VÀI NÉT TÂM LÝ VÀ
TRIẾT LÝ
TRONG TRUYỆN
THƠ ‘CHÀNG NHÁI’
Nguyễn Văn
Trang
Hồi năm 1968, tôi theo học ngành huấn
luyện sau đại học dành cho giáo sư ra dạy
trường sư phạm. Lớp ít người và sau
đó lại phân ban chuyên môn nên lớp Tâm Lý của chúng tôi
chỉ còn sáu người. Các bài giảng về trắc
nghiệm đo lường học tập rất bổ
ích nhưng không hứng thú bằng các bài tập trắc
nghiệm về nhân cách của Rorschach và Murray để đi sâu vào môn
tâm bịnh lý. Một hôm, có vị giáo sư người
nước ngoài cầm bức tranh La Gioconda của Leonardo
da Vinci, bức tranh chụp lại rất sắc nét,
hỏi lớp:
-Tôi nghĩ các bạn đã từng xem bức
tranh này rồi. Vậy các bạn hãy cho tôi biết nó
đẹp ở chổ nào? Điểm nào làm các bạn tâm
đắc nhất?
Tôi hơi ngạc nhiên vì cô tôi đưa ra
một tác phẩm nghệ thuật quá phổ biến và
lừng danh mà ai cũng biết. Dễ ợt. Tôi tài lanh
phát biểu ngay:
-Thưa cô, nó đẹp ở nụ
cười.
-Tại sao?
-Vì có thể là mỉm cười và cũng có
thể là không cười. Tuỳ theo tâm trạng
người xem. Khi ta vui, nàng mỉm cười với ta.
Còn khi ta buồn, La Gioconda mím môi, không cười.
Bạn bè tôi cười ồ lên. Một
chị bạn phản bác nhận xét của tôi:
-Mona Lisa không đẹp ở nụ
cười. Bức tranh đẹp ở chiều sâu,
ở viễn cảnh phía sau mà các họa sĩ thời
đó chưa biết cách vẽ. Chúng ta còn thấy cách
vẽ chiều sâu độc đáo của Leonardo da Vinci
trong những bức tranh khác của ông, chẳng hạn
như “The Virgin of The Rock's” và “The
Last Supper”.
Cô tôi phát biểu ý kiến riêng:
-Các bạn đều đúng. Tuy nhiên,
đừng xúm nhau nhìn theo hướng nhìn của những
người đã chỉ ra trước. Đừng đi
theo lối mòn mà họ đã đi. Theo tôi, nét đẹp
tập trung ở bàn tay, ở các ngón tay. Các bạn thấy
sao?
Tôi bắt đầu nhìn kỹ các ngón tay trong
bức tranh. Thật ra nó làm tôi liên tưởng đến
những củ khoai từ và những trái chuối cau,
chẳng có gì là đẹp. Theo tôi, ngón tay đẹp
phải gầy mỏng và dài ra một cách nuột nà.
Cô tôi kết luận:
-Một tác phẩm nghệ thuật lúc nào
cũng mời gọi những tầm nhìn khác nhau và phong phú
để nó tồn tại. Đó là điều mà tôi
muốn nói với các bạn.
Mới đây, hai người bạn
trước kia cùng tôi dạy học ở Trường
Đại Học Cao Đài, Tây Ninh, anh Nguyễn Văn Sâm
và anh Nguyễn Hiền Tâm, gặp lại tôi sau hơn 30
năm xa cách, tặng tôi các tác phẩm chữ Nôm mà các anh
vừa phiên âm. Tụi tôi ngồi uống cà phê vỉa hè vào
buổi sáng nhưng riêng tôi có cảm giác như đang chùm
nhum trò chuyện bên nhau vào buổi chiều. Thực sự
là buổi chiều của đời người. Hai anh
bạn già của tôi đang là một đoàn khảo
cổ lẻ loi vì quá ít người. Nhà khảo cổ còn
vơ vét được chứng tích xưa hái ra tiền,
đôi khi gom được một gia tài kết sù. Còn các
người bạn tôi đang mày mò, sùng lục và âm
thầm vắt sức ra phiên âm các tác phẩm văn
chương miền Nam xa diệu vợi bị bỏ xó và
lãng quên cả thế kỷ thì rõ thật là đoàn khảo
cổ sẽ đuối sức, đi không nổi vì
đói và cổ vật tìm được sẽ lạc lõng
trong thời đại công nghệ thông tin điện
tử này, không ai tha thiết ngó ngàng tới. Các anh đang
ra khơi trên chiếc xuồng câu cá trong tác phẩm “Ngư
ông và biển cả” của Ernest Hemingway. Sau những ngày
lao lung khổ nhọc chiến đấu với phong ba
sống còn giữa biển khơi mênh mông, chống
chỏi với sự phẫn nộ của thiên nhiên,
những tưởng lôi được con kình ngư vào
bờ, ai dè cập bến với bộ xương cá vô
dụng. Dân tình bịt mũi bỏ đi. Tình cờ, chúng
tôi đến gặp một ngư ông khác: anh Phạm Hoàng
Quân, một chàng trai trung niên đang cùng ra khơi với hai
người bạn của tôi. Các anh tặng tôi những
bộ xương cá. Lòng tôi hồ hởi bởi vì gặp
được một ngư ông trẻ nhưng cảm
thấy bùi ngùi khi anh Quân cho biết những người
đứng trên bãi biển không bỏ đi, nán lại nhìn
bộ xương cá của anh lôi về xấp xỉ 400
hoặc 500 người, tính trên toàn quốc. Tôi nghĩ
những bộ xương cá của anh Sâm và anh Tâm kéo vào
bờ cũng được chừng ấy người
ghé mắt nhìn và có thể là ít hơn nhiều. Một trong
những bộ xương cá của hai anh tặng tôi là
truyện thơ bình dân “Chàng Nhái Kiển Tiên”. Cầm tác
phẩm trong tay tôi sực nhớ đến lời cô tôi: “Nó
mời gọi tầm nhìn của các bạn để
tồn tại”. Nhưng thơ “Chàng Nhái” là chuyện cũ
rích. Có biết bao nhiêu người đọc và truyền
khẩu trong dân gian để rồi bỏ nó chết
bờ, chết bụi, biến thành một cổ vật phi
giá trị. Nó bị hất hủi và mai một, theo tôi
nghĩ, là bởi vì con người giết nó bằng
những bước chân lần theo lối mòn độc
đạo nhàm chán: “Aùc giả, ác báo”, không khác gì tôi chỉ
lượm được nụ cười từ nàng
Mona Lisa của Leonardo da Vinci và không còn gì hơn thế.
Tìm ra một tầm nhìn mới vào tác phẩm
thơ “Chàng Nhái” là nỗ lực của tôi khi viết bài
này. Tâm nguyện của tôi là góp phần với những
độc giả khác hè nhau khai thông những lối đi
mới để khám phá thêm, để giải mã những
mật mã quí báu mà tác giả truyền tin cho độc
giả còn che giấu, ẩn nấp. Dĩ nhiên mục
đích của giải mã là mang lại hơi thở
để nó được hồi sinh và trường
thọ trong lòng nhân thế.
Về mặt tâm lý học, các nhân vật trong
thơ “Chàng Nhái” chỉ ra cho ta thấy sự khác biệt
giữa nhân cách và tánh tình. Nhân cách, từ nguyên của
tiếng La-tinh là “PERSONA”, là cái mặt nạ. Khi ta tức
giận những kẻ âm mưu phản trắc, những
kẻ miệng ngọt như mía lùi mà lòng lang dạ thú,
thường nói: “Để tao lột mặt nạ nó ra”.
Vậy, trong đời sống, con người có thể
mang nhiều mặt nạ khác nhau tuỳ theo tình huống
thích nghi (adaptation) hoặc thích ứng (accommodation). Theo
Piaget, thích nghi và thích ứng là hai hành vi cơ bản
để tồn tại của con người. Hoàn
cảnh sống lúc nào cũng đặt con người
trước một vấn đề cần giải
quyết, gỡ rối mới tồn tại
được. Khi hoàn cảnh mềm, nghĩa là không có
những vấn đề cam go, rắc rối, thì con
người đột nhập vào đó một cách dễ
dàng để đạt được ý muốn của
mình. Đó là quá trình thích nghi.
Chẳng hạn như biết chàng Nhái là con
của Ngọc Hoàng, các Diêm Vương sai người
mở cửa mười tầng Địa Ngục cho
Nhái vào tìm vợ. Chàng Nhái tha hồ xông vào tận nơi tra
tấn, hành hạ những kẻ ở ác, vẩy đầy
tội lỗi lúc còn sống ở kiếp người,
để tìm Kiển Tiên mà không hề gặp khó khăn,
cản trở.
Ngược lại, khi hoàn cảnh cứng,
nghĩa là dựng lên quá nhiều rào cảng và trở
ngại thì con người phải thích ứng để
tồn tại. Quá trình thích ứng là: hoặc anh phải
làm “Hàn Tín lòn trôn”, phải tự hạ mình hoặc anh
phải phá vỡ và sắp xếp lại hoàn cảnh cho
thuận tiện với tồn tại.
Quá trình thích ứng bộc lộ rõ nét
nhất là ở đoạn thơ tả cảnh chàng Nhái
đi hỏi vợ. Bước đầu, Giảng Dung
biết con mình dị dạng, thấp hèn mà đòi cưới
Kiển Tiên, con gái út của vua nên:
“Đến nơi vào chốn đơn
đình
Quì bên thánh thượng tỏ tình âm hao”
Hồ Vương chẳng những từ chối
mà còn kết tội:
“Khi quân vọng thượng tội thời
chẳng tha”
Đối diện trước vấn
đề quá cứng nên buộc lòng Nhái phải bẻ gãy
và sắp xếp lại hoàn cảnh để thích ứng.
“Dứt lời biến sự nên kinh
Đầy trào cầm thú dị hình đông
thay
Lướt vào gầm thét vang dầy
Hầm hầm nó muốn nuốt rày Hồ
Vương”
Trái lại, tính nết là một yếu
tố bất biến nơi con người. Từ nguyên
của Hy Lạp xuất xứ từ chữ “Charakter” là
khắc, khảm, chạm trổ. Cho nên tính nết con
người không thể thay đổi được. Do
đó, dân gian có câu: “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính”.
Truyện Kiều: “Tẻ vui thôi cũng tính trời
biết sao”
Đại Bàng Chằn Tinh tuy có căn tu
nhưng tính dâm đãng không thể bỏ được. Tính
Công chúa Kiển Tiên là thủy chung nên cho dù khi bị
Chằn Tinh soán ngôi, Kiển Tiên theo thế nữ Huỳnh
Đào trốn khỏi kinh đô nhưng lòng dạ vẫn
trông đợi chàng Nhái trở về:
“Ngày nay thê thảm muôn phần
Lòng ta đau đớn vô ngần mà thôi
Than rằng chúa thượng người
ơi
Đi đâu để thiếp vô hồi truân
chuyên”
Hay là khi hai chị làm áp lực cho Kiển tiên
bỏ chồng, Kiển Tiên vẫn không thay lòng đổi
dạ:
“Nàng rằng: Đạo ngãi vợ chồng
Tình giao một thuở mặn nồng thiên thu”
Còn hai người chị ruột của
Kiển tiên là Nhứt Kiều và Nhị Kiều lúc nào
cũng mang bản tính mưu mô, gian xảo nên đội
nhiều lớp mặt nạ khác nhau, nhưng không sao xoá
được vết khắc quỷ quyệt.
Trước khi bỏ thuốc độc vào miếng
trầu để giết Kiển Tiên, hai người
đến rủ Kiển tiên đi tắm suối:
“Hai chị thôi mới tới nhà
Rủ em đi tắm suối mà rất trong”
Chân tướng của hai người lộ
rõ nét nhứt là lúc xúi Chằn giết Thái Sư Vương
Bội, người có công vạch vẽ thời cơ
để giúp chồng mình thôn tính ngôi vua.
“Thái Sư vốn bụng gian tà
Lẻ nào mình lại thuận hoà giúp công…
Tức thì Chằn lấy đao ra
Đè đầu chận cổ giết mà Thái
Sư”
Mặc dù nhân cách của các nhân vật
biến đổi nhưng tính nết của mỗi người
vẫn giữ nguyên từ đầu cho đến
cuối của truyện thơ “Chàng Nhái”
Hiện tượng đồng hoá
(Identification) trong tâm lý học cũng bắt gặp nơi
thơ “Chàng Nhái”. Đồng hoá là thái độ hội
nhập mình với nhân vật cao sang, quyền lực hay
đáng nể trọng mà mình mơ ước trở thành
nhưng không đạt được.
Đứa trẻ bập bẹ điếu
thuốc trước bạn bè là đồng hoá mình với
người trưởng thành, làm cử chỉ của
người lớn, cho rằng mình là người lớn
nhưng thực tế chưa lớn. Một bác tài lái xe
cho vị quan cao cấp, khi quan bước xuống xe
rồi, anh ta lái đi một mình. Gặp đèn đỏ,
hắn cũng chạy càn lướt băng qua luôn.
Hắn đồng hóa mình với ông quan lớn, bất
cần luật đi đường hay cảnh sát giao
thông.
Hồi thế chiến thứ hai, bọn
Đức Quốc Xã hết sức ngạc nhiên khi
thấy họ đang lùa người Do Thái vào các lò sát sinh,
bỗng dưng có một số người Do Thái
giựt roi da đánh
đập lại các người Do Thái khác trong hàng. Thì ra
trước ngưỡng cửa tử thần, những
người này tạm đồng hóa với lính
Đức để tưởng mình là người
Đức, để kéo dài sự sống ra thêm
được vài phút.
Hai người chị của Kiển Tiên,
Nhứt Kiều và Nhị Kiều, thấy em mình lấy
được con Ngọc Hoàng nên dựa vào tình chị em
ruột thịt để đồng hóa với Kiển
Tiên.
“Nưng niu đem lại khuê phòng
Ấp Nhái mỗi bữa vui lòng biết bao
Chàng tua cổi lốt mau mau
Thỏa tình phu phụ ngồi cao tại trào”
Giết chết Kiển Tiên xong, hai
người muốn lấy mình thay vào vị trí của
Kiển Tiên, tức là đồng hoá mình với vợ chàng
Nhái, người lấy được con Ngọc Hoàng mà
mình không tài nào vói tới.
“Hai chị thôi mới ướm tình
Cần chi mà lại để mình sầu riêng
Dầu mà có mất Kiển Tiên
Chàng dùng người khác than phiền ích chi
…..
Vui vầy một phụng đôi loan
Mất một đền lại hai nàng kém chi”
Về ý nghĩa triết học, tuy thơ “Chàng
Nhái” là một truyện thơ bình dân nhưng mang ý nghĩa
triết lý khá sâu sắc.
Nếu Maltus định nghĩa con
người là một sinh vật biết đứng
thẳng trên đôi chân của mình, nếu Bergson
định nghĩa con người là một sinh vật biết
cười thì ở thơ “Chàng Nhái”, ta có thể bổ
xung thêm một định nghĩa khác về con
người. Con người là một sinh vật có tự
do và ý thức được hành vi tự do của mình.
Ở các sinh vật khác cũng có tự do.
Một dã thú trong rừng cũng được tự do
chọn mồi và săn mồi. Nhưng thật ra tự
do của loài vật là một hình thức nô lệ của
bản năng.
Ngược lại, con người có lý trí và
có tự do nên ý thức được sự chọn
lựa hành động của mình. Chằn Tinh vào làng
cướp bóc, vơ vét của cải của dân làng
về nuôi vợ con nhưng khi sáp trận giết chết
Đô Đốc, Chằn ý thức ngay hành động
của mình và phân trần với hai người vợ:
“Xương tan thịt nát còn nào
Sát sanh phạm tội Thiên tào nan dung”
Các nhân vật chính trong “Chàng Nhái” đều là
con Trời. Trời ném xuống trần gian và thử thách
con người bằng tự do. Trời không chỉ
đường, không buộc con người phải làm
theo những hành động tiền định hay rập
khuôn, rập mẫu, nhưng con người có quyền
tự do chọn lựa hành động và trách nhiệm
lấy hành động của mình trước Trời.
Nơi Thiên cung không phải là lãnh địa thử thách
của tự do. Nơi địa ngục càng không phải
chỗ để được tự do mà là chỗ
xử lý, phán xét, hành tội những tự do mà con
người chọn lựa sai trái. Cho nên chỉ có trần
gian mới có tự do và thử thách sự tự do. Tự
do của con người quá lớn, kể cả quyên sinh,
nghĩa là phủ định triệt để cội
nguồn của tự do. Tự do càng lớn, kéo theo
thử thách càng dày. Và để tránh tự do biến thành
nô lệ cho bản năng dục tính, xã hội thiết
kế đạo đức, tôn giáo với những
điều nên làm và không nên làm, với những thế
giới siêu hình như cõi Trời và Địa Ngục
để Thưởng và Phạt tuỳ theo sự hành
xử của con người ở cõi trần.
Dục tính, theo nghĩa rộng, còn chỉ lòng
tham. Chàng Nhái tuân phục đạo lý ở đời nên
được Ngọc Hoàng lúc nào cũng ra tay cứu
vớt khi lâm nạn. Trái lại Chằn Tinh là người
phản kháng liên tục cho đến chết. Dục tính
là một bản năng sinh tồn mù quáng của con
người, nhưng đạo đức xã hội
chỉ chấp nhận đi đúng hướng,
bước đúng chỗ. Tại sao Trời phú cho con
người bản năng dục tính cùng với bản
chất tự do? Chằn Tinh vốn là Đại Bàng, tu
luyện hơn ngàn năm, nhưng một phút:
“Gặp nàng con gái đẹp xinh
Anh ép trăng gió thoả tình bướm ong
Chẳng dè nàng phải mạng vong
Tội kia Trời tỏ lâm vòng luật thiêng”
Trời vừa ban cho con người tự do
vừa ban cho con người bản năng dục tính. Tu
hành đòi hòi phải trừ khử dục tính, một
yếu tố thiên phú của con người. Chằn Tinh
không chấp nhận thách thức vô lý này và phản kháng ra
mặt:
“Từ khi chồng vợ chung cùng,
Đánh liều luật cấm chẳng tùng
phép trên”
Trời trừng phạt biến một chàng
trai khôi ngô tuấn tú thành một gã Chằn xấu xí kinh
tởm
“Đặng mà chuộc tội cho vừa,
Hình thù ghê gớm phòng chừa tánh hung”
Lấy được Nhứt Kiều và Nhị
Kiều, triều đình sai một tướng tài
để giết Chằn Tinh. Điều này cho thấy
đạo đức xã hội không chấp nhận. Khi
Chằn và vợ vào làng dạo chơi, dân tình cũng gièm
pha. Chằn Tinh đột phá luôn rào cảng của
đạo lý con người bằng cách giết chết
viên tướng rồi xông vào làng vơ vét của cải
về nuôi vợ con.
Chằn Tinh phá luật Trời và đạo
lý xã hội con người, phản kháng triệt
để trước sự hà khắc vô lý này cho dù
Chằn biết rõ:
“Luật nào bằng luật Ngọc Hoàng
Chạy đâu chẳng khỏi vô phang lánh nàn.”
Trong khi hễ đụng chuyện thì Chàng
Nhái về tâu Ngọc Hoàng thỉnh ý, nhờ vả, thì
Chằn Tinh một mình chạy gió ngược, chống
lại Trời, chống lại xã hội cho dù biết
trước hậu quả là vong mạng:
“Nhưng vì việc đã dở dang
Anh đã trót lỡ chẳng màng tồn vong”
Vua là bậc Thiên tử, thân chinh đi đánh
Chằn Tinh. Tuy đánh thua nhưng Chằn chờ cơ
hội vua về chầu Ngọc Đế ra tay
cướp giựt ngai vàng. Chàng Nhái lên ngôi vua xưng
hiệu Đức Minh từ Thiên Đình trở về
giết chết Chằn Tinh.
Thơ “Chàng Nhái” cho ta thấy thân phận con
người bị buộc phải làm bầy cừu ngoan
ngoãn của luật Trời và luật người trong
cuộc đời thì sẽ được toại
nguyện mọi điều. Đạo đức xã
hội, nhơn danh đạo Trời, là một khuôn thép
cứng rắn đúc ra con người theo nếp nhân -
lễ - nghĩa - trí - tín và lấy đó làm nấc thang giá
trị bất biến để thưởng và phạt.
Thật ra đạo đức không phải
là chân lý phổ quát cho mọi xã hội và mọi thời
đại. Các nhà nhân chủng học ngạc nhiên khi khám
phá thấy một bộ tộc ở Châu Phi khi cha mẹ
già họ bắt leo lên cây cao để con cháu ôm gốc
lắc cho rớt. Nếu không thấy té xuống, họ
nuôi tiếp. Nếu rớt xuống, họ ăn thịt.
Đó là cách hiếu thảo ở đời. Cũng
vậy, tục lệ xưa của người Aztec là giết
trinh nữ để tế Trời. Theo Pascal, chân lý bên này
dãy Pyrénées là phi chân lý bên kia dãy Pyrénees.
Chằn Tinh, nhân vật phản diện trong
thơ “Chàng Nhái” vùng lên chống Trời và chống
đạo đức xã hội thì bị con người
nghiền nát. Thơ “Chàng Nhái” khuyên con người ăn
hiền ở lành theo định chế xã hội. Mặc
dù Chằn Tinh điển hình cho một nhân vật xấu
nhưng nói lên sự phản kháng của con người
trước sự nghịch lý của xã hội và bản
chất làm người. Chằn Tinh đánh đổi sanh
mạng cho hành vi lội ngược dòng nhưng là hình
tượng tiêu biểu cho dũng khí con người vùng
lên chống lại mọi nghịch lý của Trời và
Người, của điều răn và tự do với
bản năng thiên phú.
Về truyện thơ “Chàng Nhái”, tôi nghĩ ít
nhiều nó có thế đứng rất giá trị trong
văn chương bình dân của người Nam bộ nói
riêng, và của kho tàng văn học toàn quốc, nói chung. Sau
chiến tranh, chúng ta đang nỗ lực khôi phục
lại và phát huy nền văn học xưa và nay của
đất nước. Tôi băn khoăn cho số phận
của những ngư ông ra biển lẻ loi, sẽ không
đủ tiền để đóng được chiếc
thuyền mới. Tôi tự hỏi tại sao ta bỏ ra
hàng trăm triệu đồng để mua tác quyền
của những truyện Đô-Rê-Môn hay Harry Potter. Kéo
lớp trẻ hướng ra nền văn hoá nước
ngoài không phù hợp với đặc tính dân tộc.
Tại sao ta không xây dựng truyện, phim, thậm chí
lập trình game phù hợp với dân tộc tính của ta và
quảng bá nó ra thế giới bên ngoài? Tôi xin nhường
băn khoăn này cho những người nhiệt tâm và có
trách nhiệm để cùng nhau mang về bãi biển
những con cá ngon chớ không phải là những bộ
xương.