NGUYỄN Đ̀NH CHIỂU RA HUẾ
CHUẨN BỊ
THI HƯƠNG HAY THI HỘI KHOA KỶ
DẬU (1849)?
Nguyễn Thị Chân Quỳnh
I - NGUYỄN
Đ̀NH CHIỂU RA HUẾ THI HƯƠNG HAY THI HỘI?
Văn Học số 49 đăng bài của ông
Trần văn Tích bàn về cuốn "Việt Sử
Khảo Luận" của ông Hoàng Cơ Thuỵ, tác
giả tỏ ư thắc mắc tại sao có sách chép
chuyện vô lư là Nguyễn Đ́nh Chiểu chỉ
đỗ Tú tài mà lại ra Huế để chuẩn
bị thi Hội, có phải là đặc ân của
triều Nguyễn dành cho nho sĩ miền Nam? và thêm "trước
và sau Nguyễn Đ́nh Chiểu không thấy có chuyện
đó" (=Tú tài được thi Hội), tôi mạn phép
bàn góp mấy lời :
Quả Nguyễn Đ́nh Chiểu có ra
Huế chuẩn bị khoa thi Kỷ Dậu (1849), nhưng
để thi Hương hay thi Hội th́ mỗi sách chép
một phách. Lệ thường, những người
đỗ Tú tài phải thi Hương lại kỳ cho
đến khi có chân Cử nhân rồi mới
được thi Hội, v́ thế ta mới có những
vị Tú Kép (đỗ 2 khoa Tú tài), Tú Mền (đỗ 3
khoa Tú tài), Tú Đụp (đỗ 4 khoa Tú tài). Đó là lệ
thường, ngoài ra c̣n có những lệ luật khác cho
phép một số Tú tài được chính thức dự
thi Hội, không cần xin đặc ân. Sau đây là
những loại người được phép ứng thi
Hội :
- Cử nhân mới và cũ (đỗ
từ những khoa trước).
- Tôn sinh (người trong hoàng
tộc). Ấm sinh (con quan)
- Giám sinh, Cống sinh (những
người học xuất sắc, do phủ, huyện
tiến cống vào Kinh học đỗ, cho làm Giám sinh,
được cấp lương, mũ áo, miễn
thuế, tạp dịch. Song muốn thi Hội c̣n phải
qua một kỳ Hạch nữa, đỗ mới
được thi. Những người đỗ cũng
được gọi là "ông Cống" (danh từ này
vốn dành để gọi những người
đỗ Hương cống, tức Cử nhân).
- Huấn đạo, Giáo thụ (có
những người chỉ đỗ Tú tài, nhưng
nhờ học lực cũng được bổ vào hai
chức này).
- Học sinh Thượng hạng,
trúng Tú tài (Học sinh là những người có tư
chất, ham học, được tuyển lựa ở
địa phương, chước cho đi lính, tạp
dịch).
- Tú tài được làm việc trong Hàn
Lâm Viện.
Trừ Cử nhân và Giám sinh, những
người khác đều phải qua một kỳ
Hạch, đỗ mới được thi Hội.
Đọc Quốc Triều
Đăng Khoa Lục của Cao Xuân Dục, chúng ta
thấy riêng triều Nguyễn có đến 26 vị Tú tài
hay Phó bảng, nổi danh nhất phải kể
đến Trần Quư Cáp, xuất thân là học sinh
Thượng hạng, trúng Tú tài, đỗ Tam giáp Tiến
sĩ khoa 1904. Trong Giai Thoại Làng Nho Toàn Tập, ông
Lăng Nhân chép "Trần Quư Cáp đỗ ba khoa Tú tài liên
tiếp, theo lệ được thi Hội", chưa
rơ lệ năm nào, có điều chắc
chắn họ Trần khi ứng thi không có chân Cử nhân.
Chứng minh được Tú tài có
quyền thi Hội vẫn chưa bảo đảm
Nguyễn Đ́nh Chiểu ra Huế chuẩn bị thi
Hội. Luật thi Hương xưa nay bắt Thí sinh
phải thi tại nguyên quán, song vẫn có những
trường hợp ngoại lệ cho phụ thí, tức
là những người có cha làm quan xa, đến kỳ thi
Hương không về kịp quê quán nên xin đặc ân
được phụ thí tại nơi cư ngu. Tuy là
chuyện hiếm, nhưng Đại Nam Thực Lục
Chính Biên cũng chép ít nhất tới ba đạo
sắc dụ về phụ thí:
1) 1821:
từ Phú Yên về Nam, cho Thí sinh tuỳ tiện phụ thí,
từ B́nh Định ra Bắc phải theo nguyên quán.
2) 1834:
Nam kỳ có biến, học tṛ Gia Định
được phép phụ thí ở Thừa Thiên (ĐNTLCB
XXV, 283-4).
3) 1858:
Định lệ từ nay cho 6 tỉnh Nam kỳ
được thi phụ trường Thừa Thiên.
Lư do: Nguyễn Chính từ Hưng Hoá
không về kịp sinh quán Gia Định, được
phụ thí ở Thừa Thiên, đă đỗ đầu,
nhân đó thành lệ (ĐNTLCB XXVIII, 427). Nguyễn
Đ́nh Chiểu ra Huế từ năm 1846, tức là
trước khi phụ thí ở miền Nam thành lệ (1858)
song rất có thể Nguyễn Đ́nh Chiểu đă xin đặc
cách được phụ thí ở Thừa Thiên v́
người cha, Nguyễn Đ́nh Huy, đă từ Gia
Định trốn về Thừa Thiên năm 1833 khi Lê
văn Khôi nổi loạn ở Nam kỳ.
Mặc dầu Nguyễn Đ́nh
Chiểu có đủ điều kiện để xin
phụ thí, tôi vẫn tin tác giả Lục Vân Tiên ra
Huế để thi Hội chứ không phải để
thi Hương, v́ lẽ những người xin phụ thí
vốn là những người đă có mặt sẵn
ở Thừa Thiên, không về kịp quê quán mới có lư để
xin phụ thí, đằng này Nguyễn Đ́nh Chiểu
đang ở sinh quán Gia Định, lại lục
đục bỏ ra Huế để đón một khoa thi
mà trên nguyên tắc ḿnh không được phép dự,
trừ phi làm đơn xin phụ thí, thiết tưởng
hành động như thế có điều không ổn.
II - NHỮNG
ĐẶC ÂN CỦA TRIỀU NGUYỄN DÀNH CHO NHO SĨ
MIỀN NAM
hay là: Những " kỳ thị " của nhà
Nguyễn đối với sĩ phu miền Bắc.
Hay là : Những "kỳ thị"
của nhà Nguyễn đối với sĩ phu miền
Bắc
Một điều hiếm khi thấy
các sửû gia nêu lên là sự "kỳ thị" của
triều Nguyễn đối với đám sĩ tử
ngoài Bắc : từ cách lựa chọn học sinh,
đến cách tổ chức các khoa thi, chấm thi, bổ
quan chức v.v...rất nhiều đạo dụ cho
thấy sự bất công của nhà Nguyễn. Sau đây là
một số những sắc chỉ chép trong Đại
Nam Thực Lục Chính Biên :
1) Tuyển chọn Học sinh : 1855 Định ngạch Học sinh cho
các tỉnh biên giới : Cao Bằng, Lạng Sơn
v.v...khảo hạch và cấp lương cho ăn học như
các Học sinh từ Quảng B́nh vào Nam (tức là
miền Nam được hưởng đặc ân
trước).
2) Phụ thí :
- 1821 Định lệ cho thi
Hương từ nay từ Phú Yên vào Nam được
tuỳ tiện phụ thí, từ B́nh Định ra Bắc
phải theo nguyên quán.
1858 Định lệ cho 6 tỉnh Nam
kỳ được thi phụ ở trường
Thừa Thiên.
3) Tổ chức các khoa thi :
- 1834 thi Hội. Lệ trước các
Cử nhân, Giám sinh ở Kinh, ở các Trực (Quảng
B́nh, Quảng Ngăi, Quảng Trị, Quảng Nam) và ở
Tả kỳ (B́nh Định, Phú Yên, B́nh Thuận, Khánh Hoà)
trở về Nam, Hữu kỳ (Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh
Hoá) trở ra Bắc đều hội lại để
cùng thi...nhưng số người đỗ chưa
được quân b́nh. Những kẻ sĩ từ Kinh,
Trực trở vào Nam thi chung với các kẻ sĩ từ
Hữu kỳ ra Bắc nên khi điểm duyệt không
khỏi có sự sút kém về phân số (điểm).
Từ nay ba kỳ thi Hội, mỗi kỳ chia làm hai
lượt, mỗi lượt để riêng ngày : Cử
nhân, Giám sinh ở Thừa Thiên cùng các Trực và Tả
kỳ trở vào Nam cùng thi một lượt. Đầu
bài thi sẽ ra riêng và khi chấm sẽ tuỳ theo bài
văn mà điểm duyệt.
Vua dụ: Nếu mỗi kỳ thi chia
làm hai lượt cũng chưa được tiện,
vậy chuẩn cho trường thi chia làm hai vi:
Vi Giáp : sĩ tử ở Kinh, Trực
và Tả kỳ trở vào Nam.
Vi Ất : sĩ tử ở Hữu
kỳ trở ra Bắc.
Thi cùng một ngày. Thu quyển xong,
Đề điệu (quan trường phụ trách
việc Giám sát) chua luôn hai chữ "Vi Giáp" hay "Vi
Ất" vào phía dưới mấy chữ "kỳ thi
thứ mấy"...Vi nào nên lấy bao nhiêu Trúng cách
(đỗ thi Hội), bao nhiêu Phó bảng, sẽ hạ
chỉ đặc cách quyết định cho
được thăng bằng, thích đáng (?). (ĐNTLCB
XVI, 50-5).
- 1907 Lệ cũ Cống sĩ từ
Quảng B́nh trở về Nam vào Vi Giáp, từ Hà Tĩnh
trở ra Bắc vào Vi Ất, nay Cao Xuân Dục xin cho thi
lẫn lộn.
4) Chấm thi :
- 1825 học tṛ Thừa Thiên, Quảng
Nam không một ai đỗ. Vua sai Lục bộ duyệt
lại quyển văn lấy thêm Cao Hữu Dực ở
Thừa Thiên và Trương Tăng Diễn ở Quảng
Nam làm Hương cống (Cử nhân). (ĐNTLCB VII,
180).
1826 thi Hội, ứng thí trên 200
người, quan trường lấy đỗ 9. Vua
bảo thị thần Lương Tiến Trường và
Nguyễn Kim Xán :"Nay thiên hạ một nhà, Nam, Bắc
đều là tôi con của trẫm. Nam hiền th́ dùng Nam.
Bắc hiền th́ dùng Bắc; không phải có thiên tư.
Vả lại học tṛ Nam, Bắc đều là
người ở trong giáo dục, học lực
tưởng không hơn kém nhau, thế mà nay 9 người
đỗ đều là người Bắc là sao thế ?
Nên lựa lấy một, hai người từ Thừa
Thiên vào Nam để cổ lệ sĩ phong mới
phải". Thế là quan trường lấy thêm Phan Thanh
Giản cho đủ số 10 người (ĐNTLCB VIII,
28-9).
-1874 Sắc rằng :"Đặt
khoa thi chọn lấy học tṛ để giúp nhà
nước, hạng Tú tài để đấy không dùng là
vô ích, trừ người nào bổ quan th́ không kể.
Từ nay thi Hương đ́nh băi lấy Tú tài, bắt
đầu từ hai trường Hà Nội, Nam
Định". Bộ Lễ can :"Xưa nay quan viên
phạm tội nặng mới tướt bỏ tên trong
sổ xuất thân là Tiến sĩ, Cử nhân hay Tú tài. Nay
cả nước nguyên lấy đổ 4, 5000 Tú tài,
nhất khái bỏ hết tên ở sổ, sinh dị
nghị. Xin gia ơn cho đ́nh miễn. Vả thi
Hương năm nay ở các trường Hà Nội, Nam
Định là làm bù cho khoa Quư Dậu. Khoa thi Hương các
trường Thừa Thiên, Nghệ An, B́nh Định, Thanh
Hoá năm ngoái đều lấy Tú tài, nay nếu băi bỏ
sẽ không công bằng". (ĐNTLCB XXXIII, 108-9).
-1874 Gần đến kỳ thi hai
trường Hà Nội, Nam Định vua lại dụ
:"Mỗi trường không được lấy quá 50
Tú tài". Chủ khảo trường Nam Định Lê
Đức Quang tâu :"Thi Hương năm nay ở hai
trường là bù khoa Quư Dậu. Năm ngoái 4 trường
Thừa Thiên, Nghệ An, B́nh Định, Thanh Hoá vẫn
lấy số Tú tài như cũ, nay hai trường Hà
Nội, Nam Định xin chuẩn cho lấy trên
dưới 100 người". Vua y. ĐNTLCB XXXIII,
125).
Khoa 1840 khi thấy văn bài miền
Nam sút kém, vua bảo :"Văn phong ở Nam Kỳ mới
mở, quyển văn thi đỗ so với các
trường khác không khỏi có chỗ hơi
kém...Đời xưa có người ít văn học mà công
nghiệp rơ rệt, cứ ǵ phải Khoa mục đâu
?" (ĐNTLCB XXII, 170-2).
Nhưng khi văn bài sĩ tử
miền Bắc sút kém (khoa 1828) vua bảo Hà Quyền, Phó
Chủ khảo Bắc thành :"Bắc thành vốn xưng
là nơi văn vật mà kỳ thi này chỉ
được những người hạng b́nh, hoá ra
chỉ là hư danh à ?". Quyền tâu :"Bắc thành
gần đây chức Giáo, Huấn không được tốt
cho nên học tṛ không lấy ai mà theo được". ĐNTLCB
IX, 103).
5) Bổ quan chức :
- 1838 Khảo hạch các Tú tài các khoa
từ 40 tuổi trở lên ở Quốc Sử Quán.
Đỗ hạng b́nh 9 người, cho làm Huấn
đạo. Hạng thứ hay liệt 70 người :
những ai ở Hà Tĩnh trở ra Bắc cho về
học tập mỗi người cấp cho hai lạng
bạc; ai quê ở Quảng B́nh trở vào Nam cho làm Hành
tẩu Lục Bộ (chức quan chuyển đạt những
mệnh lệnh của vua hay của thượng quan) hàng
tháng cấp một quan tiền, một phương gạo
(=30 bát gạo).
- 1857 Định : người nào thi
Hội không có phân số (điểm) người từ
Quảng B́nh vào Nam 30 tuổi trở lên, từ Hà Tĩnh ra
Bắc từ 35 tuổi trở lên, đă thi Hội hai khoa
mà t́nh nguyện làm việc th́ cho ra làm việc.
- 1875 Trước kia phàm đỗ Tú
tài hai khoa, t́nh nguyện ra làm việc từ Quảng B́nh vào
Nam 40 tuổi trở lên, từ Hà Tĩnh ra Bắc 45
tuổi trở lên, đều chiểu lệ xét bổ.
- Lệ cũ Cử nhân Nam, 30
tuổi, Bắc 35 tuổi, đă thi Hội hai khoa mới
được xét bổ. Nay Nam, Bắc cùng cho lấy 30
tuổi làm hạn. (ĐNTLCB XXXIII, 183-4).
V́ không được đọc
trọn bộ Đại Nam Thực Lục Chính Biên
nên tôi chỉ chép được có chừng ấy sắc
dụ, nhưng bấy nhiêu cũng đủ cho thấy óc
thiên lệch của triều Nguyễn. Có lẽ v́ buổi
đầu nhà Nguyễn được nhân dân miền Nam
nâng đỡ, nên dành nhiều cảm t́nh cho người
miền Nam. Ngược lại, dù đất nước
đă thống nhất, song người dân Bắc ḷng c̣n
tưởng nhớ nhà Lê, có ư không phục nhà Nguyễn,
bởi thế vua Gia Long bỏ Thăng Long, dời đô
vào Huế (nhưng không quên dời luôn cả Quốc
Tử Giám đem vào ) và nhà Nguyễn tỏ ra "kỳ
thị" dân Bắc, đấy chẳng qua cũng chỉ
là một phản ứng tự vệ.
III - BÀN THÊM
VỀ NHỮNG CẤM LỆ "KỲ QUẶC"
CỦA KHOA CỬ.
Trên đây là những sự bất
công của riêng triều Nguyễn đối với sĩ
phu ngoài Bắc. C̣n nói chung về Khoa cử, các nhà nghiên
cứu lớp trước (tôi không muốn trỏ vào
những người làm cách mệnh, chán ghét khoa cử
như Phan Bội Châu) ai cũng ca ngợi Khoa cử công
bằng, không phân giai cấp, con nhà nghèo cũng có quyền
đi thi v.v...Kể ra, so với chế độ "con
vua th́ lại làm vua" quả Khoa cử công bằng
thật. Song tất cả chỉ là vấn đề
tương đối. Chúng ta chẳng ai không nhớ
trường hợp Đào Duy Từ đă đỗ thi
Hội, chỉ v́ người cha cầm đầu
đội nữ nhạc trong cung vua Lê Anh Tôn, nên bị xoá
tên trong sổ nhữngngười Trúng cách. Đào Duy
Từ uất ức mới bỏ vào Nam pḥ tá chúa Nguyễn.
Tại sao lại có lệ lạ lùng ấy? - Bởi
người xưa liệt các ca sĩ vào loại
"xướng ca vô loài" lười biếng, chỉ
rong chơi ca hát, đáng khinh, không được xếp
vào loại công dân có nghề nghiệp hữu ích cho nhân
quần.
Ai nghe chuyện cũng bất b́nh thay
cho Đào Duy Từ, những chẳng thấy ai phàn nàn
hộ (trừ Trần Văn Tích và Nguyễn Tuân) cho
một nửa số công dân Việt Nam cũng bị
cấm thi mặc dầu cha ông không thuộc loại
"xướng ca vô loài" : nay là phụ nữ. Phải
chăng phụ nữ không phải là công dân nước
Việt ? Chế độ phong kiến quyết tâm gạt
hẳn phụ nữ ra ngoài, Đoàn thị Điểm,
Hồ Xuân Hương đều bó tay, ấy thế mà
vẫn có người lọt lưới, cải nam trang
đi học và... đỗ Trạng nguyên ! Vào cuối
thời nhà Mạc, và thời nhà Lê Trung Hưng, bà Trạng
Nguyễn thị Du đă đóng góp cho nền văn
học Việt Nam nói chung và huyện Chí Linh nói riêng nên được
dân làng Kiệt Đặc (Chí Linh) thờ làm thần (Xem bài
Nguyễn thị Du, vị nữ Trạng nguyên độc
nhất của ta sinh năm nào?").
Ngoài phụ nữ và con nhà
"xướng ca vô loài" không được đi thi,
thời xưa c̣n nhiều cấm lệ mà ngày nay chúng ta
thấy lạ lùng khó hiểu, chẳng hạn cấm
những người có đại tang không được
đi thi. V́ sao? - V́ người xưa trọng đức,
có tang phải ở nhà cư tang, đi thi để mong
vinh hiển cho thân ḿnh mà quên cha mẹ là phạm tội
bất hiếu. Người đă mang tiếng bất
hiếu, không thương đến cả cha mẹ ḿnh,
th́ mong ǵ đi làm quan nghĩ đến dân đen?
Đấy là mặt lư thuyết. Song trên thực tế, ba
năm mới có một khoa thi, nếu gặp hai cái
đại tang liên tiếp cộng với một khoa
bị tật bệnh không đi thi được vị
chi mất chín năm đèn sách công toi. Chính một phần
v́ cái lệ khắc nghiệt đó mới có những
cụ già 60 tuổi c̣n lẽo đẽo lều chơng và
đến năm Thành Thái thứ 18 mới sửa lại
cho phép những ngựi có đại tang đi thi, nhưng
ngược lại, tuổi bị hạn chế (1).
Dễ hiểu hơn là những
lệ cấm người nào có cha ông ba đời làm
trộm cướp, phản tặc. Chọn người
ra làm "phụ mẫu" dân tất phải kén
người có hạnh kiểm tốt. Song thế nào là
"phản tặc?".
Với nhà Nguyễn th́ làm quan với
Tây Sơn, hay cả với nhà Lê đều là "phản
tặc" cả: Lê Đức Quang, Phạm Huy Lê chỉ
v́ khai lầm cha ông làm quan với nhà Lê đă bị xoá tên
trong sổ Cử nhân khoa 1831. ĐNTLCB X, 293-5).
Lại c̣n một hạng người
tuy không chính thức bị cấm thi mà cũng chẳng khác
bị cấm: đấy là dân làng Thiên Thuộc (sau gọi
là làng Tức Mặc) quê hương của các vua nhà
Trần, bị cấm không được học tập
văn nghệ, cốt để giữ tinh thần
thượng vơ, treo gương cho thanh niên toàn quốc.
Năm 1821, vua Trần Nhân Tông lập trường học
ngay phủ lỵ phủ Thiên Trường (sau là Xuân
Trường) tức là phủ hạt nhà vua, thế mà dân
làng Thiên Thuộc vẫn không được phép học
văn. Đă không học th́ thi làm sao được ? nên
tuy không bị cấm mà cũng chẳng khác bị cấm
là thế. Song chính nhờ trọng ngành vơ bị mà nhà
Trần bao lần thắng trận vẻ vang, sự
kiện này ngoài sử liệu c̣n nằm trong ngạn
ngữ "Đánh giặc đời Trần, làm quan
họ Đặng".
Thành ra có nhiều cấm lệ mà ngày
nay mới thoạt nghe ta thấy "kỳ quặc",
song đặt vào khung cảnh thời xưa, lấy
đức làm trọng, đặt đức trên tài, th́
những lệ ấy không phải hoàn toàn vô căn cứ.
Mặc dầu cha ông ta hết sức đề cao
đức hạnh trong cách giáo dục và kén chọn
người ra làm "phụ mẫu" dân, trên thực
tế số tham quan vẫn nhiều hơn số những
ông quan liêm chính, nhưng dù ít vẫn c̣n hơn không.
Châtenay-Malabry, tháng 6, 1990
(Văn Học, số 7, tháng 11, 1990)
1. Đại Nam Điển Lệ;
dịch giả : Nguyễn Sĩ Giác. Saigon : Viện
Đại học, 1962, tr. 359.
Trong
Hồi kư, Paul Doumer tỏ ra rất ngạc nhiên
thấy một Thí sinh 80 tuổi mới đỗ Tú tài.
* * *
Đọc lại Quốc Triều Đăng Khoa
Lục của Cao Xuân Dục (tr. 107) th́ thấy chắc
chắn Nguyễn Đ́nh Chiểu ra Huế năm 1849
để thi Hội chứ không phải thi Hương v́
thi Hương đă được tổ chức năm
1848. Sau đây là chi tiết khoa thi Hội năm 1849 :
Tực Đức năm thứ hai,
Kỷ Dậu (1849),
Quan duyệt quyển : Vũ Tuấn
Mai
Anh Tuấn
Quan đọc
quyển: Phan Thanh Giản
Trương Quốc Dụng
Lấy đỗ đầu
: Đệ
nhị giáp Tiến sĩ xuất thân Đỗ Duy Đê
đỗ Cử nhân năm Mậu Thân (1848) v.v...
Theo chỗ tôi biết th́ chỉ có
một lần vào năm 1779 chúa Trịnh Sâm mới mở
Hương Hội thịnh khoa, tức là tổ chức
thi Hương và thi Hội cùng một năm. Khoa này
Nguyễn Du đỗ Tiến sĩ xuất thân, Phạm
Quư Thích đỗ Đồng Tiền sĩ xuất thân (Đại Việt sử kư tục
biên, tr. 448).
Nguyễn Thị Chân Quỳnh. Lối Xưa Xe Ngựa
(Chương V – Nguyễn Đ́nh Chiểu ra Huế chuẩn bị thi hương hay thi hội
khoa Kỷ Dậu (1849)?)
(Nguồn: Chim Việt Cành Nam)