Trời xanh như mắt em
Trang Thế
Hy
Duy ngồi thẫn thờ nhìn
ra đường và ao ước rằng trước
mặt là cánh đồng bao la của một miền quê nào
đó, xanh rờn rợn màu xanh mát dịu mà chứa chan
sinh lực của thảm lúa tháng tám sắp trổ
đồng đồng. Heo hút đằng chân mây, một
rặng cây màu lục, mờ mờ trong sương
sớm. Trên nền trời lờn lợt màu xanh
dương, vài cụm mây trắng mỏng, đôi ba
vệt khói , một con chim nhỏ lửng lờ nghiêng cánh
mỏi, ngập ngừng… Và nơi anh ngồi là một
chiếc võng mắc giữa một khu vườn yên
tĩnh dưới bóng một tàng bưởi đang
tiết ra mùi thơm thoang thoảng của hoa mới
nở. Tiếng líu lo của bầy sáo uống sương
trên hoa vông, những câu hỏi ngớ ngẩn của
một cô em gái quê mùa, ý mộc mạc như chiếc áo
lụa giồng đang mặc, mà giọng nói ngọt ngào
như lóng mía đương tơ…
Duy thấy cần một
số hình ảnh, âm thanh và mùi hương thơ mộng,
êm đềm gợi niềm yêu đất mẹ như
thế đã xua đuổi một cái gì rất đen và
rất nặng trong lòng anh. Nhưng trước mắt Duy
không phải là một cánh đồng lúa xanh mà là một
đại lộ rộn ràng xe cộ của Sài Gòn
chiều chúa nhựt. Nơi Duy ngồi không phải là
một khu vườn yên tỉnh thơm hoa bưởi mà
là một quán kem đông khách bên cạnh một rạp
chiếu bóng lớn vừa mới chiếu xong một
xuất.
Người con gái ngồi bên
cạnh Duy không mặc áo lụa giồng mộc mạc
như một vài cô em họ quê mùa. Đây là Yến,
người yêu của Duy, một thiếu nữ mang
đầy đủ sắc thái của kinh thành hoa lệ
từ lối trang phục, đến nết đi,
nết đứng, giọng nói, giọng cười. Cuốn
phim Duy và Yến vừa xem có nhan đề là “Đồng
hoang đẩm máu”, nói lên những cảnh rùng rợn
của giết chóc và kết luận rằng kẻ nào có
gan đem tình yêu của mình phiêu lưu trong những
cuộc đùa giỡn với tử thần một cách vô
lý như thế thì mới hiểu được tình yêu.
Bối cảnh của cuốn phim là cuộc chiến tranh
Nam Bắc Mỷ hồi thế kỷ trước và
nhân vật là những nam nữ thanh niên thèm giết ngang và
thèm yêu, thấy màu máu đẹp như màu hoa, và nghe tiếng
kêu cứu kinh khủng của con người bị đè
xuống cắt cổ cùng thơ mộng ngang với
những lời tình tự.
Phim nầy, Yến đã xem
rồi hai lượt Yến cho là hay lắm, hôm nay
đến rủ Duy đi xem để Yến xem lại
lần thứ ba. Chính vì vậy mà Duy buồn muốn phát
khóc lên được. Cô
đào Mỷ đóng vai chánh trong phim có một
thứ nhan sắc khiêu gợi và man rợ độc
đáo. Con người của Yến có nét hao hao giống
với cô đào đó: một đôi mắt sáng với
những rặng my dài và cong, một vóc hình không “nẩy
lửa” lắm về thể tích nhưng có những cái uốn
éo rất quyến rủ khi cử động. Mặc
kệ những nét riêng của cô đào mà Yến không
thể có như : mắt xanh, tóc hung và mũi cao, Duy vẫn
thấy người yêu của mình giống với
một nữ tài tử mà anh không cảm mến.
Hồi mới vào quán giải
khát, Duy nhìn Yến một lúc rồi hỏi:
- Uống gì, nàng Cát Tơ Linh
của tôi? Cát Tơ Linh là tên của cô gái trong phim mà
người viết phụ đề Việt ngữ phiên
âm ra.
Yến không để ý
đến nụ cười gượng gạo trên
gương mặt buồn rười rượi của
Duy trong lúc Duy hỏi và tưởng Duy rất hảnh
diện có người yêu giống tài tử chiếu bóng,
nên Yến mừng rở:
-Sao? Anh thấy em
giống nữ anh hùng trong phim lắm à? Hôm nào anh mặc Aâu
phục cho anh xem nhé ! Em có một số Aâu phục nhưng
từ khi biết anh thì không mặc nữa, chỉ vì
một câu nói của anh.
-Anh nói gì, nói với ai?
-Nói với em chớ
với ai? Anh mau quên quá! Anh nói rằng anh rất ghét
thiếu nữ Việt Nam mặc âu phục.
-Vậy à? Anh không
nhớ. Nhưng em đã nhớ sao em còn muốn
đòi mặc Aâu phục cho anh xem?
-Ai biểu anh gọi em
là nàng Cát Tơ Linh của anh. Sự thật, Duy không quên câu
nói đó của anh và anh hỏi Yến chỉ là hỏi cho
có hỏi mà thôi. Duy muốn nói cho Yến biết rằng
anh đang buồn lắm chớ không phải hảnh
diện như Yến lầm tưởng. Nhưng Duy
chỉ mỉm cười rồi ngồi trầm ngâm nhìn
ra đường cho đến bây giờ.
Ly nước trước
mặt Duy có lẽ đã hết lạnh. Đường
và nước lắng lại từ phân nữa ly trở
xuống đáy, phần trên là bèo bọt còn đầy
ăm ắp chực muốn trào ra ngoài vành ly mà Duy chưa
rớ tới. Yến thở ra hỏi :
-Sao anh buồn
vậy? Anh không muốn em mặc Âu phục thì thôi. Từ
biết anh đến giờ, em có mặc đâu.em
chiều theo sở thích anh, anh thấy chớ! Anh giận
em à?
Duy ráng nở một nụ
cười cố làm ra âu yếm để làm lành với
Yến. Duy thấy giận Yến là vô lý. Con người
của Yến là như thế. Từ nhỏ đến
giờ, Yến theo học tại một trường mà
giáo viên, giám thị đều là người Pháp. Trong lúc
cuộc chiến tranh Việt Pháp kéo lê thê chín mười
năm, thì cuộc đời Yến êm ấm quá, yên vui quá
giữa cái đô thị mà người Pháp cần phải
ráng sức vãn hồi trật tự bằng mọi cách dù
bằng máu hay bằng tiền. Yến không hiểu thế
nào là “ sự đánh giặc ” với bộ mặt
thiệt của nó. Người ta giảng giải cho
Yến hiểu bằng những cuốn phim kiểu phim “
Đồng hoang đẫm máu ” nầy thì Yến phải
hiểu như vậy chứ sao? Chính Duy đã chọn
một người như Yến để yêu rồi bây
giờ giận Yến sao phải. Nếu cần giận
thì Duy nên tự giận mình đã thiếu suy xét chọn
người yêu với tâm trạng vừa mừng rỡ
vừa hốt hoảng của một con người
dễ mừng mà cũng dễ sợ vừa mới
bước ra khỏi một trận giặc, mang theo
một thứ tư tưởng mù mờ rằng mầm
chinh chiến không còn nữa. Để rồi khi cụng
trán với thực tế lại giật mình.
Cho nên, Duy thấy cần nói rõ
cho Yến hiểu lòng mình. Duy nhìn vào đôi mắt Yến
một lúc rất lâu rồi dịu dàng nói tiếp :
-Yến lẩn thẩn
lắm! Yến làm gì mà anh giận Yến? Anh đang
buồn thật, nhưng đâu nhất thiết mổi khi
anh buồn là vì giận Yến?
Duy thở ra lắc
đầu:
-Xem xong cuốn phim
như vậy, Yến không thấy buồn à?
Yến ngẫm nghĩ một
lúc rồi đáp:
-Kể ra những
cảnh chém giết cũng hơi buồn thật, nhưng
cuộc đời là như vậy, biết làm sao?
-Phải làm sao, thì không
thế nào nói cho Yến hiểu trong một đôi ngày
được. Nhưng ít ra, Yến củng phải
thấy đau xót và thèm khát một cái gì chớ.
-Em không đau xót vì
những cuộc chém giết trong phim đều hợp lý
cả. Phải giết kẻ khác để mình
được sống. Còn thèm khát cái gì quả thật em không
biết nên thèm khát cái gì bây giờ. Anh, thì thèm khát cái gì?
Duy nhìn vào đôi mắt
Yến lần nửa và nói một câu không định
trước:
-Nhìn cảnh máu chải
nhiều quá, anh thèm khát trời xanh và buồn vì không tìm
thấy màu xanh đó trong mắt em.
Yến tưởng Duy nhớ
đến màu mắt xanh của cô đào trong phim, liền
nũng nịu:
-Anh giàu tưởng
tượng quá! Con gái Phương Đông làm gì có màu
mắt xanh? Vậy mà anh nói là không ưa cô đào trong phim.
Giấu đầu lòi đuôi! Không sợ em ghen à?
Lần này thì Duy không
cười nữa được . Duy nốc cạn
một hơi ly nước khóm, kêu trả tiền rồi
cầm tay Yến bước ra khỏi quán. Ngồi thêm
một lát nửa, Duy có thể khóc vì tức tối. Trong
lúc đứng đợi xe, Duy suy nghĩ về sự
thông minh của Yến . Trong nhiều việc, Yến
tỏ ra rất thông minh. Nhưng với sự thông minh
đó, Yến không thể nào hiểu được
mấy tiếng “ thèm khát trời xanh” nói lên những hoài
vọng gì của con người.
Lúc chia tay, Duy dặn Yến:
-Trong một tuần
lễ tới, em đừng đến tìm anh nhé. Anh
về quê dự đám giỗ và thu xếp một vài
việc nhà trong đó có vấn đề hôn nhân của
chúng ta.
Giọng Yến mừng
rở nhưng hờn dổi:
-Đi ăn giỗ sao
không rủ em đi với?
Duy lắc đầu:
-Đám giỗ nầy
buồn lắm Yến à. Ba và anh Hai chết cách đây
mười năm trong một cuộc tàn sát khủng
khiếp. Hơn tám chục mạng người bị
giết bằng đủ kiểu trong vòng vài tiếng
đồng hồ và chỉ trong phạm vi một xóm
nhỏ. Ngày giỗ này kêu là “ngày giỗ hội”. Ba bốn
chục gia đình đều có giỗ, và không có ai
đến dự đám giỗ của nhà ai; đìu hiu
lắm.
Tuy đáp vậy, nhưng Duy
chờ đợi Yến hỏi một câu:
-Anh không muốn em chia
sớt nổi buồn với anh à?
Hay ít nhất Yến củng
rùng mình, nhăn mặt khi nghe nhắc lại cuộc tàn sát
kinh khủng như thế. Nhưng Duy đành thất
vọng. Yến bình thản quá:
-Buồn, thôi để
khi khác. Nhưng sáng sớm anh chờ em đem trà, bánh, trái
cây gởi về cúng nhé. Phải làm ra điều rằng
mình là cháu dâu ngoan cho bà nội và cô ba thương, và anh
dể ăn nói .
Cha mẹ anh em Duy đều
chết hết chỉ còn lại có bà nội và một
người cô thứ ba, Yến có về chơi với Duy
nhiều lần nên biết rõ như vậy.
Với thái độ bình
thản và câu nói thiếu nghiêm chỉnh với bề trên
của Yến, Duy thấy rằng từ hôm nay cái hố
phân cách giửa hai người sẻ lần lần
lớn ra không có phương nào lấp lại.
* * *
Qua khỏi vuông rào tre, Duy
dừng lại đứng nghe Phượng và Thơm
ngồi nói chuyện với nhau ở cầu ao,
dưới dạ cây bình bát. Phượng rửa cá.
Thơm vo gạo, Thơm là em họ của Duy, con cô Ba. Phượng
hình như củng có bà con sao đó, nhưng xa lắm.
Thơm có chồng, thỉnh thoảng mới về thăm
mẹ và bà ngoại. Phượng mồ côi từ thuở
bé, còn nhỏ mới mười bảy tuổi, ở chung
với bà Cả và cô Ba là bà nội và cô của Duy.
Duy đứng từ phía sau
nên Phượng và Thơm không nhìn thấy anh, Thơm nói:
- Đám giỗ gì loe hoe
có mấy người, buồn hiu. Lát nửa, chừng
dọn cúng, bà ngoại và má chị lại khóc kể y
như đám ma, rầu quá. Phượng nhớ hồi
đám giổ ông Cố hôn? Đám giỗ hồi đó vui
lắm. Còn đủ mặt bà con: Ông ngoại, cậu Hai,
mợ Hai, dì Tư… con nít thì một lũ rần rần,
mới thọc huyết con heo là xúm lại giành cái bong bóng
như giặc chòm vậy.
Phượng day qua nhìn Thơm
cười:
-Hồi đó em còn
nhỏ xíu mà nhớ gì.
-Ờ, phải à, hồi
đó Phượng mới biết đi lẫm
đẫm. Chị cũng mới học lớp tư,
lớp năm gì đó. Để chị nói chuyện
hồi đó cho nghe. Hồi đó chị ở bên nội
chị, một năm mới về thăm ngoại vài
lần nên ông ngoại cưng lắm. Anh Hai Hiệp, anh
của anh Ba Duy,
bửa nay mình cúng nè, ảnh hổng có em gái nên ảnh
thương chị lắm. Còn anh Ba Duy thì ảnh thấy ông ngoại
cưng chị, ảnh cà nanh, kiếm chuyện ăn
hiếp, bị chị mét phải đòn hoài. Có một
lần nọ, củng trong dịp đám giỗ Ông Cố,
chi chơi ác xúi ảnh ăn cắp bánh tét mới vớt
chưa cúng. Aûnh đem chia cho cả bọn ăn no nê
rồi chị đi mét. Cậu Hai giận quá bắt
ảnh cúi đánh năm roi giửa đám giỗ làm
ảnh mắc cở lủi ra ngoài rào tre trốn biệt.
Bây giờ ảnh hiền vậy chớ hồi đó
rắn mắc lắm.
-Hồi đó thì em
hổng biết. Lúc ba má em chết hết, em về ở
luôn với ông bà, và bác hai thì ảnh lớn rồi. Ảnh
đi học ngoài chợ, chúa nhựt mới về một
lần, mà ảnh thương lắm, lần nào về
củng có mua bánh cho em. Rồi kế tới thời kỳ
giặc giã. Lúc đó em mới sáu, bảy tuổi. Em còn
nhớ buổi tàn sát , ảnh với em trốn
dưới ao cá nầy nè. Aûnh sợ em khóc, Tây nó nghe,
ảnh bụm miệng em ngộp muốn chết. Cũng
nhờ mấy thằng Tây đui. Hai đứa nằm nép
trong mé bờ, úp mặt vô bụi ráng đưa lưng
trơ trơ chớ có kín đáo gì đâu mà tụi nó
hổng thấy. Khuya bửa đó, ảnh cỏng em
từ đây đến tới bến đò. Em khóc đã
đời rồi ngủ rục trên lưng ảnh,
chừng thức dậy đói bụng, khóc nửa. Ảnh
cực với em đủ cách mà hổng bao giờ
quạu quọ. Bây giờ sao ảnh hổng còn
thương mình nửa, buồn ghê.
Thơm cười lớn:
-Vậy chớ lớn
đầu rồi mà muốn làm con nít rồi như hồi
nhỏ vậy sao? Để coi, ảnh lớn hơn
chị hai tuổi, năm nay hai mươi sáu, còn em cũng
mười bảy, mười tám tuổi rồi. Ờ,
nghe nói mấy tháng trước, ảnh về thăm nhà có
dắt theo một cô nào ở Sài Gòn, ngộ lắm
hả Phượng? Chắc mê cô đó rồi quên em út
hết trọi chớ gì.
Giọng Phượng buồn
mà gay gắt:
-Nhắc cái bà đó em còn
sôi gan nữa. Giầy cao gót cả tấc tây, đi ngang
cầu không chịu cởi để cho lật té trặt
giò rồi đày anh Ba ảnh thức cả đêm săn
sóc. Đòi đi câu bắt ảnh thọc trứng kiến
vàng làm mồi. Kiến cắn ảnh đỏ rần mình
mẩy, hổng dám bắt đứng cười chơi.
-Đàn ông con trai thì
vậy không. Hể mê gái rồi thì bất kể trời
đất. Mà Phượng coi bộ ngoại với má
chị ưa cô đó hôn?
-Ưa iếc gì. Nhưng
thấy anh Ba thương, bà với cô Ba củng làm mặt
vui cho anh Ba vừa lòng. Kỳ giỗ này dám ảnh quên không
về lắm à!
Thơm đứng dậy nói
:
-Thôi chị vô
trước. Nước sôi nãy giờ. Ở nói dóc hoài, bà
già bả chửi bây giờ.
Vừa mới bưng thúng
gạo quay mặt lên, Thơm nhìn thấy Duy, giựt mình:
-Hú hồn, hú vía. Cái anh
quỷ nầy! Về tới hồi nào? Nãy giờ
đứng rình nghe tụi nầy nói lén đã đời
hả?
Duy cười:
-Nghe chút đỉnh thôi.
Bắt đầu từ lúc cô nhắc lại vụ
hồi nhỏ chơi ác xúi tôi ăn cắp bánh tét chưa
cúng, bị đòn năm roi, mắc cở trốn ra bờ
tre bỏ ăn cỗ.
Phượng củng quay
lại nhìn thấy Duy nói với Thơm nhưng ngó mình,
lật đật ngó xuống rổ cá để giấu
sự e thẹn, trong lúc Duy và Thơm vui vẻ cười
lớn lên theo những hình ảnh đẹp và vui của
tuổi thơ được gợi lại.
Lúc ba người vào nhà, Duy
đi sau chót để nhìn Phượng. Lần đầu
tiên, Duy thấy Phượng đẹp và đột
ngột có cái ý định muốn tìm hiểu trong dịp
đám giỗ nầy, coi anh và Phượng bà con với nhau
như thế nào.
Phượng đi chợ
về, vô nhà bằng ngã sau không ai hay. Cô đi thẳng vào
buồng thay đồ, thấy cô Ba nằm ngủ trưa
một mình. Bà Cả có lẽ đi đâu đằng xóm.
Đằng trước im lìm. Qua kẽ vách, Phượng
thấy Duy và Ông Tám, người ông chú của anh ngồi
đánh cơ. Duy đang nghiệm một nước
cờ gì đó bổng đột nhiên tuyên bố chịu
thua, làm ông Tám có vẻ mất hứng:
-Còn nước gỡ mà
mầy Ba?
Duy lắc đầu:
-Dạ cháu chóng mặt
quá ông Tám à! Với lại trước khi về Sài Gòn,
cháu muốn nhờ ông Tám giúp cháu một chuyện là
soạn lại một cuốn gia phả để
hiểu biết căn cội dòng họ của mình. Trong
thân tộc bên nội bây giờ chỉ còn có ông Tám là
lớn. Bà nội cháu thì già quá rồi mà chắc củng
không rõ căn cội bên chồng cho lắm.
Ông Tám gục gặc
đầu:
-Phải chớ!
Thằng Ba mầy nói phải! Nhiều người bà con
với nhau mà không biết bà con như thế nào, ai hỏi
tới nói ú ớ, nghe lãng xẹt. Tao còn giử một
cuốn trên nhà, cũng của Ông Nội mầy để
lại. Mấy năm giặc, thứ gì củng tiêu, may mà
nó còn đó. Mai chiều gì mầy muốn chép thì lên mà chép.
Bổn đó chữ nho, chép lại chữ quốc
ngữ, phải có tao nói mới được. Hay à! Ýù
đó hay à. Mà sao tự nhiên thằng Ba mầy nẩy ra ý
đó?
-Dạ, cũng nhơn
ngày giỗ ông nội cháu, ba cháu và anh Hai cháu, cháu mới suy
nghĩ thấy cần. Thí dụ như bây giờ ai
cắc cớ muốn hỏi thử cháu và con Phượng
trong nhà nầy bà con như thế nào, thì cháu vô phương
phăng manh mối. Cần phải có cuốn gia phả là
vậy.
Ông Tám mỉm cười,
vừa rót trà ra tách vừa nói:
-Con Phượng
đối với gia tộc mình thì ăn trớt, không có
họ hàng gì hết. Nhưng có chuyện nầy củng
cần phải nói cho thằng Ba mầy thông. Chuyện
củng hay lắm. Số là ông nội của tao tức là
mầy kêu bằng ông Sơ đó, với ông Sơ của
con Phượng hồi xưa vốn là người
dưng và đều là bộ hạ của ông lãnh Thiệp.
Ông lãnh Thiệp
là đồ đệ của Ông Đốc binh Kiều.
Lãnh đây là lãnh binh nói tắt. Đó là một chức
của mấy ông “đằng cựu” phong cho chớ không
phải của Triều đình. Lúc Tây bắt
được ông lãnh binh Thiệp giết rồi, thì
bộ hạ mạnh ai nấy chạy như gà giở
bội. Ông Sơ của mầy với ông Sơ của con
Phượng xiêu lạc về đây làm ăn tự
xưng là anh em ruột, rồi cưới vợ sanh con
đẻ cháu cho tới bây giờ. Năm mười
năm sau, ở đây có phong trào cũng của một ông
đằng cựu nào đó tao hổng nhớ tên. Ông sơ
con Phượng rủ ông Sơ mầy theo nữa. Ông
mầy hổng chịu, ông kia đi một mình gởi
gắm vợ con lại. Về sau ổng chết oanh
liệt lắm. Ông Sơ mầy thương bạn và
nhớ lời gởi gắm mới tiếp tục
nhận bà Sơ của con Phượng là em dâu cho tới
ngày nay. Đầu đuôi là như vậy, tính theo bà con
thiệt tình thì bây giờ cũng xa xôi lắm rồi, còn
phăng ra cho đúng căn cội thì là chánh hiệu
người dưng.
-Thưa chuyện đó,
bà nội và cô Ba cháu biết rỏ không vậy ông Tám?
-Chị Cả thì
biết chớ, còn con Ba chắc củng được
nghe chị Cả nói lại chớ chẳng lẽ không.
Nhưng theo tao nghĩ mỉnh phăng nguồn cội
để biết bà con là một chuyện còn thương
yêu nhau hay không là chuyện khác. Con Phượng nó còn nhỏ
khoan nói sợ nó nghe nó buồn. Thuở giờ nó
tưởng nó là con cháu ruột trong nhà.
-Dạ
Bước ra khỏi
ngạch cửa, ông Tám quay lại hỏi:
-Ờ còn thằng Ba
mầy nghe nói hôm nào có dắt con nhỏ nào đó ở Sài
Gòn về chắc là để cho chị Cả và con Ba coi
mắt cháu dâu chớ gì? Phải vậy không ? coi
được thì tính tới đi, mầy củng
trọng tuổi rồi.
-Dạ trước có
định vậy nhưng bây giờ chắc là
hồi mối đó rồi ông Tám à.
-Sao vậy?
-Dạ coi kỹ lại
tánh tình không hợp.
-Ờ! Hổng ấy thì
về vườn kiếm gái vườn mà cưới.
-Dạ cháu củng tính
vậy à ông Tám.
Duy vừa đáp vừa
bước theo ông Tám để tiển ông ra tới
cổng. Lúc vừa vô, Duy gặp Phượng từ phía sau
nhà bước lên, tay cầm một trái bắp nấu,
miệng chúm chúm cười, má hây hây đỏ vì
đường đi từ chợ về nhà phải qua
một cánh đồng ruộng nắng chang chang, không có
bóng cây.
-Đói dữ hả anh
Ba, Ăn dỡ trái bắp đi. Chờ em nấu cơm.
-Đói mà vui quá quên
đói.
-Gì mà vui dữ vậy ?
-Mai mốt nói cho nghe.
* *
*
Bóng chiều đã ngả
từ lâu mà nắng gắt vẫn còn chớp chớp trên
cánh đồng tháng hai trơ gốc rạ. Vài cụm mây
trắng lững lờ trôi trên nền trời xanh biếc.
Tiếng sáo diều ở đâu văng vẳng lại
ngọt ngào như tiếng hát của người
mẹ hiền thời xa xưa nào nhập làm hồn
buổi xế trưa yên tĩnh.
Duy và Phượng ngồi bên
cạnh nhau lưng dựa vào cây rơm chất sát vuông tre,
cùng nhìn về bên kia cánh đồng. Tre bị gió lay
nghiến thân vào nhau nghe kẽo kẹt, buồn buồn.
Phượng chỉ cuốn
sách Duy đang cầm hỏi:
-Sách gì mà dày mo vậy anh
Ba?
-Ký ức chiến tranh
của ông cựu thủ tướng nước Anh
(1)
-Nói với em mà anh nói theo
kiểu nói chuyện với cô gái áo đỏ của anh,
làm sao em hiểu. Ký ức chiến tranh là cái gì?
-Để anh cắt
nghĩa cho nghe chớ. Ông nầy là một trong số
người cầm đầu của phe Đồng
Minh hồi trận giặc ba mươi chín bốn
mươi lăm. Trận giặc qua rồi, ổng
viết lại những trận khôn dại về trận
giặc đó.
-Viết chi vậy?
-Để chừng nào có
giặc nữa thì người ta coi những chuyện khôn
dại đã qua mà đánh giặc nữa.
-Sướng quá ha! Bày ra
giặc giã cho người ta chết mồ chết tổ
rồi viết sách bán chơi. Hồi giặc, con cháu
của ông đó có ai chết hôn?
-Anh không biết, nhưng
chắc là không. Mà nếu có thì con ông cháu cha làm quan lớn ít
chết lắm.
-Hèn chi!
-Phượng ghét
giặc lắm sao?
-Chớ anh ưa à?
-Nhờ có giặc mà mình
thương nhau. Anh mới có dịp cỏng em từ
đây xuống bến đò. Em mới có dịp ngủ
trên lưng anh rồi thức dậy đói bụng, nhõng
nhẽo với anh!
Phượng mắc cở
ửng hồng đôi má day qua cự:
-Vậy chớ hổng
có giặc, anh hổng thương em sao? Hồi trước
giặc anh đi học về củng mua bánh cho em hoài vậy.
Hai người nhìn nhau
cười. Im lặng một lúc. Gió thổi mạnh làm
tiếng sáo diều ngân lớn hơn.
-Phượng à!
-Dạ.
-Phượng biết hai
đứa mình bà con với nhau làm sao không?
-Biết chớ. Ông
Sơ của anh và ông Sơ của em hồi trước
là… là hai người dưng.
Trong lúc Duy nhìn Phượng
ngạc nhiên, Phượng tiếp:
-Hôm kia, anh nói chuyện
với ông Tám, em ở trong buồn nghe lén hết trọi.
-Em biết hỏi chi
vậy hôn?
-Ai biết đâu anh .
-Hổng biết
thiệt hay biết mà hổng nói?
Phuợng không đáp, vói tay rút
một cọng rơm xé ra vụn vằn buông cho bay theo gió.
-Phượng!
-Dạ.
-Phượng nghe anh
hỏi hôn?
-Nghe.
-Nghe sao hổng nói?
Phượng nhìn Duy một cái
thật nhanh rồi ngó xuống:
-Biết mà hổng nói.
Duy nắm bàn tay Phượng
lúc đó đưa lên sửa mái tóc, một cử chỉ
không định trước, làm cho đỡ thẹn.
Phượng để yên cho Duy cầm tay mình, im lặng
mà tim đập nhanh lên.
-Phượng có thuộc
nhiều câu hát không?
-Chút đỉnh thôi.
-Hát cho anh nghe vài câu
đi.
-Biết hát câu gì bây giờ?
-Lựa câu nào có trời
xanh. Anh thích màu trời xanh.
-Để em nhớ coi.
Ờ… Đầu giồng có trồng cây duối, cuối
giồng có trồng cây da, ngả ba có cây ngô đồng, con
gái chưa chồng cái lòng hớn hở, con trai chưa
vợ ruột thắt trái chanh, ngó lên mây trắng trời
xanh, đâu đâu củng vậy ưng anh cho rồi.
-Hay lắm. Nhưng
Phượng có biết tại sao trong câu hát huê tình mà
thứ câu hát vui như vậy, người ta ưa nói
đến trời xanh không?
-Trời xanh mới
đẹp, mới vui chớ. Câu hát vui hổng lẻ nói
trời chuyển mưa? Ờ có câu hát trời chuyển
nửa, để em hát cho nghe: Trời chuyển mưa
vần vũ, mây kéo phủ lưng trời. Người
nghĩa ơi! Đã biết rằng mặt tuy xa mà lòng chẳng
đổi dời, nhưng kẻ chưn mây người
góc biển, biết ngỏ lời cùng ai?Anh nghe coi, buồn
ghê chưa?
-Nhưbng có những người
không ưa trời xanh mà lại thích trời chuyển
mưa, em nghĩ sao?
-Ai mà thích kỳ vậy?
Ờ thằng cha mắc dịch nào viết cuốn sách
của anh đó, nó thích trời chuyển mưa, hổng
chừng.
Lại im lặng vài phút.
Phượng nghe ban tay mình bị siết nhè nhẹ trong tay
Duy.
-Phượng à!
-Dạ.
Không nghe Duy nói gì, Phương
day qua gặp đôi mắt của Duy đắm
đuối nhìn vào mắt cô.
-Phượng có biết
mắt Phượng màu gì không?
Phượng cười:
-Chắc anh nói màu xanh.
-Sao Phượng biết
vậy?
-Em biết trong bụng
mà nói ra hổng được.
Nói xong Phượng nhắm
mắt lại và biết chắc Duy sẽ hôn lên đôi
mắt mình. Bằng đôi mắt nhắm lại ấy,
Phượng thấy trước mặt cô một
khoảng trời xanh rất đẹp, đẹp như
chưa bao giờ cô được nhìn thấy bằng
đôi mắt mở rộng.
______________________________
(1) Mémoires Churchill.