
đạo Phật, tăng già đặt sự bố thí
làm phép thứ nhất trong lúc đó, và tuy không viết
trắng ra, song dạy dân chúng sự nhẫn tùng
đối với sự nghèo khổ. Nhưng sau thế
kỷ mười chín, trong lúc ấy xảy ra những
cuộc cách mạng thợ thuyền ở Âu châu, và sau hai
cuộc cách mạng lớn của thế kỷ hai
mươi này, cách mạng Nga và cách mạng Tàu, th́ quần
chúng đói kém hết nghe những lời dạy nhẫn
tùng của các tôn giáo nữa. Các đảng chánh trị có
cơ sở tôn giáo như ở Đức, ở Pháp,
ở Ư đă thấy rơ điều này và ghi sự chống
nạn nghèo đói vào chương tŕnh của ḿnh. Đă
đến lúc mà Phật pháp phải đạt vấn
đề xử thế đối với bạn đói
kém này, bằng không th́ sẽ bị lịch sử quét bay ra
ngoài không phận của nó.
*
Lịch sử đặt vấn đề đói kém
này nặng nhất là cho Á châu, đặc biệt cho hai dân
tộc Ấn và Tàu hơn ở đâu tất cả, mà hai
xứ này, một xứ là nơi phát sanh của đạo
Phật, một xứ là nơi đạo này có tín
đồ đồng nhất. Ḷng từ bi, bác ái thúc
đẩy, viễn đồ nạn đói kém có thể
gây nội loạn nữa, làm cho hai xứ này phải đi
tiền đạo trong việc chống nạn đói, và
phương pháp của họ chủ trương sẽ là
bài học cho bao nhiêu dân tộc.
Trước năm 1949, v́ ảnh hưởng của
hơn tám năm chinh chiến, nước Tàu cũ phải
trải qua một cơn khủng hoảng trầm
trọng về đủ mọi phương diện, chánh
trị, tài chính, kinh tế, xă hội. Nạn đói tràn lan
khắp nơi làm động lực cho mấy trăm
triệu nông dân khởi loạn: cuộc cách mạng,
khởi từ các thôn quê hẻo lánh, bao vây các thành thị,
để rồi tràn ụp đến không phương
chống cự nổi. Nông dân, mượn học
thuyết của Marx, và đó là cái éo le của lịch
sử, đưa đảng cộng sản lên nắm
chính quyền mà giải quyết các vấn đề theo
lối độc tài. Riêng có nạn đói kém th́ không sao
đánh lui nổi. Chánh phủ bèn ban bố những
phương pháp độc tài hơn nữa, chế
độ công xă hiện ra, thế mà đói kém vẫn c̣n y
như cũ. Nếu chế độ công xă thất
bại, xui giục nông dân chống trả lại, th́
một điều tuyên truyền xấu cho chính sách
độc tài và làm giảm bớt ảnh hưởng
của nước Tàu đối với các dân tộc láng
giềng.
Ở Ấn Độ, chế độ tư
hữu điền địa được tôn trọng
hơn và tự do của nông dân được rộng răi
hơn. Nhưng sự gia tăng của sản xuất
về nông nghiệp không theo kịp sự gia tăng
của nhân số. Chánh phủ thi hành nhiều biện pháp,
trong ấy có sự kiểm soát sanh dục. Nhưng nạn
đói kém không v́ đó mà bớt được.
Ở Tàu cũng như Ấn Độ, để
cung cấp công việc cho một số đông thất
nghiệp, và tăng gia sản xuất, người ta
lập ra những kế hoạch kỹ nghệ hoá, V́
thiếu vốn lớn, nhất là v́ thiếu người
tiêu thụ, bởi các thị trường quốc tế
đều bị các nước khác chiếm hết và
cạnh tranh ráo riết, nên sự kỹ nghệ hoá hai
nước này không thể mau lẹ được. Không
xuất cảng sản phẩm kỹ nghệ, th́ lấy
tiền đâu mà nhập cảng thực phẩm
để bài trừ nạn đói? Bởi vậy cho nên,
đối với cả hai nước, muốn bài trừ
nạn đó, cũng như muốn tạo một số
người tiêu thụ cho kỹ nghệ, điều
cần thiết là gia tăng gấp đôi, gấp ba
sự sản xuất của nông nghiệp.
*
Muốn gia tăng sản xuất của nông
nghiệp, không cần phải có chế độ này, hay
chế độ kia, không cần phải nắm chính
quyền hay chỉ là một phong trào dân chúng. Điều
cốt yếu là cần động viên đa số nhân dân
hưởng ứng với cuộc cách mạng nông
nghiệp, cũng như gần hai thế kỷ rồi,
người ta đă hưởng ứng với cuộc
cách mạng nông nghiệp.
Cuộc cách mạng nông nghiệp không phải chỉ
làm một cuộc cách mạng điền địa.
Vả lại, như lịch sử nước Nga đă
chỉ trong năm mươi năm này, để
động viên đám nông dân, đảng cộng sản
nêu ra khẩu hiệu chia đất cho dân cày, thế
rồi mười mấy năm sau, Staline lại thâu
đất cát để lập đồn điền công
cộng và đồn điền Sôviết; và như
lịch sử của nước Tàu, chỉ trong khoảng
năm sáu năm thôi, chính phủ Tàu phải tịch thâu
ruộng đất của nông dân để lập công xă.
Thế th́, cuộc cách mạng điền địa
chỉ là một khẩu hiệu chánh trị để
lừa gạt nông dân, chớ không thay đổi ǵ
được trong nông nghiệp.
Muốn làm cách mạng trong nông nghiệp, cần
phải áp dụng phát minh tối tân của khoa học
để gia tăng sức sản xuất lên gấp
đôi, gấp ba. Điều này ta thấy có thể làm
được, nếu ta so sánh năng suất của
mỗi mẫu ruộng ở các nước: ở Á châu và
Phi châu việc canh tác c̣n thủ cựu và thô sơ, nếu
chỉ áp dụng được những phương pháp
hiện hành ở Âu, Mỹ th́ là một cuộc thay
đổi lớn lắm rồi. Những rừng hoang có
thể khai phá, một phần trồng lại, một
phần đổi làm ruộng rẫy, sẽ tăng thêm
số mẫu đất được trồng trọt.
Nhờ những cách trồng cây không đất, một
mớ triền núi kém đất sẽ cản xuất
được.
Cuộc cách mạng nông nghiệp này cần phải
động viên cho nông dân hưởng ứng và huấn
luyện cho họ thuần thực được các phép
canh tác mới. Những cơ quan của chánh phủ gánh hai
trách nhiệm này đă đành, mà các nhà sư có thể
trở nên những cán bộ tuyên truyền đắc
lực và các nhà chùa, rải rác khắp nơi ở thôn quê
có thể biến thành những trường canh nông
thực nghiệp. Thay v́ chờ có bạn đói rồi
đi quyên tiền để chẩn bần, các nhà chùa có
thể chống nạn đói nơi căn cội của
nó là sự kém sản xuất về nông nghiệp. Họ
cũng có thể tổ chức dân nghèo thành những
đoàn thể để đi khai phá thêm đất hoang
để trồng trọt, miễn cho xứ
được nạn khất thực.
*
Tránh cái nạn khất thực, của bần dân
cũng như của tăng già, ấy là cung cấp
một số tay làm cho nông nghiệp chuyển từ
lối canh tác theo bề rộng qua lối canh tác tập
thúc và khai phá thêm hoang vu. Mà như thế, ấy là
đổi cả nếp sống, đổi cả một
cái văn minh, nhất là của phái tiểu thặng.
Thay đổi được nếp sống rồi,
mấy nhà sư có thể biến thành những
người cầm đầu các đoàn di cư, rời
những nơi quá trù mật dụ người làm
đến những chỗ thưa thớt cần khai phá
thêm mà lập những điểm dinh điền mới,
áp dụng những phương pháp canh tác mới.
*
Có một phong trào như thế và khá mạnh rồi,
th́ mới có thể đặt vấn đề di cư
từ nước này sang nước kia, trên lănh vực
quốc tế. Các nước rộng đất, thưa
dân, nhiều rừng, mới có thể đón rước
mớ nhân công thuần thục và có kỷ luật, họ
đem đến sự phồn thịnh và an ninh với
họ.
*
Những việc trên đây, nếu đạo
Phật cứ chấp cái cũ mà không chịu cải
tiến canh tân, th́ chắc chắn sẽ không c̣n bao lâu
nữa sẽ bị đào thải. Bởi v́ nói giải
thoát con người, mà để cho con người bị
nạn đói kém mà phải sa đoạ, là việc không thể
dung được.
Trái lại, nếu đạo Phật dẫn
đầu được cuộc cách mạng nông
nghiệp mà chống nạn đói kém được
đắc quả, th́ đạo Phật làm
được một việc hi hữu. D́u dắt
được cả tỉ nông dân ở Á châu, đạo
Phật sẽ làm gương cho các dân tộc ở Phi châu,
được cảm t́nh của họ, mới có cơ
tràn lan qua Phi châu được. Hai thế kỷ
trước, ở Âu châu cũng có nạn cơ cực.
Nhờ cách mạng công nghiệp mà Âu châu giải quyết
nhiều vấn đề, kể cả cuộc cách
mạng văn hoá, là phong trào dân chủ. Đến nay, Á
châu bị vào lối nghẽn, bởi tiến tới trễ,
mà lắm dân tộc chọn lối độc tài, thủ
tiêu tự do của con người để nêu cao cái
lịnh của đoàn thể. Nếu đạo Phật
mở rộng được lối nghẽn ấy, th́
thay vào sự giải thoát cá nhân cũ xưa, đem lại
cho số đông sự giải thoát tập thể.
Điều mà tôi mong muốn vậy.
Nhưng lúc ấu đạo Phật hết c̣n là phái
đại thặng. Ta gọi nó là minh đạo, dùng danh
từ mới mà gọi cái mới vậy.
*
Đứng về một mặt khác mà xét, th́ chủ
nghĩa cộng sản ở Tàu cũng bị vấn
đề đói kém bức bách mà phải vượt đi
xa hơn học thuyết của Marx, xa hơn phương
pháp của Staline. Cuộc cách mạng chánh trị, đă
lấy nông dân làm chủ lực, làm cho những nhà lư
thuyết phải suy nghĩ nhiều rồi, và lắm
người cho rằng chủ trương của họ
Mao không theo lề lối của Marx nữa. Nếu mai kia
mà ở Tàu đảng cộng sản buộc ḿnh phải
làm cuộc cách mạng nông nghiệp nữa, th́ thêm một
lần, nông dân lại làm chủ lực cho cuộc cách
mạng kinh tế.
Rồi cái chánh trị độc tài phải
nhượng bộ ít nhiều cho nông dân, cũng như
hồi xưa ở Nga, Lénine nhượng bộ cho họ
mà thi hành Tân kinh tế chính sách (NEP). Rồi đường
lối của Nga và đường lối của Tàu
sẽ lần ra, bàn cờ thế giới đổi
nước. Đó là điều mà nhà làm chánh trị nên
chủ ư tới.
Mà điều đáng chú ư hơn nữa là sự thay
đổi song song, một bên của đạo Phật,
nếu có, một bên của chủ nghĩa cộng
sản, mỗi bên cổi bỏ những lỗi thời
của ḿnh, thêm áp dụng những phát minh của khoa
học, triết học từ hồi Marx qua đời cho
tới bây giờ, để làm một cuộc tập
đại thành. Th́ chừng đó không c̣n chủ nghĩa
cộng sản nữa, mà cũng chẳng c̣n đạo
Phật nữa. Một cái lư tưởng mới xuất
hiện, thích ứng với loài người của
cuối thế kỷ hai mươi và của thế
kỷ thứ hai mươi mốt.
*
Để giúp cho sự tổng hợp này xuất
hiện được, một vài nước nhỏ
ở Đông Nam Á có một vai tṛ chẳng nhỏ. Tôi
nghĩ trước nhất đến nước Miến
Điện v́ ở đây, đạo Phật thịnh hành
xă hội chủ nghĩa cũng nhiều nhựa sống,
lại ở đây giàu lúa gạo. Nếu hợp nhất
được đạo Phật và xă hội chủ
nghĩa để gây một phong trào chủ lực cho
cuộc cách mạng nông nghiệp, th́ Miến Điện
sẽ xuất cảng lúa gạo nhiều gấp bốn
năm lần, giúp cho Tàu và Ấn Độ có chỗ mua
gạo mà đồng thời nêu một cái gương sáng
tỏ. Xă hội chủ nghĩa ở Miến Điện
không có độc tài như chủ nghĩa cộng sản,
th́ sự tập đại thành với đạo Phật
có cơ dễ dàng hơn. Cái khổ là ở bên đạo
Phật: chẳng biết phát tiểu thặng ở đây
có vươn ḿnh nổi để làm cuộc cách mạng
văn hoá này chăng?
Nếu ở Miến Điện mà thành công
được cuộc cách mạng nông nghiệp và cuộc
cách mạng văn hoá, th́ ảnh hưởng của sự
thành công này sẽ tràn lan qua các nước gần Đông
Nam Á và Ấn Độ, rồi đến lượt các
nước Tàu. Chừng ấy đặt vấn
đề tổng liên bang ở Á châu có thể
được hưởng ứng: điều này tuỳ
nơi có chiến tranh thế giới thứ ba cùng
chăng?
Nếu sớm thực hiện được
cuộc cách mạng nông nghiệp và cuộc cách mạng
văn hoá cho Đông Nam Á, rồi rủi có chiến tranh
thế giới thứ ba nổ bùng ra, Đông Nam Á nên lách
ḿnh ra ngoài ṿng binh lửa để sau chiến tranh cứu
độ cả loài người khỏi nạn đói kém,
dĩ nhiên sau cơn tàn sát. Đó là một viễn
đồ nêu ra để cho nhà cầm quyền ở
Đông Nam Á lưu ư tới.
Đến đây, tôi chỉ nghiên cứu nạn
đói và cách chống lại nó bằng những
phương pháp tự lực. Nhưng từ khi có Liên
hiệp quốc và chánh sách viện trợ của các
cường quốc, th́ ta cũng chớ nên bỏ qua vấn
đề này.
Bấy lâu nay, sự viện trợ này không phù hợp
với những sự nhu cầu khẩn thiết của
các nước được viện trợ. Người
ta giúp tài chánh nhiều để tổ chức quân
đội, cảnh sát và công an mạnh hơn chứ không
phải để làm những công cuộc dẫn thuỷ
nhập điền khai phá hoang vu. Người ta viện
trợ súng đại bác, xe tăng và tàu bay hơn là giúp máy
cày gặt hay phân bón. Những ngoại tệ
được giúp không dùng để mua máy móc cho nông
nghiệp, mà để cho các giai cấp hữu sản mua
xe hơi và tủ lạnh. Những học bổng cho sinh
viên là cốt rèn luyện cho chúng trở nên cán bộ
của giai cấp hữu sản chứ chẳng cố
gắng đặc biệt đào tạo cán bộ cho nông
nghiệp. Các cố vấn gọi qua không có vị nào chuyên
cho ngành này.
Nay đến lúc “phản kỳ sở vi” mà tập
trung năng lực lại giúp cho Á châu thoát nạn đói
kém. Cần yếu nhất lá được vay dài hạn
để làm vốn cho mọi khuếch trương nông
nghiệp như các công cuộc dẫn thuỷ nhập
điền, khai phá đất hoang, mua sắm máy móc và phân
bón, cất kho vựa, dựng các nhà máy chế nông
sản...
Có viện trợ như thế th́ các dân tộc
được viện trợ mới biết cám ơn các
nước đi viện trợ.
*
* *
Trầm tư thứ năm: Về nạn nhân măn
Từ đầu thế kỷ hai
mươi, đă có nạn nhân măn. Nhiều nước
kỹ nghệ, nhưng dân số quá trù mật, nhiều
nước nông nghiệp, mà thiếu đất để
trồng trọt hoặc thiếu vốn để khai thác
thêm chỗ cày cấy, nên rất khốn đốn v́
nạn này. Lắm nơi, đă thành nguyên nhân cho sự
đói kém. Nhiều chỗ, nó đă thôi thúc cho lắm phong
trào chánh trị, đem rắc rối tăng thêm sự
rắc rối.
Để giải quyết nạn nhân măn này, một
đôi cường quốc đă chủ trương
đ̣i đấy để sống, và mượn cớ
đó mở ra những cuộc chiến tranh chinh phục,
như Ư ở A-bit-xi-ni và Nhựt ở Măn Châu, nối
tiếp các cuộc chiến tranh thực dân của thế
kỷ thứ mười chín. Nhưng cuộc chiến
tranh thế giới thứ hai kéo màn mở lớp cho
cuộc tranh đấu giải phóng ở tất cả các
nơi bị trị, Á châu và Phi châu đă thức tỉnh
và mang hia bảy dặm mà rượt theo các nước
tiền tiến. Th́ t́nh thế này làm cho sự đ̣i
hỏi trên kia hoá ra ảo vọng, nếu c̣n đeo măi cái
mộng xâm lăng.
Mà dầu có đạt được cái ảo
vọng này, chánh sách dùng chiến tranh để xâm chiếm
đất thêm là một biện pháp phản kinh tế.
Sự hao tốn về chiến tranh, nhất là với
chiến tranh hiện thời, rất nhiều, sánh với
số vốn cần thiết để thực hành
một cuộc công nghiệp cách mạng đủ nuôi
được số dân tính di cư sang đất
thưa. Những thủ lănh chánh trị khôn ngoan không
thể nào chọn lựa một phương pháp tai
hại như vậy. Vả lại, đốt ng̣i cho
một cuộc chiến tranh xâm lăng, biết chắc
sẽ nắm được phần thắng trong tay
chăng? Việc Nhựt lấy Măn Châu rồi đánh luôn
nước Tàu, chiếm cả Đông Nam Á, rồi thua,
việc Ư thất bại ở A-bi-xi-ni, sự thắng
lợi của các cựu thuộc địa trong các
cuộc chiến tranh giải phóng, sự thắng lợi
của Ai Cập trong cuộc xung đột ở Trung
Đông..., tất cả các điều ấy đều
chứng tỏ rằng chiến tranh là bất lợi.
*
Hiến đất để sống cho các dân tộc
mang nặng hoạ nhân măn, th́ hoạ may có lợi là khi dùng
biện pháp thoả thuận hoà b́nh, tức là phải làm
sao cho những nước rước dân mới vào
thấy có lợi và có vui mà mở cửa.
Trước nhất là miễn cho các nước
đón rước ấy những cái hiểm hoạ
hoặc những điều phiền phức. Mà cái
hiểm hoạ đầu tiên là sự mất an ninh chánh
trị: nếu cho dân kiều cư đến ở mà chúng
đem theo những rắc rối như là gây các cuộc
khởi loạn, th́ chẳng có nước nào bằng ḷng.
Về điểm này, gương của Tàu, th́ năm
cộng sản lên nắm chánh quyền nên chẳng có Hoa
kiều xuất ngoại được, là một
gương làm cho các nước bị hoạ nhân măn nên nghiền
gẫm. Kế đến là nạn trộm cướp, do
bọn bất lương mang đến, làm cho chánh
quyền phải hao tốn rất nhiều để
đàn áp. Sau cùng là nạn thất nghiệp do sự cho vào
những kẻ không sanh kế, rồi phải làm thứ
ăn hại của xă hội. C̣n một viễn
đồ cần phải cố tránh trước, là
đừng để cho dân trong xứ đón rước
thấy một ngày mai sau họ sẽ trở nên là
thiểu số đối với một chủng tộc
nào khác đến, rồi họ phải diệt tộc
cũng như người da đỏ bị ở Mỹ
châu.
Nói như thế, tất phải có một kế
hoạch quốc tế để dời dân ở các
nơi trù mật đến những nơi c̣n thưa
thớt và cần dùng tay là để khai phá thêm. Theo kế
hoạch này, cần phải làm hiển hiện những
quyền lợi cấp thời và vĩnh viễn của
những xứ đón rước, cũng như trong
thế kỷ mười tám và mười chín, sự di
cư sang Mỹ châu đă làm cho châu này từ bán khai
nhảy vọt đi đầu trong lịch sử.
Cũng cần cho những nước khác, không có dân
cần di cư mà cũng chẳng có quyền lợi ǵ
đón rước người di cư, nhận thấy
những quyền lợi to mà ủng hộ một kế
hoạch như thế không ngoài một cuộc cách mạng
nông nghiệp ở cấp bực quốc tế. Cuộc
cách mạng này, có thể thi hành xong trong vài chục năm,
sẽ cung cấp đầy đủ thực phẩm cho
các dân tộc ở toàn địa cầu, thêm nhiều nông
sản nguyên liệu cho kỹ nghệ, sẽ đào
tạo thêm một số khổng lồ khách hàng mới cho
kỹ nghệ phẩm nhờ mức sống của nông
dân lên cao, đổi những xứ bán khai thành những
nước trù phú và phân phối lại dân cư trên trái
đất.
Nếu có được một chánh phủ liên bang
thế giới để chủ trừ kế hoạch này
th́ các vấn đề pháp lư, tài chánh, kỹ thuật,
chuyên môn đều có đủ điều kiện
để giải quyết. Nhưng một Liên hiệp
quốc, như bây giờ, v́ muốn có một viễn
đồ an ninh công cộng, có thể đề
xướng ra một kế hoạch tích cực như
thế. Công việc có hơi chậm trễ và khó khăn
hơn, nhưng không phải là không thi hành được.
*
Vấn đề nhân măn, nhờ cách mạng nông
nghiệp ở thứ nguyên quốc tế mà tạm
đánh lui được vài ba trăm năm, song sẽ
hiện tại, lần này không có phương pháp giải
quyết nào khác hơn là sản xuất thực phẩm
bằng kỹ nghệ, bằng phương pháp tổng
hợp, rút chất C, Az, N, O, H,... ở trong thiên nhiên mà
chế các loài ăn cần dùng, thay quyền của tạo
hoá mà thực hiện các thức tổng hợp bấy lâu
nay chỉ xảy ra trong cây cối hay trong thân thể các
loài thú. Tôi tin rằng trong vài ba trăm năm nữa, hoá
học đă tiến bộ đến mức ấy.
*
Nhưng rồi ít trăm năm nữa, trái
đất sẽ quá chật, v́ số người tăng
lên đến gấp ba gấp năm. Đến chừng
ấy, vấn đề di cư loài người từ
trái đất lên cung trăng, sang Hoả tinh (mars) và Kim tinh
(vénus)... phải đặt ra mới mong có biện pháp.
Hiện nay, khoa học đi tới với một tốc
lực ngày càng gia tăng thêm, th́ chúng ta có thể hy vọng
thực hiện được chương tŕnh này.
Nhưng ngay từ bây giờ, cần phải kể sự
nghiên cứu và đặt những viên đá đầu tiên
của việc ấy.
Việc thứ nhất là dời qua các hành tinh ấy
không khí để nuôi sống vạn vật và nước
để nuôi sống cây cỏ. Muốn dời các thứ
này phải sẵn có những nguồn tinh lực vô tận
và rẻ tiền. Tôi nghĩ đến tin lực của
vũ trụ, bấy lâu nay đă gây được
nhiều cuộc biến thiên lớn, như là làm cho
quả địa cầu mấy lần thay trục, làm cho
mặt trăng tách rời trái đấy để thành
một vệ tinh, ắt có thể giúp cho ta dời sang qua
các nơi kia nước và không khí cần thiết.
Hễ đem bớt nước đi, th́ mực
nước của các đại dương và các biển
có thể sụt xuống độ mấy trăm
thước. Điều ấy làm cho bày thêm đất
liền cho các địa lục và mọc lên nhiều
đảo giữa các biển. Ấy là những
đất thêm cho người ở và trồng trọt.
Ấy cũng là một cách giải quyết tạm bợ
nhỏ nạn nhân măn, dùng được cho một hai
thế kỷ.
*
Khi mà di cư được một hai tỉ
người sang qua mặt trăng hay sang qua các hành tinh
kế cận, th́ chẳng những giải quyết
được nạn nhân măn, mà có thể giảm bớt
sự đe doạ của chiến tranh bằng cách
thoả thuận nhau mà dời người cùng lư
tưởng nhau sang cùng một hành tinh. Như vậy
sẽ có bao nhiêu thế giới khác nhau về lư
tưởng mà bởi ở xa cách nhau quá, nên ít có dịp
xung đột với nhau. Giữa hành tinh Hoả tinh (mars)
và Mộc tinh (jubiter pata), có hàng ngàn hành tinh nhỏ
để cho loài người giải quyết vấn đề
trên một cách ổn thoả.
*
Dầu di cư có đông đến thế nào, th́
lối giải quyết vẫn là một lối tạm
bợ có giá trị trong một thời hạn nào mà thôi.
Lối giải quyết vĩnh viễn phải là sự
kiểm soát sanh dục như phần đông các nhà bác
học đă chủ trương.
Côn Sơn, tháng Mười Một 1962
[1]Thắng hay bị diệt.
[2]Kẻ bị đày địa ngục
[3]Đường trực tuyến.
Nguồn: Hồ Hữu
Tường, Trầm tư của một tên tội
tử h́nh, Lá Bối ấn hành lần thứ nhất,
xong ngày 20-8-1965 tại ấn quán Sen Vàng. Ngoài những
bản thường c̣n in thêm 100 bản trên giấy quư dành
riêng cho tác giả và nhà xuất bản. Giấy phép số
199/HĐKD – Huế, ngày 15-6-1965. Bản điện tử
do talawas thực hiện.