Chuyện gia
đ́nh # 6
CÔNG DUNG NGÔN
HẠNH
Huỳnh văn
Lang
(Bài nây giới
hạn trong một lớp nữ giới miền Nam
thuộc con nhà giàu, nhứt là các nhà điền chủ
đồng bằng sông Cửu long)
Ở Nam
kỳ lục tỉnh, trong đầu thế kỷ 20
(1910-45) đă xuất hiện một giới phụ nữ
con nhà giàu, nhứt là những đại điền
chủ đồng bằng sông Cửu long. Họ sinh ra
trong khoảng hai thập niên 10 và 20 và lớn lên, lập gia
đ́nh truớc Cach mạng tháng 8, 1945 và vào đời,
lập nghiệp đến 1975. Ở đây nguời
viết chỉ muốn nói đến giới phụ
nữ không trực tiếp tham gia kháng chiến chống
Pháp, chống Mỹ, chỉ lo làm tṛn nhiệm vụ
nguời vợ người mẹ như là nội trợ,
nhiều khi cùng một lúc dấn thân vào thương
trường hay tiểu công nghệ.
Giới
phụ nữ nầy không có cái may mắn là học chữ
được nhiều, tuy cha mẹ có nhiều tiền
nhiều của, học thức của họ chỉ
giới hạn ở cấp tiểu học hay quá lắm
là tiểu học bổ túc. V́ lư do gí? Đầu tiên có
thể là v́ thành kiến đối với phụ nữ do
Nho giáo sanh ra. Song lư do chánh là không có truờng cấp cao
hơn ở gần nhà. Chỉ có ở tỉnh lỵ hay
thành phố lớn mới có trung học, và không có nội
trú cho nữ sinh, mà cha mẹ lại không muốn hay không dám
cho con gái ḿnh xa nhà. V́ hai lư do trên mà con gái nhà giàu đồng
bằng sông Cửu long không được học chữ
nhiều mà lại sanh ra học Công Dung Ngôn Hạnh
nhiều hơn. Âu cũng là ư muốn của cha mẹ. Cho
nên có nhiều truờng nữ công mở ra để
đáp ứng một nhu cầu thực tiển của con
em nhà giàu, nhứt là giới diền chủ ở Nam kỳ
lục tỉnh. Thật ra cũng có một giới phụ
nữ khác đặc biệt học chữ nhiều,
cả du học qua Pháp lấy bằng BS Y khoa hay Luật
khoa, nhưng quá ít và không ở vào trong tâm của bài viết
nầy, mà họ cũng không có bao nhiêu ảnh hưởng
trong xă hội bằng cái giới ''Công Dung Ngôn Hạnh'' nói
ở đây. Ngoài ra, cái giới đặc biệt học
nhiều chữ, thuờng gọi là Tây học, gần
như hoàn toàn tách ra khỏi văn hoá dân tộc, dù muốn
dù không. Đang khi giới ''Công Dung Ngôn Hạnh'' lại
vẫn giữ đuợc những tính cách đặc thù
V.N.
Trong khuôn
khổ của bài viết nầy, tôi muốn lấy hai
khuôn mặt nguời đàn bà làm tiêu biểu cho hai thế
hệ, một thế hệ tiên phong (1890-1920) và một
thế hệ chủ lực (1920-1945). Tiêu biểu cho
thế hệ tiên phong là bà Lê thị Trầm (1893-1943),
tức là mẹ của nguời viết, một phụ
nữ mang họ Lê đi về làm dâu cho nhà họ
Huỳnh. Tiêu biểu cho thế hệ chủ lực là
chị Huỳnh thị Sang (1916-2004), nguời phụ
nữ họ Huỳnh đi về làm dâu cho nhà họ
Phạm.
Mẹ tôi là
nguời con của họ đạo Công giáo Bải-xan,
Gịng tuợng (Voi), một họ đạo CG đuợc
thành lập vào khoảng những năm vua Minh mạng
bắt đạo Gia-tô (1820-1830), do muơi gia d́nh từ
họ đạo Nuớc Mặn, Qui-nhơn chạy vào. Bây
giờ Bải xan là ấp Thuơng và ấp Trung của
làng Đại phuóc, tỉnh Tràvinh. Gia đ́nh bên ngoại
tôi chỉ là trung nông, có con gái mới 17 tuổi đă
gả cho một gia đ́nh đại điền chủ,
có nhiều bà và nhiều con gái. Xét về mặt tài sản
th́ thật ra không ''môn đặng hộ đối''
lắm, nguợc lại xét về mặt văn hóa học
hành th́ mẹ tôi lại hơn các chị em chồng rơ ràng.
Các cô tôi, có thể nói đuợc là đài các, sống trong
nhung lụa, nhưng lại có học hỏi chữ
nghĩa ǵ cho đáng, chỉ v́ một lư do là trong làng
Nhị long chưa có trường dạy chữ Nho cũng
như chữ Quốc ngữ. Phải đợi
đến khi ông nội tôi muốn trở lại
đạo CG, ruớc thầy về dạy giáo lư, các cô tôi
mới có thầy dạy chữ cùng một lúc dạy
đạo. Đang khi đó th́ mẹ tôi từ 6 tuổi
đă khởi sự học chữ truớc khi học
đạo, v́ là con em CG mà lại có truờng tiểu học
bổ túc của họ đạo Bải xan, bắt
buộc mẹ tôi phải học chữ, ít ra là cho hết
bực tiểu học bổ túc, c̣n thêm một mớ
tiếng Pháp, tiếng Latinh để ca để hát ở
nhà thờ, v́ mẹ tôi thuộc ca đoàn của họ
đạo. (Lúc cha tôi đi coi mặt, phải có
người chạy xuống nhà thờ gọi về, lúc
bà đang tập hát) . Lưu ư là lúc bấy giờ những
họ đạo lớn như Cái-mơn, Mặc-bắc,
Bải-xan...đều do các cha cố nguời Pháp,
thuộc hội truyền giáo Missions Catholiques de Paris cai
quản. Ngoài dạy chữ và dạy đạo, truờng
Bải xan cũng dạy Công Dung Ngôn Hạnh, như các
truờng Nữ công sau nầy, tất nhiên tŕnh độ
Nữ công không chuyên môn, không giỏi bằng. Nói về các
cha cố nguời Pháp, một thời là thầy dạy
chữ cho mẹ tôi, đặc biệt nhứt là cha Bar,
nguời là thầy, vừa là cha làm phép Hôn phốí cho
mẹ cha tôi năm 1910 và từ đó gia đ́nh chúng tôi luôn
luôn liên lạc thăm viếng và tôi thuờng gọi cha là
ông ngoại, đến khi cha mất ở họ
đạo Mỹ tho, năm 1940 th́ phải., hiện
truớc cửa nhà thờ Mỹ tho, có ngôi mộ cuả
cha Bar nầy, ba lần về V.N. đi qua Mỹ tho, tôi
luôn luôn có ghé viếng.
Nói về
họ đạo Bải xan, nhứt là về truờng
tiễu học bổ túc nầy, tôi phải xác nhận môt
sự kiện mà những cán bộ CS các làng Đaị
phuớc, Đức Mỹ và Nhi long không thể phủ
nhận đuợc, tức là kiến thức tiểu
học của họ đều thu nhận từ
truờng tiểu học Công giáo Bải xan nầy, chớ
không bao giờ từ truờng học nào khác, truờng Các
Mác lại càng không. Nhiều lần về V.N. nguời
viết đă đi qua các làng nói trên và gặp không ít cán
bộ, tỉnh ủy huyện ủy vẫn nhắc
đến truờng tiểu học Bải xan. Tất nhiên
ai nguời hiếu nghĩa, ai nguời bội bạc,
ở đây không phải là vấn đề phải
đặt ra. Đặt ra là Công giáo đóng vai tṛ khai hóa
đuợc đến đâu và con chiên bổn đạo
mấy nguời theo Tây, theo thực dân bán nước?
Đó là vấn đề lịch sử, mà nói về
lịch sử th́ ai nói sao cũng đuợc miền là ḿnh
có quyền, cả quyền sửa lại lịch sử
theo ư thức riêng của ḿnh, bất chấp đâu là
sự thật.
Nói đến
truờng tiểu học bổ túc Bai xan, nguời viết
không thể bỏ qua công khó khai hoá của bao nhiêu các Xơ
mến thánh giá Cái mơn, Cái nhum, Chợ quán.. Từ đầu thế kỷ 20
khi nhiều làng xă trong Nam chưa có truờng tiểu
học, nhiều Xơ, thuờng là một cô chưa 20
tuổi và một phụ nữ trên duới 30, 4 muơi,
đi vào các làng xa xôi hẽo lánh, ăn ở tạm bợ,
để dạy A,B,C. cho trẻ em trong làng, truớc khi
dạy đạo, v́ phải biết chữ rồi
mới biết đọc, biết học Sách phần (Giáo
lư). Mấy nguời vào đạo, mấy nguời không?
Nhưng dù thế nào th́ cũng đuợc có nguời
biết chữ biết nghĩa. Các Xơ Công giáo khai hóa con
dân miền Nam bao nhiêu? Nhà văn Xuân vũ trong các tác
phẩm của anh, đă nhiều lần tuyên duơng công
trạng của các Xơ nầy, dù anh không bao giờ theo
đạo cha ông cảa anh.
Trên đây là
một truờng hợp Lê thị Trầm, tiêu biểu cho
một thế hệ tiên phong, vừa học chữ
vừa học Công Dung Ngôn Hạnh, ảnh huởng trên xă
hội V.N., chắc chắn không bao giờ bằng ảnh
huởng của thế hệ chủ lực của
chị Huỳnh thị Sang sau đó.
Cũng như
Tam tùng -Tại gia tùng phụ, Xuất giá tùng phu, Phu tử
tùng tử- Tứ đức
Công Dung Ngôn Hạnh đều xuất phát từ
triết học Khổng Mạnh. Tuy nhiên Khổng Mạnh
cùng mấy ngàn học tṛ của họ chưa một ai
viết về Tứ Đức đuợc một tập
sách nhỏ đúc kết
những nguyên tắc, những diển tả rơ ràng và
đầy đủ. Phải đợi 4, 5 trăm năm
sau, mới có một triết gia, một nhà giáo dục,
cũng là một sử gia, lại là một nguời
đàn bà, bỏ ra nhiều năm viết thành 4 quyển
sách:
Phụ
Đức ( đức hạnh của nguời phụ
nữ).
Phụ Dung (dung nhan của
nguời phụ nữ).
Phụ Ngôn (ngôn ngữ, cách
giao tiếp của nguời phụ nữ.)
Phụ Công (công việc
của nguời phụ nữ.)
Tác giả là nữ sử gia
Ban Chiêu. Ban Chiêu là ai?
Ban Chiêu, không rơ năm sanh và năm
mất, nhưng có thể phỏng đoán là sanh vào thập
niên 40 thế kỷ thứ 1cn và mất vào khoảng
đầu thế kỷ thứ 2 (110 cn). Bà có tiếng là
một sử gia hơn là một nhà giáo dục. Cha bà là Ban
Bưu, làm quan Trung Thư lệnh, đầu thời
Đông Hán, Hán Quang Vũ Lưu Tú (25-57), đuợc giao
trọng trách tiếp tục viết Sử Kư của Tư
Mă Thiên (145tcn-81tcn). Gia đ́nh cha mẹ, anh em và sau nầy
của bà đều ở Lạc duơng. Tâp trung sử
liệu, tư liệu...vừa xong là Ban Bưu lậm bênh
và chết, trối lại cho nguời con cả là Ban
Cố (32-92 cn): Con phải tiếp túc công việc của
cha để lại c̣n dang dở.
Ban Chiêu nhờ
cha anh giáo dục nên học vấn đuợc sâu rộng,
bà c̣n đuợc tâm tánh hiền lành, cẩn trọng chu
đáo, nên tất nhiên thành trợ thủ tin cậy của
cha anh. Sau khi cha chết, cộng việc cuả nguời
anh rất hiếu thảo hoá ra càng khó khăn, nên Ban Chiêu
tất nhiên trở thành nguời cộng tác không có không
đuợc. và đắc lưc. Cũng trong thời gian
nầy Ban Chiêu kết hôn với Tào thế Thức một
sĩ quan ky binh, luôn luôn sát bên Hoàng đế đi săn,
đi du hí, nên thuờng hay vắng nhà. Tánh bà trầm tỉnh,
khác hẳn với chồng là nguời hoạt bát sôi
nổi, nông cạn, nhung hai vợ chồng cũng có
một đời sống ḥa mục và hạnh phúc, bà
cũng hay theo chồng ra ngoài thành Lạc duơng đua
ngựa, hay chơi thuyền trên sông Lạc thủy.
Nhưng không
may, Ban Cố ở trong bộ Tham mưu của tuớng
Đốc Hiến đi đánh thắng Hung nô ở Tây
thành, về lại Lạc dương lại bị
tội khi quân, Ban Cố bị liên lụy, bị bắt
giam bỏ ngục.
Ban Chiêu vào
ngục thăm nguời anh vô tội, anh em chỉ biết
ôm nhau khóc lóc, không một lời. Khi chia tay, Ban Cố
thiết tha nói với nguời em gái cũng như lời
trối của nguời cha từ 20 năm truớc: Trong
vạn nhứt khi gặp việc bất trắc th́ Ban
Chiêu phải tiếp tục thực hiện chí nguyện
của cha anh, bằng bất kỳ giá nào cũng phải
gắng sức hoàn thành công việc c̣n lại. Sau đó ít
lâu, Ban Cố chết trong ngục. Và bất chấp
mọi khó khăn, bất chấp mọi trở ngại,
Ban Chiên đă làm tṛn trách nhiệm cha anh đă giao lại, v́
ngoài Ban Chiêu ra không một ai đảm nhiệm
đuợc.
Bà làm việc
không kể giờ giấc, quên ăn quên ngủ và hơn 10
năm bà đă hoàn thành bộ sử Hán thư, gồm 100
quyển. Nhưng bà không chịu đề tên ḿnh, chỉ đề
tên anh trai minh là Ban Cố mà thôi: Một cái gương tài
cao học rộng không thua ai và khiêm tốn một bực
hơn nguời!
Sau khi Hoàng
đế khẳng định Hán thư, bà đuợc
Hoàng đế, Hán Hoà đế (88-106) vời vào cung làm Nữ quan, Hoàng
hậu và các phi tần đều đựơc bà dạy
bảo. Và chính trong thời gian nầy bà sáng tác ra bô sách 4
tập Công Dung Ngôn Hanh.
Lúc về già,
sau khi Hoà đế băng hà, Hoàng hậu Đặng Tuy lên
làm Hoàng Thái hậu buông rèm nhiếp chánh, luôn luôn hỏi ư
kiến của Ban Chiêu truớc khi quyết định những
việc triều chánh trọng đại liên quan
đến ngôi vị, cả việc quốc kế dân sinh.
Trong lịch sử Trung quốc Ban Chiêu đuợc tôn
trọng như là một sử gia nghiêm túc, cẩn
thận, trung thực và khoa học tài đức vẹn
toàn, truớc tác của bà đă đề lại tiếng
thơm muôn đ̣i.
Riêng bộ sách
Công Dung Ngon Hạnh của bà, thật ra th́ sách nầy
nhằm giới thiệu, giáo dục bốn phẩm giá
đạo đức cao đẹp của nguời
phụ nữ, những chuẫn mực đạo
đức mà nguời phụ nữ trong xă hội phong
kiến phải thuận tùng. Nhưng trên thựctế, dù
việc rèn luyện những đức hạnh đó không
thể trói buộc nguời phụ nữ Á đông nói chung
và nguời phụ nữ V.N. nói riêng, ngay cả bất
kỳ thờ́ đại nào đi chăng nữa, đă là
phụ nữ th́ cũng nên giữ ǵn và phát huy những
đức hạnh mà Ban Chiêu dă dày công tập hợp, biên
soạn.
Lăy hai
truờng hợp nói trên mà luận th́ thấy hai nguời
phụ nữ V.N. nói trên, thuộc hai thế hệ khác nhau
đă hấp thụ không ít những bài học Công Dung Ngôn
Hạnh của Ban Chiêu để lại, bằng chứng là
hai nguời phụ nữ đó đă một thời làm
guơng mẫu chẳng những là cho con em họ
Huỳnh, bên nội cũng như bên ngoại của
họ, mà c̣n lây sang làng xóm láng giềng bạn bè của
họ nữa. Truờng hợp thứ nhứt là mẹ
tôi, bà Lê thị Trầm, ngoài nữ công là nấu nuớng
làm bánh may vá, chuyện nhà chuyện cửa bà đă dạy
cho các chị tôi, dạy cả nguời ăn nguời làm
cả nguời tá điền tá thổ, rất tiếc là
bí quyết làm bánh thuẫn, bánh bông, mứt bí mứt
gừng có khí đă mất đi, không kịp truyền
lại cho con cháu. Ai đă dạy 13 người con của
bà biết đâu là lễ phép, biết đâu là hiếu
thảo, biết đâu là đạo đức, nếu bà
đă không học được ở nhà truờng do các
cha các Xơ dạy bảo? Và chính tôi đă học lại
của bà những nguyên tắc đạo đức
như là với các bạn gái, mà bà luôn căn dặn
phải xem như là nguời em hay là nguời chị, không
bao giờ nên làm hổn, không bao giờ nên xâm phạm. Ai
đă dạy tôi không bao giờ nên nhổ nước
miềng xuống giếng nước dù chỉ uống
nuớc giếng một lần thôi? NhưngCông Dung Ngôn
Hạnh không phải chỉ có bao nhiêu đó thôi!
Truờng
hợp thứ hai là nguời chị Huỳnh thị Sang.
Thế hệ của bà Huỳnh thị Sang, tŕnh độ
Công Dung Ngôn Hạnh đă phát triển hơn thế hệ
truớc về nữ công, v́ có thêm đuợc văn minh Âu
Tây, về Dung Ngôn Hạnh vẫn duy tŕ đuợc như
truớc, đang khi học chữ cũng đuợc hơn
truớc nhiều.
Sau 2000 năm
lịch sử, văn hóa V.N. biến thể thế nào
đi nữa, những giá trị Công Dung Ngôn Hạnh c̣n
đuợc tôn trọng ǵn giữ đuợc bao nhiêu, th́
đó là nhiệm vụ của con nguời quốc gia V.N..
CS hay tà thuyết ngoại lai th́ luôn luôn chủ truơng phá
hoại cho kỳ cùng, đó là một sự kiện
hiển nhiên!
Rất
tiếc thay!
Huỳnh
văn Lang. 09-01-08