Hồ Hữu Tường và cái
nghiệp làm báo
BS Trần Nguơn Phiêu
Trong giới những nhà viết văn, rất nhiều
vị đă đi vào làng báo v́ tự biết ḿnh có thiên phú
văn tài, cần phải có đất dụng vơ
để nuôi dưỡng tài nghệ. Lần lần
về sau, việc viết lách, ngoài sự đem lại danh
tiếng, thúc đẩy sự dấn thân vào nghiệp
văn chương lại c̣n giúp họ thực sự
lấy việc viết văn làm một nghề sinh
sống.
Hồ Hữu Tường cũng
ở vào t́nh trạng nói trên, nhưng ngoài ra ông lại c̣n là
người mang nặng cái nghiệp phải viết,
phải say mê nghề báo chí v́ ông thấy cần phải
giăi bày và tranh đấu cho việc thành tựu những
ước vọng của đời ḿnh.
Hồ Hữu Tường đă đi
vào việc viết văn rất sớm, và cũng như
những việc sẽ xảy ra về sau này, chuyện
viết lách thường đưa ông vào nhiều tai
họa.
Ngay khi mới bước chân vào
trường Trung học Cần Thơ, học sinh H.H.
Tường cũng như các anh em bạn trẻ khác,
đă thấy ḷng sôi sục khi đọc những bài
tường thuật hằng ngày trên Đông Pháp Thời
Báo đăng tải vụ cụ Phan Bội Châu bị
đưa xử ở ṭa Đề H́nh Hà Nội. Việc
này đă đưa đến việc thực hiện
một tuần báo viết tay, với những bài nặng
mùi ái quốc. Các tác giả non trẻ này về sau là
những tên tuổi thành danh như Ung Văn Khiêm, Tổng
trưởng Ngoại giao của chánh phủ đầu
tiên của Hồ Chí Minh, Trần Thiêm Thới gốc Hà Tiên
dáng cao như cây tre nên lấy bút hiệu Trúc Hà, sau này
cộng tác viết tạp chí với Đông Hồ. Hồ
Hữu Tường, lúc này có lẽ v́ bụng hơi to nên
được các bạn đặt biệt hiệu là
Tường Bụng, dịch ra tiếng Pháp là Ventru và nói
lái lại thành Vutren. V́ thế nên trên tờ báo viết tay
này, H.H. Tường v́ viết bài tiếng Pháp, nên đă
chọn bút hiệu là Pierre Vutren. Báo lọt vào tay ban Giám
Đốc của trường và v́ báo có nội dung chánh
trị, các kư giả tí hon đều bị đuổi!
Không hi vọng được trở lại học, Pierre
Vutren (!) vận động để được sang
Pháp học.
Hồ Hữu Tường phen nầy
đă quyết để tâm trí vào việc học, nhưng
đến dịp lễ Giáng Sinh 1927, anh sinh viên trẻ này
lại có được dịp đến Marseille dự
buổi diễn thuyết của hai nhà hùng biện
Dương Văn Giáo và Trịnh Hưng Ngẫu. Ngẫu
hẹn cho Tường đến gặp sau buổi
diễn thuyết và nơi đây Tường lại có
dịp gặp thêm Nguyễn Thế Truyền và Tạ Thu
Thâu.
Tường khi đó chỉ vào
khoảng mười tám tuổi nhưng đă có tiếng
là học giỏi, nhứt là môn toán. Nguyễn Thế
Truyền - một trong năm người có tiếng
của nhóm “Ngũ Long” ở Paris ( Phan Văn Trường,
Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Tất Thành,
Nguyễn Thế Truyền) -, đă khuyến khích và rủ
Tường : “...làm cách mạng phải là những tay
học giỏi. Chớ học trong lớp mà “ cầm
cờ”, rồi ra làm cách mạng, bọn thực dân nó
chê tụi ḿnh là tụi ratés, nên giả vờ làm cách
mạng để cứu thể diện”.
Trịnh Hưng Ngẫu th́ dạy Tường: “ ...nên
noi gương Nguyễn An Ninh, muốn làm cách mạng
đắc lực, phải viết báo cho hay. Không làm cách
mạng mà viết báo hay, cũng có lợi. Đây là qua
dạy em cái bí quyết để thành công trong đời
đó ”
Sau Đại học Marseille, H.H.
Tường ghi danh vào Đại học Lyon để
nạp luận án thi Cao học Toán trong khi ở Việt Nam
có tin về cuộc khởi nghĩa Yên Bái của nhóm
Nguyễn Thái Học. Việc thực dân Pháp ở Việt
Nam ra tay khủng bố, đàn áp dân chúng sau cuộc bạo
động đă làm sôi sục tinh thần yêu nước
của các sinh viên ở Pháp. Tường nôn nóng mong lên
được Paris để tham gia vào các hoạt động
kêu gọi chánh giới Pháp làm áp lực với chánh phủ
ngưng các bản án xử tử h́nh các nhà ái quốc
Việt Nam. Không cần chờ biết kết quả, sau
khi tŕnh luận án, Tường đă từ giă Lyon
để lên kinh đô Paris. Tường đă
được Tạ Thu Thâu tiếp đón ở nhà ga Lyon
và đưa về trú ngụ ở nhà của Huỳnh
Văn Phương (Chú của Huỳnh Tấn Phát, Chủ
tịch Chánh phủ Lâm thời Miền Nam, Việt Cộng
sau này). Ở Paris, Tường đă có cơ hội
gặp gỡ những nhà ái quốc lưu vong như
Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường,
Nguyễn Văn Tạo, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Phan
Văn Chánh v.v...Vào thời buổi này, Tạ Thu Thâu đang
phụ trách đảng P.A.I (Parti Annamite de l’Indépendance,
tức đảngViệt Nam Độc Lập) cho
Nguyễn Thế Truyền v́ Truyền trở về
Việt Nam. Đảng P.A.I. lại bị nhà cầm
quyền Pháp giải tán sau một cuộc xung đột
ở quán Café Turqueti, ngày 9-1-1929, với một nhóm
người Việt thân Pháp. Theo lời khuyên của Phan
Văn Trường, việc tái lập đảng P.A.I.
đă không được tiếp tục và đă
được thay thế bằng một tập hợp có
tên là “Nhóm Việt kiều tại Pháp”(Les Émigrés vietnamiens en
France). Nhóm cũng quyết định không ra báo công khai
như trước của đảng P.A.I. mà chỉ làm báo
bí mật lấy tên là Tiền Quân để làm cơ
quan của nhóm.
Hồ Hữu Tường
được giao phó làm chủ nhiệm báo Tiền Quân
v́ Tường là gương mặt mới ở Paris, c̣n
trẻ và nhiều rảnh rỗi, chưa bị Pháp theo dơi
các hoạt động. Phan Văn Hùm v́ đă có chân trong làng
báo từ năm 1923 nên lănh chức chủ bút. Thành viên
của bộ biên tập toàn là những nhân vật sau này
được dân chúng miền Nam ngưỡng mộ
như Tạ Thu Thâu, Hồ Văn Ngà, Phan Văn Chánh,
Huỳnh Văn Phương, Lê Bá Cang...Mặc dầu là báo
được viết tay ( do chủ bút Phan Văn Hùm
thực hiện!), nhưng cũng được tŕnh bày
thành cột như báo in và được làm bản kẽm
để in đẹp. Hồ Hữu Tường đă
hănh diện về sáng kiến chụp làm bản kẽm
nầy, một kỹ thuật “tiền quân”.
Số phận báo Tiền Quân là
một số phận ngắn ngủi v́ chỉ ra
được một số đầu mà cũng là số
chót v́ Tạ Thu Thâu đă tổ chức một cuộc
biểu t́nh trước điện Élysée là dinh Tổng
Thống Pháp để xin giảm án cho các liệt sĩ Yên
Bái bị kết tội tử h́nh. Sau cuộc biểu t́nh
lịch sử ngày 22 tháng 5 năm 1930 nầy, chánh quyền
Pháp đă ra lịnh bắt và trục xuất về
Việt Nam 19 sinh viên ái quốc. Báo Tiền Quân lúc
ấy đang in, chưa kịp phát hành. Toàn bộ biên
tập đă bị bắt chỉ trừ có chủ
nhiệm và chủ bút may mắn thoát được.
Bạn bè người Pháp đă tổ chức cho Hồ
Hữu Tường và Phan Văn Hùm vượt biên sang
nước Bỉ.
Cả hai đă phải trốn tránh
ở Bỉ gần hai tháng, đến ngày 14 tháng 7 , ngày
lễ Quốc Khánh Pháp mới lén trở lại Pháp. Trong
thời gian ở Bỉ nầy, H.H. Tường đă
được Phan Văn Hùm giúp huấn luyện lại
Việt văn v́ Tường có thói quen dùng quá nhiều
từ Hán Việt. Khi c̣n nhỏ, Tường chỉ có
được dịp đọc Nam Phong nên đă
nhiễm lối viết văn của Phạm Quỳnh. Hùm
cũng dạy Tường về việc làm thơ
Đường. Tường đă từng công nhận là
đă nhờ Hùm rất nhiều trong cái lối “học
bạn khác với học thầy” này. Tường
thuật lại việc một hôm đă quá trưa,
bụng đói, đi với Hùm nhưng Hùm vẫn c̣n
dạy Tường học làm thơ. Hùm xướng
một câu, bắt Tường làm câu kế tiếp. Câu
thứ nhất, Hùm xướng:
Túng nước sang qua Bỉ Lợi
Th́,
Tường nhớ lại cảnh
ngày hôm trước nên tiếp:
Hai đứa chia nhau một bánh ḿ.
khiến Hùm phải la:
- Âm điệu là âm điệu
của câu thứ tám.
Hùm phải thú thật:
- Tôi cũng biết vậy. Nhưng
đói quá rồi. Làm cho đủ mấy câu giữa, th́ ră
ruột!
Những ngày vượt biên lánh
nạn ở Bỉ đă giúp H.H. Tường và P.V.Hùm có
dịp gặp gở nhiều nhân vật chánh trị
lưu vong có tiếng tăm, nhất là những
người thuộc tả phái. V́ vậy khi trở
lại Pháp, Tường và Hùm được André Rosmer,
chủ nhiệm báo La Vérité, cơ quan của nhóm
Tả Đối Lập Pháp thuộc cánh Trotsky, giành cho
cơ hội được viết tŕnh bày quan
điểm người Việt với điều
kiện chỉ dùng chung một bút hiệu mà thôi. Hai
người v́ vậy thường viết hằng
tuần trên báo nầy dưới danh xưng “Giải
Phóng”.
V́ Tạ Thu Thâu, Phan văn Chánh,
Huỳnh Văn Phương... đều bị trục
xuất về Việt Nam, Tường đă phải giúp
thực hiện tập san quay ronéo nhưng chỉ
để phân phát cho độ vài chục người,
khiến Tường lấy quyết định trở
về xứ.
T́nh cờ, H.H. Tường gặp
Đào Hưng Long, một nhân vật trước thuộc
đảng Lao Động, từng được cử
làm Đặc ủy miền Tây, nhưng v́ có việc
bất đồng chánh kiến nên về Cà Mau tổ
chức một đoàn thể khác. Đào Hưng Long
hợp tác với nhóm của Tạ Thu Thâu thành lập
tổ chức Đối lập Tả phái ở Đông
Dương. H.H. Tường phụ trách tạp chí lư luận
Tháng Mười cho tổ chức.
Cơ quan biên tập và in ấn do
Đào Hưng Long phụ trách và được đặt
trong một cḥi lá, cất bên mé rạch Cầu Chong ở
Thị Nghè. Một nữ đồng chí tên Huệ Minh
đă được đoàn thể gởi đến
đây và về sau là người bạn đời của
H.H. Tường. Tạp chí Tháng Mười cũng
như các sách huấn luyện đều được in
theo lối in xu xoa nhưng đă được cải
tiến. Xu xoa thay v́ đổ vào khuông chỉ in
được một lần, th́ nay được
đổ vào một hộp thiếc dày, trong có đặt
nhiều tấm kiếng có gỗ kê cách nhau khoảng
một phân. Mỗi miếng kiếng sẽ giúp có
được hai mặt xu xoa láng, tốt hơn mặt xu
xoa tự nhiên.
Cơ quan ấn loát bí mật nầy
được duy tŕ khá lâu, nhưng đến tháng Chín
năm 1932 th́ bị phát giác. Đào Hưng Long và Huệ Minh
bị bắt. Tạp chí Tháng Mười đành
phải ngưng hẳn v́ Hồ hữu Tường
cũng bị bắt hai tháng sau đó, vào ngày lễ Đ́nh
chiến 11 tháng Mười một, 1932. Đó là lần
thứ hai H.H. Tường làm báo bí mật; lần này
được duy tŕ lâu hơn lần đầu tiên khi
tờ Tiền Quân chỉ ra được có một
số độc nhứt.
Trong bót mật thám Catinat, bị
nhốt riêng một ḿnh trong một buồng nhỏ, không
biết được ngày ra, H.H. Tường sợ có
thể bị quẫn trí phát điên nên đă theo
gương một nhà cách mạng Nga là Bakounine tự sáng
lập một tờ “báo nhẩm”. Bakounine chủ
trương cách mạng vô chánh phủ (Anarchisme) và bị
chế độ Nga hoàng nhốt tù. Bakounine chủ
xướng mỗi ngày ra “báo nhẩm”, xuất bản
hằng ngày như ngoài đời, với đủ chi
tiết : xă thuyết, b́nh luận thời cuộc, tin
tức (bịa đặt), văn chương tiểu
thuyết v.v...Tường đặt tên tờ báo của
ḿnh là Thiên Thu lấy trong câu thơ “nhứt nhật
tại tù, thiên thu tại ngoại”. Tường đă
“xuất bản” được 70 số báo Thiên Thu
trong bót Catinat và chỉ đ́nh bản khi được
chuyển qua Khám Lớn v́ nơi đây không c̣n nạn
bị nhốt riêng. Sau nầy H.H. Tường vẫn c̣n
nhớ được chuyện tiểu thuyết đă viết
trong Thiên Thu và năm 1967, đă kể lại trong
lời tựa của tác phẩm “Người Mỹ
Ưu Tư ”.
Trước khi bị bắt, trong
thời gian phụ trách tạp chí bí mật Tháng
Mười, H.H. Tường cũng đồng thời
đă thực sự bước vào làng báo công khai.
Tường được mời hợp tác viết trong
tờ Nam Nữ Giới Chung của hai kư giả có
tiếng thời bấy giờ là Cao Hải Đễ và
Trần Hữu Độ. Trần Hữu Độ là
một nhà nho có óc tiến bộ, đă t́m cách thức
tỉnh đồng bào bằng cách phổ biến tư
tưởng của Lương Khải Siêu, Khương
Hữu Vi...V́ vậy nên tờ Nam Nữ Giới Chung chỉ
ra được một số là bị cấm! Khởi
đầu làm báo bí mật Tiền Quân, chỉ ra
được một số, nay bắt qua làm báo công khai,
lại cũng ra được có một số: Hồ
Hữu Tường quả đă mang một cái nghiệp
lạ đời!
Sau hơn ba tháng thất nghiệp, H.H.
Tường có dịp may được mời gia nhập
bộ biên tập của nhật báo Công Luận, với
hai ông Diệp Văn Kỳ và Nguyễn Văn Bá. Bút
hiệu của Tường trong Công Luận là Bửu
Liên, một tên tự đă được một ông
đồ nho đặt khi Tường mới ra
đời. Thân phụ của Tường nằm mộng
thấy một đóa sen lạ đêm sanh ra Tường.
Ông thuật việc ấy cho bạn nghe và ông nầy cho
đó là một điềm lành nên đặt tên Hữu
Tường, với tự là Bửu Liên. Vào thời buổi
nầy, giữa Nguyễn Văn Bá và Nguyễn An Ninh có
cuộc bút chiến, mặc dầu cả hai đều là
bạn. Bá căi không lại Nguyễn An Ninh nên có mặc
cảm bị yếu thế. H.H. Tường, là
người đă từng tôn sùng Nguyễn An Ninh, lúc ấy
có viết một bài phê b́nh quyển Tôn Giáo của ông
Ninh, kư dưới bút hiệu Bửu Liên. Quyển Tôn Giáo
là một sách dùng Duy vật sử quan để xét vấn
đề Phật giáo. Nguyễn Văn Bá thấy hay nên
đă nắm cơ hội đăng trong Công Luận
.
Nguyễn An Ninh đọc luận
điệu trong bài phê b́nh và nghi là do Tạ Thu Thâu viết
nên đă trách Thâu : “Tụi mác xít bây xài không
được. Trong chỗ quen biết thâm t́nh nhau, bây có
chỉ trích tao, th́ cứ kư tên ngay thẳng đi. Có ǵ
cần căi, th́ tao căi với. Bộ bây trốn
dưới bút hiệu vô danh, đâm sau lưng anh em, mà tao
không biết sao?”
Tạ Thu Thâu đă thề thốt bán
mạng là Thâu không phải Bửu Liên nhưng Ninh không tin :
“Tụi duy vật bây có tin có thần có thánh đâu mà
thề? Quỉ thần sợ bây, chớ bây đâu có
sợ quỉ thần mà bày tṛ thề thốt?”
Nhưng rồi cuối cùng khi
Nguyễn An Ninh biết được Bửu Liên là Hồ
Hữu Tường nên chẳng những đă không giận
mà kể từ đó, đă coi Tường là một em út
cần được xây dựng.
H.H. Tường ngoài việc giúp báo Công
Luận c̣n được Đoàn Quang Tấn, chủ
nhiệm và chủ bút tuần báo Đồng Nai ,
một tuần báo do một số trí thức Tây học
như bác sĩ Nguyễn Văn Nhă, giáo sư Đặng
Minh Trứ chủ xướng. Tường ngoài việc
viết bài c̣n đảm trách việc gọt, giũa
văn cho báo. Nhờ sự cộng tác này nên về sau,
Đoàn Quang Tấn đă thỏa thuận giao tuần báo Đồng
Nai lúc đó đang bị đ́nh bản gần hai tháng,
cho Phan Văn Hùm và Hồ Hữu Tường quản lư.
Phan Văn Hùm khi ấy vừa ở Pháp về và đang t́m
cơ hội hoạt động. Tuần báo Đồng
Nai đă được khởi sắc với những
bài viết có lập trường xă hội công khai. Tác
giả các bài báo là những người đă có tiếng
như Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Huỳnh Văn
Phương...Những cuộc bút chiến về vấn
đề “nghệ thuật vị nghệ thuật hay
nghệ thuật vị nhân sinh” giữa Phan Khôi và Phan Văn
Hùm đă gây nhiều sôi nổi trong văn giới và
chỉ được chấm dứt nửa chừng khi Đồng
Nai bị chánh quyền thực dân rút giấy phép. Nhóm Đồng
Nai đă trở thành nơi tập trung của các tác
giả “cách mạng” v́ ngoài việc viết lách, lại c̣n
tổ chức các cuộc diễn thuyết ở trụ
sở hội Đức Trí Thể Dục. Ở hội
trường này, Phan Văn Hùm và Tạ Thu Thâu đă tŕnh bày
về biện chứng pháp và người đến tham
dự rất đông. Nhà cầm quyền thực dân v́
thế thấy cần phải sớm ra tay bịt
miệng tuần báo Đồng Nai.
Hồ Hữu Tường sau khi
bị bắt v́ vụ báo bí mật Tháng Mười,
đă bị xử ba năm tù treo và được thả
ngày 1 tháng 5 năm 1933. Đó là lúc có cuộc bầu cử
nghị viên Hội đồng thành phố SàiG̣n-Chợ
Lớn. Lợi dụng thời cơ nầy, những nhà
cách mạng miền Nam lấy quyết định ra
ứng cử để có dịp cổ động công
khai đường lối xă hội. Một sổ Lao
Động được thành lập với Nguyễn
Văn Tạo và Trần Văn Thạch đứng đầu
sổ. V́ Nam Kỳ là một thuộc địa của
Pháp nên về chế độ báo chí, nếu là báo tiếng
Pháp, thủ tục xuất bản rất dễ dàng như
ở Pháp. Muốn ra báo, chỉ cần khai trước
biện lư cuộc 24 giờ trước khi đem báo
rời khỏi nhà in, nhưng chủ nhiệm và quản lư
phải là người Pháp. Ban vận động bầu
cử đă dựa vào đạo luật dân chủ
nầy để xuất bản tuần báo Pháp ngữ La
Lutte làm cơ quan tuyên truyền. Báo đă gây
được ảnh hưởng lớn trong dư
luận quần chúng nhưng chỉ ra được
bốn số và đ́nh bản sau khi cuộc bầu cử
chấm dứt. Hồ Hữu Tường không có tham
dự viết trong La Lutte ở giai đoạn
đầu nầy.
Một năm sau, tờ La Lutte được
tái bản do sự vận động của Nguyễn An
Ninh. Kỳ nầy, với mục đích cùng chung một
lập trường tranh đấu chống thực dân Pháp
ở Đông Dương, Nguyễn An Ninh đă thuyết
phục được cả hai phái Đệ Tam và
Đệ Tứ ở miền Nam đồng ngồi chung
lại trong ban biên tập. Các bài viết đều không có
kư tên và hai hệ phái phải tránh không chỉ trích lập
trường của nhau. Kỳ tái bản nầy có H.H.
Tường tham gia viết nhưng không tích cực v́ bên
phía Đệ Tam của Nguyễn Văn Tạo có ít
người viết giỏi Pháp văn, nên Tường
tự chế không muốn để phía Đệ Tứ
có vẻ lấn lướt. Việc hai phái Đệ Tam và
Đệ Tứ cùng nhau cộng tác trong một tổ
chức là chuyện hi hữu. Trên thế giới, việc
này chỉ xảy ra ở Việt Nam mà thôi. Hồ Hữu
Tường đă gọi chuyện này là một “quái thai
lịch sử ” và sử gia Pháp, Daniel Hémery, giáo sư
Đại học Sorbonne đă viết một luận án
danh tiếng về thời kỳ này.
Đầu năm 1935 có việc
bầu cử Hội đồng Quản hạt ở Nam
kỳ. Nhân dịp này, nhóm La Lutte quyết lợi dụng
cơ hội để có thể công khai tuyên truyền
chống chế độ thực dân ở Nam kỳ. Bên
Đệ Tam có Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn
Nguyễn, Dương Bạch Mai thành lập liên danh. Phía
Đệ Tứ có Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch và
Hồ Hữu Tường. Hồ Hữu Tường v́
chưa đến 25 tuổi nên liên danh kể như không
hợp lệ nhưng vẫn cứ sinh hoạt dán bích
chương, in truyền đơn phân phối cho dân chúng
có dịp đọc.
Báo La Lutte viết bằng Pháp
văn. Phần nhiều các bài thường do Tạ Thu
Thâu, Trần Văn Thạch,Nguyễn Văn Tạo, Phan
Văn Chánh viết. Nguyễn An Ninh trong công việc di
chuyển đó đây bán dầu cù là, lại đảm
trách thêm việc giải thích cho dân chúng các bài báo v́ ông có
biệt tài dẫn giải rất b́nh dân những tiêu
đề khó khăn cho sự hiểu biết thông
thường.
Đứng trong hàng ngũ nhóm La Lutte,
Tạ Thu Thâu phải theo đường lối chung, không
thể hoạt động theo xu hướng Đệ
Tứ, nên đă giao cho H.H. Tường trách nhiệm tùy
cơ, huấn luyện các thanh niên có cảm t́nh với
Thâu. Năm 1936, H.H. Tường được Trịnh
Văn Lầu tiếp tay trong việc truyền bá chủ
nghĩa, nhân thời cơ thuận tiện của sự thành
lập Mặt Trận B́nh Dân ở Pháp. Trịnh Văn
Lầu đă có sáng kiến tổ chức đánh cắp
chữ in của các nhà in và thành lập cơ quan in ấn
bí mật để H.H. Tường xuất bản tạp
chí Thường Trực Cách Mạng, một tạp
chí bí mật duy nhứt trong xứ được in
bằng chữ in. Cơ quan ấn loát được giao
cho một anh thợ nhà in bị bịnh ho lao nặng,
phụ trách ở một cḥi lá vùng Thị Nghè. Mật thám
Pháp v́ thấy tạp chí được in đẹp nên
tưởng nhầm là được nhóm Đệ Tứ
in ở ngoài nước. Khi có tin Mặt Trận B́nh Dân
thắng thăm vẻ vang ở Pháp, truyền đơn
được in và rải khắp Sài G̣n. Phản ứng
mau lẹ đó chứng tỏ rằng truyền đơn
ắt phải do nhà in trong xứ thực hiện . Mật
thám tung ngay một mẻ lưới điều tra và
cơ quan in ấn v́ vậy bị phát giác, chấm dứt
luôn giai đoạn làm báo bí mật của Hồ Hữu
Tường !
Hưởng ứng sự thành công
của Mặt Trận B́nh Dân ở Pháp và cũng để
chuẩn bị tiếp đón các phái đoàn điều tra
từ Pháp sắp qua Việt Nam, nhóm La Lutte với sự
dẫn đầu của Nguyễn An Ninh, rần rộ
khởi xướng Phong trào Đông Dương Đại
Hội và sự thành lập các Ủy Ban Hành Động.
H.H. Tường được đề cử làm
Tổng Thơ kư của Phong trào và đă có công trong việc
cổ động cho Đông Dương Đại Hội
qua việc vận động kư giả các báo Việt
ngữ.
Trong giai đoạn nầy, H.H.
Tường có cho xuất bản một tuần báo
tiếng Pháp với sư cộng tác của một
đồng chí là Đoàn Văn Trương. H.H.
Tường lợi dụng việc Nam kỳ là một
thuộc địa của Pháp nên trên danh nghĩa,
người Việt sanh sống ở Nam kỳ
được coi là thần dân Pháp (Sujet francais de
Cochinchine). V́ vậy nên Đoàn Văn Trương có
đủ tư cách làm quản lư một tờ báo tiếng
Pháp. Tuần báo Le Militant (Chiến Sỉ) do
đó được ra đời trót lọt và đă gây
được một tiền lệ: ở Nam kỳ, ra
báo Pháp ngữ không cần phải có quản lư người
Pháp. Ra được bốn số, tuần báo Le Militant
hết vốn nên phải đ́nh bản cho đến
một năm sau mới tái bản được và
lần nầy ra được 21 số. Le Militant đến
giai đoạn này phải dẹp v́ hai nhóm Đệ Tam và
Đệ Tứ đă ly khai, không c̣n hợp tác nhau
được nữa trong nhóm Tranh Đấu: Nhóm
Đệ Tam cho ra báo L’Avant Garde, về sau đổi
tên thành Le Peuple. Tờ La Lutte được nhóm
Đệ Tứ tiếp tục nắm giữ nên không
thấy có lư do phải duy tŕ hai tờ báo cùng một
chủ trương và đường lối.
Đến năm 1938, một hội
kư giả lấy tên là A.J.A.C. ( Association des journalistes annamites
de Cochinchine) được thành lập để tranh
đấu cho báo chí tiếng Việt được
hưởng quy chế tự do giống như quy chế
các báo Pháp ngữ. Hội trưởng là Nguyễn Văn
Sâm, chủ nhiệm báo Đuốc Nhà Nam và Tổng
Thơ kư là Trần văn Thạch. Nhóm Đệ Tam t́nh
nguyện đi tiên phong, ra báo với thủ tục y
như báo Pháp ngữ. Nhưng đến khi báo in
được số nào th́ nhà cầm quyền đều
cho sở mật thám đến, hốt hết. Ra ṭa, anh
quản lư bị lên án. Sau các thủ tục chống án lên
ṭa trên, qua ṭa Phá án, cuối cùng bản án được
chuyển đến Hội đồng Quốc gia bên Pháp
vào mùa thu năm 1938. Hội đồng này cũng giống
như một Tối Cao Pháp Viện, đă hủy bản
án v́ luật pháp không minh định rơ ràng về tự do
báo chí cho báo Việt ngữ ở Nam kỳ. Đây là
một thắng lợi lớn về tự do báo chí.
Nhóm Đệ Tam lập tức
đổi tờ Le Peuple thành tờ báo Việt
ngữ Dân Chúng. Nhóm Đệ Tứ cánh Tạ Thu Thâu
đổi tờ La Lutte thành tờ Tranh Đấu;
cánh Hồ Hữu Tường cho xuất bản:
tuần báo Tia Sáng, sau 6 tháng đổi thành nhật
báo, tạp chí lư luận hằng tháng tên Tháng Mười và
một tuần báo nghiệp đoàn tên Thầy Thợ.
Tạp chí Tháng Mười và Thầy Thợ
được H.H. Tường giao cho Đào Hưng Long làm
quản lư.
Cuối năm 1938, chế độ
báo chí và xuất bản ở Nam kỳ được
đặc biệt nới lỏng khi sắc luật
Daladier ngày 30 tháng 8, 1938 cho báo chí chữ quốc ngữ
được xuất bản không cần xin phép
trước. Việc kiểm duyệt và tịch thâu báo
không c̣n thấy xảy ra như trước.
Ở Bắc và Trung, phong trào tự do
báo chí được hưởng ứng nồng nhiệt.
Các kư giả trong Nam cũng như ngoài Bắc đua nhau
viết v́ đều tiên đoán chiến tranh sắp
sửa xảy ra, và nhà cầm quyền Pháp sẽ siết
chặt lại hoạt động của giới
truyền thông. H.H. Tường đă thú nhận là chưa
có bao giờ lại có cơ hội làm việc hăng hái
như thời trước Đệ nhị Thế chiến
này: mỗi ngày, ngoài việc đi dạy học tư,
Tường phải viết thông thường là bốn bài
báo.
Đến cuối tháng 8, năm 1939,
không khí chiến tranh đă thấy bao trùm ở Âu châu.
Đêm 23 rạng ngày 24, hiệp ước Hitler-Stalin
được kư kết. Ngày 1 tháng 9 quân đội
Đức tiến vào Pologne. Lịnh tổng động
viên được ban hành ở Pháp và ở Đông
Dương. Ngày 3 tháng 9, Pháp và Anh tuyên chiến với
Đức. Ngày 25 tháng 9, đảng Cộng sản Pháp
bị cấm hoạt động. Toàn quyền Đông
Dương hưởng ứng sắc lịnh cấm
đó và ngày 29 tháng 9, mật thám tiến hành việc bố
ráp trong toàn xứ.
Chỉ trong vài ngày, 121 người theo
phái Stalin và 55 người theo xu hướng Trotsky đă
bị bắt. Nhà cầm quyền đă thi hành 323 cuộc
lục xét, tịch thâu 2332 cuốn sách và 26316 ấn
phẩm báo chí (Báo cáo của Thống đốc Nam kỳ
gởi Toàn quyền ngày 3-11-1939, AOM NF 1820). Các báo chí của
cả hai phái Đệ Tam, Đệ Tứ đều
bị cấm. Hồ Hữu Tường cũng như
Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch và các
nhà cách mạng khác đều hoặc bị bắt vào tù
hay bị đưa vào các trại tập trung ở núi Bà Rá
và Tà Lài (Biên Hoà)!
Hồ Hữu Tường đă vào tù
hơn năm năm, không c̣n cơ hội hoạt
động báo chí cho đến măi đầu năm 1948
mới có dịp trở lại làng báo, do thi sĩ Đông
Hồ mời cộng tác. Sau khi măn tù ở Côn Đảo
về và c̣n bị án biệt xứ, cư trú ở Cần
Thơ, năm 1944, Hồ Hữu Tường đă tuyên
bố với các bạn đồng chí cũ: “ Tôi
trở về con đường dân tộc, tôi cho rằng
việc giai cấp vô sản giải phóng nhân loại là
một huyền thoại lớn của thế kỷ 19 và
tiềm năng cách mạng của giai cấp vô sản
ở châu Âu và Bắc Mỹ là một huyền thoại
lớn của thế kỷ 20”.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, quân đội
Nhật đảo chánh chánh quyền Pháp ở Đông
Dương. Các đoàn thể chánh trị Việt Nam có
cơ hội hoạt động công khai. Những lănh
tụ các đảng bị Pháp lưu đày biệt
xứ đă trở về các đô thị, tái tổ
chức hàng ngũ. Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần
Văn Thạch...đều trở về lại Sài G̣n,
củng cố lại nhóm Tranh Đấu. Hồ Hữu
Tường chọn việc du hành ra Bắc, cho đến
ngày Việt minh cướp chánh quyền ở Hà Nội.
Trong bức điện tín ngày 27 tháng 8 năm 1945 của
Ủy ban Nhân dân Cách mạng Bắc Bộ, gởi khẩn
cầu Bảo Đại thoái vị, ngoài chữ kư của
Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Xiển, Ngụy Như
Kontum cũng có tên Hồ Hữu Tường. Bảo
Đại sau nầy đă cho biết ông đă đồng
ư v́ thấy trong những người kư bức điện
tín có Hồ Hữu Tường là nhân vật mà ông biết
đă từng hoạt động chánh trị và am hiểu
t́nh h́nh thế giới.
Tuy nhiên, năm 1945, Hồ Hữu
Tường cũng biết Việt Minh chủ
trương diệt các thành phần Đệ Tứ.
Để tránh tai mắt trinh sát Việt Minh ở Hà
Nội, Tường nhờ được bác sĩ
Phạm Ngọc Khuê đưa về Nam Định. Ở
đây, H.H. Tường đă viết quyển Muốn
hiểu chánh trị , tác giả lấy bút hiệu Huân
Phong. Họa sĩ Tô Ngọc Vân e sợ kư như vậy,
Tường sẽ dễ bị lộ tung tích v́ câu thơ
“Huân phong tự Nam lai”. nên đă sửa lại là Thuần
Phong. Về sau, Tường đă chọn lại bút
hiệu Huân Phong để kỷ niệm những ngày
sống với Phạm Ngọc Khuê.
Trên các quyển viết cho nhà xuất
bản Tân Việt ở Hà Nội, như Kinh Tế
học và Kinh Tế chánh trị nhập môn, Xă Hội
học nhập môn Hồ Hữu Tường chọn bút
hiệu Khổng Cưu. Sách do Hàn Thuyên xuất bản
đều đề tên Nguyễn Huệ Minh là tên của
vợ H.H. Tường. Trên các quyển viết cho nhà
xuất bản Minh Đức , bút hiệu được
chọn là Duy Minh v́ H.H. Tường muốn tỏ lập
trường biệt lập giữa Duy tâm và Duy vật.
Trong thời gian ở Bắc, năm 1946, H.H. Tường
có viết một tác phẩm mà ông đắc ư nhất.
Đó là quyển Tương Lai văn Hóa Việt Nam, viết
trong h́nh thức “thơ bằng văn xuôi”, b́a do họa
sĩ Tô Ngọc Vân tŕnh bày, Minh Đức in 500 bản h́nh
thức sách quư, giấy đặc biệt chế tạo
riêng tại làng Bưởi.
Đầu năm 1948, Hồ Hữu
Tường từ Hà Nội trở lại về Sài G̣n.
Nhà văn Thiên Giang đưa H.H. Tường đến
thăm thi sĩ Đông Hồ. Nơi đây Tường
gặp chẳng những Đông Hồ, lại có thêm
Dương Tử Giang. Hai nhà văn này đang lănh phụ
trách làm một báo Xuân, do Lư Khê bỏ vốn. Đông
Hồ mời H.H. Tường viết giúp và đưa
trước ngân khoản cho Tường lúc đó đang
túng thiếu. Tường nhận lời với
điều kiện không kư tên thật. Đông Hồ
đề nghị cho Tường các bút hiệu Lân Trinh và
Ly Duệ. Lân Trinh có nghĩa là gần với chữ Trinh.
Trong thành ngữ, hai chữ Trinh, Tường thường
hay dùng chung nhau. Đông Hồ đặt Lân Trinh , cố ư
chỉ rằng tác giả là Tường đó! C̣n Ly
Duệ để nhắc rằng tác giả bài đó là con
cháu của Hồ Quư Ly. Đông Hồ thường nhờ
H.H. Tường viết nhiều bài trong mỗi số do
ông chủ trương biên tập nên Tường phải
có nhiều bút hiệu khác nhau. Như khi viết những
tiểu thuyết Thu Hương, Chị Tập , H.H.
Tường kư Duy Cúc, là tên thiệt của một nữ
sinh viên mà ông đă gặp khi ở Hà Nội. H.H.
Tường đă mượn h́nh ảnh của sinh viên Duy
Cúc để phác họa nhân vật Thu Hương trong tiểu
thuyết. Duy Cúc sau đă sang Paris du học và đă là
một nhà điêu khắc nổi danh.
Trong thời gian hợp tác với
Đông Hồ, H.H. Tường có giới thiệu với
Đông Hồ và đưa vào làng văn trong Nam, văn
sĩ Triều Sơn, từng làm chủ bút tờ Kháng
Chiến ở Bắc. Vào Sài G̣n, Triều Sơn làm công
nhân cho hăng đóng tàu CARIC ở Thủ Thiêm, lo việc vô
dầu, làm máy cho tàu của hăng. Triều Sơn đă rút
kinh nghiệm về các cán bộ cách mạng gốc bần
cố nông để tạo ra nhân vật “ Nuôi Sẹo”.
Triều Sơn đă gọt giũa tác phẩm nhưng
đến năm 1954 vẫn chưa vừa ư nên chưa
chịu xuất bản, cho đến khi anh qua đời
!
H.H. Tường cũng
được Đặng Văn Kư mời làm cai thầu
biên tập cho tuần báo Sanh Hoạt trong thời
Trần Văn Ân làm Tổng trưởng Thông tin.
Đặng Văn Kư là một nhân vật tên tuổi trong
Nam, đă từng hưởng ứng phong trào Nguyễn An
Ninh và phong trào của nhóm Tranh Đấu. Ông đă bị
thực dân Pháp đày ở Bà Rá và đă được
Nhật giúp đưa lánh nạn ở Tân Gia Ba với
Trần Văn Ân, Trần Trọng Kim, Dương Bá
Trạc. Trong tuần báo Sanh Hoạt H.H. Tường
thường chỉ viết bài xă thuyết. Các bài khác ông
được một sinh viên lỗi lạc ở Hà
Nội cùng theo ông vào Nam là Phạm Mậu Quân, t́nh nguyện
“bao sân”. Phạm Mậu Quân là một sinh viên về toán
đă được giáo sư Hoàng Xuân Hăn phục tài v́ chép
bài rất giỏi. Vào Nam, Phạm Mậu Quân tiếp
tục học toán ở Đại học Sài G̣n và cư
ngụ ở nhà H.H. Tường. Quân có tài về Toán
học nhưng cũng có thêm tài viết báo và viết
giống lối văn của Hồ Hữu Tường.
Trong các bài viết, Phạm Mậu Quân t́m cách cổ vơ cho
việc dùng tiếng Việt trong các chương tŕnh giáo
dục. Cuối năm 1948. báo Sanh Hoạt ngưng
hoạt dộng, Phạm Mậu Quân sang Pháp học và nay là
một giáo sư Toán danh tiếng. H.H. Tường tuy ít
viết trong Sanh Hoạt nhưng đă nhờ tuần
báo này mà phổ biến được chủ trương
lập trường Dân tộc trong bài Thân Việt, không
thân Mỹ hoặc thân Nga.
Trong khoảng các năm 1948, 1949, H.H.
Tường được dịp cộng tác trong báo Sài-g̣n
Mới của bà Bút Trà. Tường đă cho đăng
hằng ngày, từng đoạn của tiểu thuyết Phi
Lạc Sang Tàu, một tiểu thuyết mà ông đă
ngẫm trong những ngày tránh trinh sát Việt Minh ở Hà
Nội. Bút hiệu lúc bấy giờ là Ư Dư, tên mà H.H.
Tường đă thấy kư dưới một bức
thư tỏ t́nh thống thiết của Đặng
Ngọc Tốt gởi cho em gái của Phạm Ngọc Khuê.
Thời bấy giờ, ở giới Đại học Hà
Nội có ba sinh viên quái kiệt về diễn thuyết là
Nguyễn Đ́nh Thi, Huỳnh Văn Tiểng và Đặng
Ngọc Tốt. Trong thời Kháng chiến Nam Bộ,
Đặng Ngọc Tốt cũng nổi tiếng, khi phụ
trách Ban Tuyên Truyền Lưu Động Nam Bộ nhưng
khi ra Bắc phụ trách đảng Dân Chủ th́ không
biết v́ lư do ǵ, lại ít được nhắc nhở.
Khi được biết trong khu Nam Bộ , Tốt hay
ăn nói lớn lối, giống như anh chàng Phi Lạc
trong tiểu thuyết, một thằng mơ ở Bắc
được đặt trên ngôi tiên chỉ, nên H.H.
Tường mới chọn bút hiệu đó cho câu
chuyện.
Bộ tiểu thuyết “Ngàn Năm
Một Thuở ” với: Phi Lạc Sang Tàu, Phi Lạc
Náo Huê Kỳ, Phi Lạc Bỡn Nga đă được
H.H. Tường cho trích đăng từng đoạn trên Sài-g̣n
Mới, Phương Đông, Ánh Sáng...
Mùa xuân năm 1949, Hồ Hữu
Tường đáp tàu sang lại Pháp, t́nh nguyện làm
đặc phái viên của Sài-g̣n Mới và tiếp
tục gởi về các đoạn của tiểu
thuyết Phi Lạc Sang Tàu. Ông cũng tiếp tục
viết bài về cho Đông Hồ khi có được
dịp. Được sự giúp đỡ của một
người bạn cũ đang mở một
chương tŕnh dạy khoa Cảnh Sát bằng lối hàm
thụ, H.H. Tường noi theo ư kiến hay của bạn,
mở một lớp dạy làm báo. Các bài nầy đă
được cho in lại trong báo Ḥa Đồng và
năm 1965 được nhà xuất bản Khai Trí in
thành sách: Những kỹ thuật căn bản của
nghề viết báo.
Ở Pháp, H.H. Tường cũng
đă thực hiện được tờ Cảo
Thơm, một tập báo Xuân in theo kỹ thuật
tối tân Hélio, nhờ sự cộng tác kỹ thuật
của Việt Hồ, một Việt kiều đă
sống bằng nghề in rất lâu năm ở Pháp.
Trong dịp cộng tác giúp ư kiến
cho kỹ sư Nguyễn Ngọc Bích về nhà xuất
bản Minh Tân, H.H. Tường được tặng
một số vốn. Nhờ vậy H.H. Tường có
được khả năng để thực hiện
tạp chí song ngữ Pháp-Anh Pacific năm 1952. Tạp
chí được xuất bản ba tháng một kỳ. H.H.
Tường đă có phương tiện để cổ
vơ cho thuyết Trung Lập và kêu gọi các nước
nhược tiểu thành lập “ thế giới thứ
ba”. Đây sẽ là một lực lượng mới, có
khả năng cân bằng giữa hai khối Nga, Mỹ
đang đối đầu. Tờ Pacific được
duy tŕ đến tám số cho đến năm 1954, khi H.H.
Tường bị vào tù khi trở về xứ. Tuy tập
san được nhiều giới ở ngoại quốc
chú ư nhưng đă bị thủ tướng Nguyễn
Văn Tâm ra lịnh cấm lưu hành ở Việt Nam nên
số vốn đă tan dần.
Hồ Hữu Tường đă
được dịp trở về xứ đôi ba
lần sau năm 1952 và đă được dịp cùng
bạn bè tổ chức tuần báo Phương Đông .
Về sau, Phương Đông đổi thành nhật
báo và là cơ quan truyền bá tư tưởng của H.H.
Tường. Chủ bút do Lê Văn Siêu phụ trách; Thái Linh
là Thơ kư ṭa soạn; Nguyễn Hữu Nghi tự Ngu Í là
nhà chuyên môn phỏng vấn. Độc giả miền
Bắc ủng hộ báo rất mạnh, miền Nam chỉ
tiêu thụ khoảng một phần tư. Do
được độc giả đất Bắc
chiếu cố nên báo được duy tŕ, trong khi dân
miền Nam đinh ninh là Phương Đông sẽ
đóng của sớm. V́ báo chủ trương
đường lối Trung Lập, nhiều nguồn tin
trái ngược được đồn đăi, khi th́ cho
là báo đượcViệt Minh tài trợ, khi th́ nghi do
cơ quan pḥng Nh́ của Pháp đưa tiền, hoặc do
Mỹ chuẩn bị nhảy vào Việt Nam khi Pháp bỏ
cuộc, hoặc do t́nh báo Anh giúp vốn, xuyên qua các
nước Ấn Độ, Miến Điện...
Khi có hội nghị Ḥa Đàm Genève
năm 1954, H.H. Tường qua Thụy Sĩ phổ
biến bài thuyết tŕnh về “ trung lập chế ”
đă được in trong số đặc biệt Phương
Đông. Bản dịch tiếng Pháp là “ La seule bonne voie
”, tiếng Anh là “ The only good way”. Nhưng việc làm không
đem đến ảnh hưởng mong muốn và kết
cuộc, ngày 20 tháng 7 năm 1945, đất nước
Việt Nam đă phải chịu chia đôi! Trở về nước, Hồ
Hữu Tường vướng trong vụ B́nh Xuyên, bị
vào tù tháng 3 năm 1955 và bị chế độ Ngô Đ́nh
Diệm kết án tử h́nh. Nhờ được sự
lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ của các danh nhân
trên thế giới như Thủ tướng Ấn ông
Pandit Nehru, văn hào Albert Camus v.v...nên Hồ Hữu
Tường mới được thoát chết.
Khi chế độ Tổng thống
Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ, H.H.
Tường mới ra khỏi nhà tù vào tháng Giêng năm 1964.
Sau bao năm tù đày ở Côn Đảo, sức khỏe
của H.H. Tường đă suy giảm rất nhiều.
Măi đến gần năm tháng sau ông mới bắt
đầu b́nh phục để có thể tập trung
tư tưởng, ngồi viết một vài bài báo cho
tờ Ánh Sáng của Hoàng Hồ. Hoàng Hồ lúc đó
làm giám đốc tờ báo nên có mỹ ư dành cho H.H.
Tường cơ hội tập viết lại. Trong
tờ Ánh Sáng của Hoàng Hồ, H.H. Tường
đă đề nghị chủ trương “liên hiệp
quốc hóa Việt Nam”, thay thế cho lập trường
“trung lập chế” của ông trước kia.
Qua năm sau, ông Nguyễn Lương
Hưng mời H.H. Tường vào ban biên tập của
một tuần báo tên Ḥa Đồng Tôn Giáo mà ông đă
đứng xin cho Hội này. Sau khi có được phép
của Bộ Thông tin th́ Hội lại không t́m đủ
ngân khoản cho ông Hưng thực hiện ra báo. H.H.
Tường đi vay được một số vốn
nên tuần báo mới được dịp ra đời,
với cái tên cắt ngắn là Ḥa Đồng.
Tuần báo được nhiều độc giả trí
thức ưa chuộng nhưng không sống lâu dài khi làng
báo, vào lúc đó đang gặp phải khủng hoảng v́
việc đầu cơ giấy.
Sau khi Ḥa Đồng đ́nh
bản, H.H. Tường đă được Chu Tử
mời viết trên Sống, quyển tiểu
thuyết thời đại “ Người Mỹ Ưu
Tư ”. V́ sách không được giấy phép in ở
Việt Nam nên ông Tường đă đem qua Pháp xuất
bản dưới h́nh thức loại sách quư, viết tay,
chỉ dành cho một số thân hữu. Tác giả và các bạn
đă có lúc dùng văn bản Người Mỹ Ưu
Tư là một tác phẩm có tánh cách thời sự
quốc tế, để vận động cho Hồ
Hữu Tường tham dự giải văn chương
Nobel nhưng không có được kết quả.
Sự hợp tác với Sống của
Chu Tử lại có tác dụng giúp ông Tường, năm
1967, làm dân biểu Hạ Viện. Đây cũng là giai
đoạn ông được nhiều nhà báo mở
rộng cửa mời ông viết bài như Tiếng Nói
Dân Tộc, Quyết Tiến, Đuốc Nhà Nam, Tin Sáng,
Saig̣n Mới, Điện Tín v.v...
*
Vợ chồng tác giả bài nầy đă từng khâm
phục ông Hồ Hữu Tường, từ khi biết
được ông năm 1951, khi c̣n là sinh viên ở Pháp. Khi
trở về nước, cũng thường
được gặp ông, nhất là giai đoạn ông cho
ra tuần báo Ḥa Đồng. Khi ông Tường ra làm
dân biểu Quốc hội, ông thường ghé nhà chúng tôi
trong cư xá Hải Quân, đường Chu Mạnh Trinh.
Lúc đó ông lại bắt đầu mặc áo cà sa màu nâu,
cổ mang chuỗi nhà Phật. Gia đ́nh chúng tôi vốn
rất phục ông v́ tài viết văn : ngồi viết sau
một buổi ăn, chỉ độ một giờ là
xong một bài cho Ḥa Đồng chẳng hạn,
sửa chữa lại rất ít là có thể đưa
đi in. Tiếc tài của ông v́ nhiều khi bị dư
luận công kích vô lối, chúng tôi thường năn
nỉ ông, xin mỗi ngày ông đến với gia đ́nh
chúng tôi để ngồi viết hồi kư chánh trị
của ông, truyền lại cho hậu thế. Lúc tôi có
được dịp tham gia chánh phủ, tôi có cho ông
biết, tôi muốn mời ông giữ một chức
như công cán ủy viên ở bộ Xă Hội, để
ông có lương hằng tháng. Ông sẽ khỏi cần làm
một việc ǵ trong bộ tham mưu, ông chỉ ngồi
nhà viết hồi kư.
Ông Tường cười, phô cái hàm
răng đặc biệt của ông và nói: “Tôi có cái
tật ngồi yên một chỗ không được,
phải luôn luôn t́m cơ hội hoạt động. Anh
mới là người phải ngồi viết truyện
về thập niên 1940 như tôi đă bảo với anh ”.
Ông muốn nhắc đến việc
lần đầu gặp ông ở Paris. Nhân dịp nghỉ
lễ Giáng Sinh, tôi từ Bordeaux lên Paris. Tiền túi ít nên
trưa thường đi theo các bạn thổ công ở
Paris, mua giùm phiếu để được vào “ăn
lậu” ở các quán ăn sinh viên. Một hôm ở quán Parc
Montsouris, trong khi xếp hàng, thấy một “sinh viên” Á
Đông lớn tuổi, miệng có hàm răng cửa
rất lớn, đang cười, nói tiếng Việt,
nhờ một sinh viên đứng sau, dùng hai tay đấm
thùm thụp vào lưng cho đỡ lạnh. Anh bạn
đưa tôi đi ăn cho biết: “Ông đó là Hồ
Hữu Tường. Hôm nay chắc ổng cũng t́m
được thẻ để đi ăn lậu như
anh”.
Lúc đó, tôi đă biết danh Hồ
Hữu Tường, nhưng không được biết là
trong thời gian ở Côn Đảo, sau ba năm suy
gẫm, ông đă tuyên bố ly khai với chủ nghĩa
Các Mác. Tôi đă bắt chuyện với ông trong buổi
ăn, thuật những chuyện Cộng sản
Đệ tam đă thủ tiêu các nhà ái quốc và nhóm Tranh
Đấu thuộc Đệ tứ, khi mở đầu
giai đoạn kháng chiến ở Nam Bộ. Ông
Tường rất chú ư và rủ tôi ra một quán cà phê
Dupont để tiếp nối câu chuyện. Khi tôi kể
đến việc đấu khẩu giữa Dương
Bạch Mai và Phan Văn Hùm, buổi chiều trước
đêm Mai ra lịnh thủ tiêu ông Hùm và các chiến sĩ
Đệ Tứ, ông Tường đă tỏ ra bị xúc
động mạnh. Ông nói với tôi: “ Anh có bổn
phận phải viết lại giai đoạn này”.
Cho đến nay tôi chưa hoàn tất
việc viết sách v́ không có được cái tài viết
nhanh như Hồ Hữu Tường. Ông Tường là
người gắn bó với nghề viết báo. Ông là
người có nhiều ư kiến đi trước
thời cuộc và muốn phổ biến các tư
tưởng của ông. Có lẽ v́ ông có thêm thiên phú về
Toán học, nên ông thường dự tính được
nước cờ trước nhiều người khác.
Từ khi khởi đầu viết báo bí mật thời
thực dân Pháp đến các giai đoạn viết báo công
khai, ông lúc nào cũng say mê với các cải biến kỷ
thuật làm báo và t́m cách hướng dẫn việc
viết báo trong thời kỳ ở trong xứ chưa có
trường dạy về môn này.
Rất tiếc là sau ngày 30 tháng Tư
năm 1975, Hồ Hữu Tường đă phải gánh
chịu cái oan nghiệp mà đảng Cộng sản
Việt Nam đă áp đặt lên đầu dân chúng
miền Nam. Ngoài cái cộng nghiệp mà các giới miền
Nam phải đương đầu, H.H. Tường có
lẽ c̣n có cái thêm cái biệt nghiệp: nghiệp làm báo.
Tưởng cũng nên kể thêm đến một giai
thoại tiếu lâm được Đỗ Thái Nhiên ghi
lại, khi bị nhốt ở pḥng giam tập thể
thuộc trại giam số 4 Phan Đăng Lưu: Một
hôm, cả pḥng đang giờ nghỉ, Lư Hùng, một
người tù Việt gốc Hoa, cất cao tiếng,
hỏi Hồ Hữu Tường đang nằm ở
cuối pḥng:
-Bác Tường ơi ! Thời Tây,
thời Ngô Đ́nh Diệm và cả thời nầy nữa,
thời nào Bác cũng ở tù. Bác có hiểu tại sao Bác
cứ ở tù hoài hoài vậy không ?
Hồ Hữu Tường nh́n Lư Hùng
vừa cười vừa hỏi ḍ chừng:
-Mày trả lời giùm tao đi,
tại sao ?
Lư Hùng nhanh nhẩu trả lời:
-Dễ quá mà ! Tên Bác là “Hữu
Tường” nên Bác phải “hưởng tù” dài dài !
Hồ Hữu Tường, mắt nh́n
xa xăm trông thật buồn, nói nhỏ giọng:
-Có thể thằng nầy nói đúng !
Năm 1999, nhà văn đă quá cố,
Như Phong Lê Văn Tiến có nhờ tác giả viết bài
về Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ cho Đài Á Châu
Tự Do phát thanh về Việt Nam. Khoảng hai tháng sau, tác
giả t́nh cờ nhận được một thơ
gởi từ Việt Nam, nhờ Đài VOA t́m chuyển
đến tác giả. Trong các cuộc trao đổi thơ
tín về sau, người gởi ( tác giả xin miễn
đề cập đến tên, nơi sinh sống hiện
nay...) cho biết anh là đồ đệ và bạn tù
của Hồ Hữu Tường ở trại giam Hàm Tân.
H.H. Tường lúc ấy sức khỏe rất suy
giảm, đă nhờ anh nếu ra khỏi tù, hăy t́m tác
giả để nhắn những chuyện phải làm
nếu H.H. Tường qua đời. V́ vậy nên tác
giả c̣n mang nhiều nợ với ông Tường !
Chánh quyền Cộng sản đă
bắt H.H. Tường vào năm 1977. Sau bao nhiêu năm
bị giam cầm ở Sài G̣n, các bạn tù đều cho
biết là sức khỏe H.H. Tường khá tốt. Lúc nào
ông cũng ngậm một lát gừng tươi trong
miệng. Có thể việc ngậm gừng này là việc áp
dụng những bàn căi giữa ông Tường và tác
giả. Tác giả có cho ông Tường biết về
việc các đồng nghiệp quân y sĩ Pháp của tác
giả đă báo cáo trong một hồ sơ ở
Trường Quân Y Hải Quân Bordeaux: những tù binh Pháp
bị bắt sau trận Điện Biên Phủ
được sống sót trở về, phần đông là
những người thích t́m ớt rừng để
ăn hoặc hay ăn gừng để chống lạnh
và sốt rét. Tác giả và các bạn đồng nghiệp
cho rằng các tù nhân đă sống nhờ sinh tố A (màu
đỏ của ớt). Ông Tường góp ư là nên thử
nghiên cứu kỹ thêm, v́ các thức ăn có chất cay,
nhất là thảo mộc, ngoài nhiệt năng (énergie
calorifique) hiện được đo lường
bằng đơn vị calories, có thể c̣n chứa
chấp loại năng lượng về sức sống
(énergie vitale) mà khoa học hiện tại chưa t́m
được cách thức ḍ xét ? Các bạn tù của ông
Tường c̣n cho biết thêm, là mỗi đêm khuya, ông
Tường thường ngồi đánh cờ một
ḿnh, tay trái đi cờ đối thủ với tay
mặt! Ngoài ra, chắc chắn thế nào ông cũng có
viết trong đầu, một “tiểu thuyết ngẫm”
mà tiếc thay, ông đă đem theo ông, ngày 26 tháng 6 năm
1980, khi ông từ giă để qua một thế giới
khác! Bốn năm sau, cuối mùa Đông 1984, tác phẩm
cuối cùng của ông, “41 năm làm báo, Hồi Kư ”
được Đông Nam Á xuất bản ở Paris.
Một người đă có nhiều
kinh nghiệm, biết thể thức giữ ǵn sức
khỏe và tinh thần qua bao nhiêu năm tháng trong các lao tù,
thế mà chỉ trong ṿng hai tháng bị đưa đi giam
ở Hàm Tân, lại bị lần lần kiệt sức và
chỉ được đưa về để gục
chết trước thềm nhà ḿnh ( VIỆT NAM 1920-1945,
Ngô Văn, Chuông Rè-L’Insomniaque, California 2000, trang 436) , là
một việc lạ cần được các sử gia
điều nghiên trong tương lai.
Tưởng cũng nên ghi lại là
đă có một lần, xe chở Hồ Hữu
Tường chuyển trại đă bị tai nạn (?)
dọc đường và Hồ Hữu Tường đă
được đưa trở về Sài g̣n chữa
trị. Dưới một chế độ nắm toàn
quyền lực sinh sát trong tay, với một nghành Công An có
nhiều kinh nghiệm học hỏi ở Nga Sô về các
kỹ thuật tinh xảo, âm thầm giết người,
th́ việc thủ tiêu một đối phương
đang bị tù, không có ǵ là khó khăn. Nhưng cũng nên
hi vọng là với những cải tiến không ngừng
của nền khoa học hiện đại, nhiều âm
mưu ám hại, tưởng là bí mật, rồi cũng có
ngày bị phát giác.
Texas, đầu Xuân 2003
Bs. TRẦN NGUƠN PHIÊU
Sách Tham Khảo:
1-Daniel Hémery, Révolutionnaires vietnamiens et
pouvoir colonial en Indochine , Francois Maspero, Paris Vè, 1975
2- Đỗ Thái Nhiên, Hồ Hữu
Tường: Người Chết U Uẩn, Tài liệu chép
trên Internet, VMAFORUM, 2-18-02
3-Hồ Hữu Tường, 41 Năm
Làm Báo, Hồi Kư, ISBN-2-85881-011-7, Đông Nam Á, Imprimerie
Sudestasie, 17 rue Cardinal Lemoine-75005, Paris, 1984.
4-Ngô Văn, Việt Nam 1920-1945, ISBN:
2-908744-14-7, L’Insomniaque, Paris, juillet 1995.
5-Ngô Văn, VIỆT NAM 1920-1945, ISBN:
2-908744-40-06, Chuông Rè-L’Insomniaque, California, USA, 2000.