Ca dao miền Nam
U
• U Minh nước đỏ,
choại, dớn, cóc kèn
Ăn ở cho hiền, dạo
chơi với rắn
Bất kỳ sâu cạn, rắn
nước, rắn râu
Bay trên trời cao, rắn rồng
uốn khúc
Chạy ngang chạy dọc,
rắn ngựa phóng theo
Hút gió thiệt kêu, là con rắn
lục
Mái gầm lục dục, bò
chậm như rùa
Mổ xuống bất ngờ,
hổ mây ẩn núp
Coi chừng nó quất, là con
rắn roi
Ra đồng dạo chơi, là
rắn bông súng
Bưng đầy một thúng, là
rắn cạp nia
Ăn rồi ngậm nghe, hổ
hành nấu cháo
Dữ mà nhỏ xíu, đúng
thiệt rắn trun
Chứ nên coi thường, con
rằn ri cóc
Rắn mà muốn học, làm
cậu ông Trời
Có khách hay mời, là con hổ
chuối
Con rằn ri cá, thấy
nước thì ham
Hình vóc hiên ngang, rắn voi, mỏ
rọ
Thật là dáng sợ, chàm oạp,
hổ lang
• U Minh Rạch Giá Thị Quá Sơn
Trường,
Dưới sông sấu lội,
trên rừng cọp đua.
• Ước gì anh hóa đặng con
dơi
Bay lên đáp xuống chỗ
nơi em nằm.
• Ước gì anh hóa
được con kiến vàng
Bò ngang quai nón hun nàng cái chơi.
• Ước gì anh hóa dược con
ó vàng
Bay ngang đám cấy sớt nàng
đi theo.
• Ước gì duyên thắm chỉ
hồng,
Để cho thục nữ sánh
cùng trượng phu.
• Uổng công anh se nhợ uốn
cần,
Uốn xong con cá nó lần ra
khơi.
• Úp lá khoai,
Mười hai chong chóng,
Đứa mặc áo trắng,
Đứa mặc áo đen,
Đứa xách lồng đèn,
Đứa cầm ống
thụt,
Thụt ra thụt vô,
Thụt nhằm bụi chuối.
V
• Vách thành cao lắm khó dòm
Nhớ em anh khóc đã mòn con
ngươi.
• Vái trời đừng nắng
đừng mưa
Để tôi che nón tôi đưa
bậu về.
• Văn kỳ thanh bất kiến
kỳ hình
Mặt chưa thấy mặt mà
tình đã thương.
• Vắn tay với chẳng tới
kèo,
Cha mẹ anh nghèo cưới
chẳng đặng em.
• Vắng cơm ba bữa còn no
Vắng em một bữa giở
giò không lên.
• Vàng mười vô lửa vàng phai,
Anh nằm đêm, anh nghĩ
lại, coi ai bạc tình.
• Vàng thử lửa mới biết
vàng cao vàng thấp,
Em Bảy ơi, biết làm sao
gần bên em mà anh ôm ấp cho được phỉ tình.
Kiếp nầy mà em không
được làm vợ của anh,
Thì anh cũng nguyện kiếp sau
anh cùng em như chim liền cánh cây nọ liền cành.
Cho thỏa tình bấy lâu ao
ước.
• Về nhà thấy kiểng thêm
buồn
Nhành mai ủ dột, cửa
buồng nhện giăng.
(Ra về thấy kiểng thêm
thương,
Nhành mai ủ dột, vách
tường nhện giăng.)
(Ngó lên Sở Thượng thêm
buồn
Nhành mai ủ dột, vách
tường nhện giăng.)
• Vì ai bướm nọ xa ve
Mùa đông thiếp đợi, mùa
hè thiếp trông
Cảm thương thiếp
bắc, chàng đông
Tiếc người có nghĩa mà
không gặp mình.
• Vì ai nước mắt sụt sùi
Khăn lau không ráo, khăn chùi không
khô.
• Ví dầu cá bống xích (đánh)
đu
Tôm càng hát bội, cá thu cầm
chầu.
(Ví dầu cá bống hai mang
Cá trê hai ngạnh, tôm càng hai (sáu)
râu.)
• Anh về miệt dưới
ở lâu
Có người tới bỏ
trầu cau trên này.
• Ví dầu cá lóc nấu canh,
Bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành
cho thơm.
• Ví dầu cậu giận mợ
hờn
Cháu theo cùng cậu kéo đờn
cậu nghe.
• Ví dầu cầu ván đóng
đinh
Cầu tre lắt lẻo gập
ghình khó đi
Khó đi mẹ dắt con đi
Con thi trường học, mẹ
thi trường đời.
(Ví dầu cầu ván đóng
đinh
Cầu tre lắt lẻo gập
ghình khó đi
Ví
dầu mẹ chẳng có chi
Chỉ con với mẹ chẳng
khi nào rời.)
(Ví dầu cầu ván đóng
đinh,
Cầu tre lắt lẻo gập
ghình khó đi,
Khó đi mượn chén ăn
cơm,
Mượn ly uống
rượu, mượn đờn kéo chơi.
Kéo chơi ba tiếng đờn
cò,
Đứt dây đứt nhợ
quên hò xự xang.
• Ví dầu cây cứng rễ
bền
Gió lay chẳng chuyển, sấm
rền chẳng rung.
• Ví dầu cùi mít trôi lên
Cùi chôm chôm trôi xuống, hai kiềng
lùi* gặp nhau.
(* Nói lái: ''Cùi liền")
• Ví dầu lịch vắn,
lươn dài
Quạ den, cò trắng, thằng
chài xanh lông.
(Thằng chài lặn hụp
dưới sông
Gánh gạo đưa chồng
nước mắt như mưa,)
• Ví dầu nhà dột cột xiêu
Muốn đi cưới vợ
sợ nhiều miệng ăn.
(Nhiều miệng ăn anh đây
không sợ
Sợ duyên nợ không tròn lỡ
dỡ cho em)
• Ví dầu thiếp chẳng yêu
chàng
(Ví dầu tình đã phũ phàng),
Xin đưa thiếp xuống
đò ngang thiếp về).
• Ví dầu tình bậu muốn thôi,
Bậu gieo tiếng dữ cho
rồi bậu ra,
Bậu ra bậu lấy ông câu,
Bậu câu cá bống chặt
đầu kho tiêu,
Kho tiêu, kho ớt, kho hành,
Kho ba lượng thịt
để dành (mẹ) em ăn.
• Ví dầu ví dẫu ví dâu,
Ví qua, ví lại, ví trâu vô
chuồng.
• Vì em không dám phụ nghĩa tào
khương
Cho nên em phải lỗi với
thung đường anh biết không.
• Vì giần cho cám xuống nia,
Vì em anh phải đi khuya về
thầm.
• Vì sông nên phải lụy
thuyền,
Chớ như đường
liền ai phải lụy ai!
• Vịt nằm bờ mía rỉa
lông
Cá chậu chim lồng mấy
thuở gặp nhau.
(Vịt nằm bờ mía rỉa
lông
Cám cảnh thương chồng
ăn học đường xa.)
• Vịt Tàu xuống tắm ao sen
Trời ơi, lâu quá mới
gặp em một lần.
• Vợ anh xấu máu hay ghen
Anh đừng lấp lửng
chơi đèn hai tiêm.
• Vợ chồng là nghĩa già
đời,
Ai ơi, chớ nghĩ những
lời thiệt hơn.
• Vô duyên ghét kẻ có duyên
Không tiền ghét kẻ có tiền
cầm tay.
• Vô duyên mới lấy chồng
khòm,
Mai sau nó chết, cái hòm khum khum.
• Vò lành ai nỡ trét chai
Áo lành ai nỡ xé hai vá quàng.
• Vui từ trong cửa vui ra
Buồn từ ngã bảy, ngã ba
buồn về.
X
• Xa em từ mấy bữa rày
Cơm ăn không đặng áo gài
hở bâu.
• Xa nhau khó đứng khó ngồi
Dạ em bối rối như nùi
chỉ tơ.
• Xa nhau tại bậu đòi xa
Anh em cô bác ở nhà còn
thương.
• Xa ra đừng đứng
một bên
Em có chồng, anh có vợ, không nên
đứng gần.
• Xa xa quê tía bốn phía mây giăng,
Quê má rừng ngăn núi chặn,
Quê anh sông dài rạch vắn,
rồng rắn lượn quanh.
Đi không nỡ, ở không
đành,
Chiều chiều gắng
gượng lên gành ngó mông.
• Xăm xăm bước tới
cây chanh
Lăm le muốn bẻ sợ
nhành có gai.
• Xấu tre uốn chẳng nên
cần,
Xấu mai nên chẳng
được gần với em.
• Xin trời đừng nắng
chớ mưa,
Lâm râm gió mát cho vừa lòng tôi.
• Xứ độc địa
người đi ít lại,
Chốn hiểm nguy có vãng không lai.
Anh đi phụ rẫy trúc mai,
Bỏ em than vắn thở dài nhớ
thương.
• Xứ hiếm địa chim kêu
vượn hú
Dế ngâm sầu nhiều nỗi
đa đoan
Ngó dưới sông thấy cá
mập lội nghinh ngang
Nhìn dưới suối thấy
sấu nằm hơn trăm khúc
Con tới đây là nguồn cao
nước đục
Loài thú cầm nhiều thứ
gớm ghê
Gấu chằn tinh lai vãng dựa
bên hè
Còn gấu ngựa tới lui khít
vách
Ra một đỗi xa ngoài mé
rạch
Thấy beo nằm đếm
biết mấy ngàn
Ngó lên bờ thấy cọp
dọc ngang
Lần tay tính biết bao nhiêu
chục.
Bầy chồn cáo đua nhau lúc
nhúc
Lũ heo rừng trừng giỡn
bất loạn thiên.
Đá chân hòn hươu chạy
giáp dấu liền
Nhìn triền núi nai đi nối
gót
Đôi vượn bạch
nựng con thảnh thót
Cặp giả nhơn cất
tiếng rảnh rang.
Ngó sau lưng thấy kỳ lân
lửa mặt đỏ nanh vàng
Nhìn trước mặt voi đông
lố nhố
Hướng Đông Bắc công kêu
tố hộ
Cõi Tây Nam gà rừng gáy ó o.
Ngó trên cây thấy khỉ
đột mặt đen mò
Nhìn xuống đất thấy
lọ nồi nhăn răng trắng xác.
Xứ Tà Lơng nhiều con thú ác.
Lọt vào rừng ắt chẳng
đặng về:
Muôn đàn ong xây tổ tứ
bề
Loài ong độc kể sao cho
hết
Các thứ kiến, kiến nào
cũng nghiệt
Dòng kiến hùm đếm biết
ngàn bao
Đường cheo đi qua
lại non đèo
Dấu thỏ lội dưới
chân non liễu ...
Dòng đẻn cườm rất
nên quá dữ
Chạm vào người ắt
phải bỏ mình
Loài sứa gai đụng tới
thêm kinh
Con cá cóc chạm vào đau nhức
Cá mang ếch trúng vào thúi thịt
Lưỡi hồng đao mang nó
khó ngồi.
Sớm mơi ra vào muỗi
tựa trấu xay
Rạng đông rồi bù mắt
lấp chân tay.
Sau bực thạch biết bao
nhiêu con vích
Trước sân đình rắn
hổ ở chật đường
Khi lặn trời gối
tuyết dầm sương
Giờ tắt nắng đồi
mồi ra hứng tuyết
Bầy chim ấy đố ai
biết hết
Muôn thú cầm người
thấy hảo tình
Khi lặng trời bầy sam
nổi linh đinh
Cơn sóng gió cua bò chật
đất
Ốc len ở như bao hòn núi
chất
Biển bãi bùn sò ở bất
loạn thiên.
Kìa là chim phụng, chim loan, cao các,
Hồng hoàng thẳng cánh bay lên..
• Xứ nào bằng xứ Cạnh
Đền,
Muỗi kêu như sáo thỗi,
đỉa lội lềnh như bánh canh
(Cà Mau hãy đến mà coi,
Muỗi kêu như sáo thổi,
đỉa lội lềnh
như thể bánh canh.
(Rừng thiêng nước
độc thú bầy
Muỗi kêu như sáo thổi,
đĩa lội đầy như bánh canh.
• Xứ nào vui bằng xứ Sài Gòn
Người đi như hội,
anh còn nhớ em.
• Xưa kia ai cấm duyên bà
Bây giờ bà già, bà cấm duyên tôi.
• Xung quanh cô bác giáp vòng
Anh muốn hun về chốn loan
phòng sẽ hun.