Thiết nghĩ hai tiếng
‘’nhuộm đỏ’’ có thể
đủ để tŕnh bày tất cả nội dung
của câu chuyện tôi nói hôm nay. Nhuộm đỏ cái ǵ?
Xin nói ngay là văn hóa dân tộc VN là một văn hóa có màu
vàng đă bị văn hóa Mác - leninit màu máu nhuộm đỏ.
Trong một bài nói chuyện
trước về Sứ mạng
văn hóa dân tộc, tôi có sơ lược định
nghĩa văn hóa như sau:
Văn hóa là cách sống, cách suy nghĩ, cách
giao tiếp giữa người với người, hay
nhân sinh quan, cách nh́n về vũ trụ hay vũ trụ
quan, cách nh́n về sự vật hữu h́nh và vô h́nh bao gồm
tín ngưỡng, ngôn ngữ, văn chuơng, văn học,
nghệ thuật, kỹ thuật, khoa học, tṛ chơi, giải
trí, múa hát, cách xây cất nhà cửa, cách ăn uống, nấu
nướng, ăn mặc v.v.… Như thế văn hóa có thể
chia ra hai loại: tinh thần và vật chất, mà tín ngưỡng, đạo đức
được nh́n nhận như là linh hồn của
văn hóa.
Mỗi dân tộc đều
có một nền văn hóa khác biệt với các dân tộc
khác ít hoặc nhiều. ÍT là như về mặt vật
chất. bởi cùng một chủng tộc như dân tộc
Hán và dân tộc Việt,ví dụ nấu nướng gần
như nhau. NHIỀU là như về t́nh thần, cùng một
dân tộc lại có hai văn hóa hoàn toàn khác nhau, nếu
không nói là đối chọi nhau như duy linh, duy tâm và duy vật.
Bản chất văn hóa là động nghĩa là biến
đổi theo thời gian, theo không gian, sinh ra và phát triển
không ngừng, biết ǵn giữ cũng như biết thu
nhận và bỏ đi, tuy nhiên cũng có những nét luôn
luôn tồn tại và phải tồn tại cũng như
có những điểm không thay đổi được,
hoàn toàn bất di bất dịch và bất biến như lịch
sử .
Văn hóa là sản phẩm của con
người, để rồi ngược lại văn
hóa đào tạo ra con người, đúng hơn
một mẫu người. Dân tộc VN qua thời
gian và trong một không gian nhất định đă tạo
thành một nền văn hóa với những nét đặc
thù riêng biệt khác với dân tôc khác. Từ hồi nào? Tất
nhiên là từ lúc dân tộc h́nh thành gọi là Văn Lang, sau
gọi là Đại Việt. Dân tộc Văn Lang nầy
đă h́nh thành khi các vua Hùng kết hợp 15 bộ - có
người nói ngược, lập nước rồi mới
chia ra làm 15 bộ - thành một nước cũng gọi
là nuớc Văn Lang, tức là vào khoảng thế kỷ
thứ 7 trước công nguyên, đó là theo sự t́m hiểu
cổ sử của tôi.(1)
(1)
Trong cuộc hành tŕnh thời gian là 60,000 năm, không gian là từ
Phi châu ra 5 châu, nhân loại đă h́nh thành từ một hay
nhiều tế bào nhỏ là GIA Đ̀NH, để rồi từ
đó phát triển thành ra nhiều BỘ LẠC rải rác
trên các nẻo đường đi của ḿnh, để
rồi những bộ lạc lại hợp nhau lại
để h́nh thành những DÂN TỘC khác nhau. Những dân tộc
nào có những yếu tố hay những cấu trúc thể
xác giống nhau th́ lại h́nh thành ra một CHỦNG TỘC
riêng biệt.
Bây giờ thử t́m hiểu
xem văn hóa dân tộc VN
có màu sắc ǵ, hay nói một cách khác nó có những nét đặc
thù ǵ. Tất nhiên nó phải có nhiều màu pha trộn nhau
thành ra một màu mà theo kinh nghiệm đúng hơn là theo sử
học là màu VÀNG. Màu vàng theo quan niệm của tôi là màu
tượng trưng cho tinh thần văn hóa dân tộc
nguyên thủy của dân tộc VN, có bản chất duy linh
của vũ trụ quan tam thế mà đồng nhứt là
Thiên, Địa, Nhân, thể
hiện bằng đạo thờ Tổ tiên/Ông bà và Trời
Đất. Thờ Quốc tồ
Hùng vương là tụ điểm tin tưởng chánh,
chung của cả dân tộc, cho cả nước, thờ
Ông bà cha mẹ là thành phần dành cho một đại gia
đ́nh hay một tộc, một ḍng một họ. Thờ
Trời Đất là thờ những Tượng trưng:
a/ bà chúa Liễu Hạnh, hiện thân của Cửu Thiên Huyền
nữ (bà Trời) , b/ bà chúa Thượng Ngàn (núi rừng)
và bà chúa Thoải (Thủy), tượng trưng cho Đất
Nước.
Trên
đây là phần tín ngưởng duy linh của văn hóa
dân tôc VN. Đến đầu
Công nguyên Lăo giáo đă đến ảnh hưởng trên
văn hóa dân tộc nguyên thủy Văn Lang, rất tiếc
là văn hóa nguyên thủy Văn Lang chưa đủ điều
kiện để hấp thụ cái phần triết lư cao
siêu của nó, mà chỉ thu nhận những tưởng
tượng quỉ thần ma quái phù phép bùa chú lễ nghi phức
tạp . V́ đó mà phần lớn chúng ta ngày nay chỉ quan
tâm và khinh bạc cái phần dị đoan mê tín, mà quên
đi cái phần căn bản duy linh của văn hóa dân tộc.
Nhưng sau đó th́ có Nho giáo
và Phật giáo đă đến xâm nhập văn hóa dân tộc
duy linh của ta và thêm vào những tư tưởng duy tâm
và nhân bản, làm cho văn hóa duy linh của dân tộc VN
phong phú và tốt đẹp thêm. V́ thế mà văn hóa dân tộc
VN của ta thành ra một thứ văn hóa Lăo, Nho và Phật,
vừa duy linh vừa duy tâm. Qua những thế kỷ 18,
19, 20 văn hóa Kitô giáo Âu Tây cũng đă đến và
cũng ảnh hưởng phần nào trên văn hóa dân tộc
V.N.
Văn hóa dân tộc VN là môi
trường xây dựng con người, trong đó con
người được quan niệm rơ ràng như là một
giá trị tuyệt đối, v́ theo vũ trụ quan tam thế
THIÊN- ĐỊA-NHÂN, con nguời ngang hàng với trời
đất, nhưng được trời đất bao bọc
(âm dương) và ngược lại kính thờ trời
đất. Trong vũ trụ quan tam thế nầy đă nẩy
sinh ra nhân sinh quan, hoàn toàn nhân bản, lấy t́nh người
làm phương châm, làm nguyên tắc giao tế giữa
người với người. Cũng trong văn hóa dân tộc
duy linh và duy tâm VN, ngoài cái quan niệm đặc biệt về
con người, một quan niệm khác là quan niệm “đất
nước’’cũng rất đặc biệt, v́ như là
một thực thể vừa vật chất vừa thiêng
liêng, hồn thiêng sông núi ( núi là đất, sông là nước)
không phải chỉ một cụm từ văn chuơng mà
là cả một tín ngưỡng, như là thành phần
đạo thờ Tổ tiên và Trời đất.
Trên đây chúng tôi nhận
định văn hóa dân tộc
VN một cách tổng quát. Khi so sánh với văn hóa
Mác-lêninit trên b́nh diện tinh thần, là đạo đức
và tín ngưỡng và thực hiện cụ thể, th́ tính
chất và h́nh thức của hai văn hóa sẽ xuất hiện
rơ ràng hơn.
Thừa lệnh Đệ tam
Quốc tế (Commintern) Hồ chi Minh (HCM) đă du nhập
vào xă hội VN văn hóa Mác-lêninit để nhuộm đỏ
hay là biến thể văn hoá dân tộc của chúng ta,
qua 3 giai đọan sau đây:
1.- Giai đoạn 1 (1930-1945).
Sau 10 năm (1920-1930) tôi luyện
vừa lư thuyết vừa thực hành ở Nga và ở Tàu,
khi đă trở thành một cán bộ trung kiên của Đệ
tam Quốc tế (Commintern) và với chức vụ một
‘’tông đồ’’Mác-lêninit, tháng 2, 1930 HCM về Hong-kong thành lập
Đảng Cộng sản Đông dương, sau là Lao
động, sau nữa là đảng CSVN và liên tục phát
triển trong nước cho đến khi cướp
được chánh quyền là ngày 19 tháng 8, năm 1945.
2.- Giai đọan 2 (1946-1954)
là giai đoạn đánh Pháp giành độc lập, kết
thúc bằng hiệp định Genève (21-07-54) chia đôi
đất nước, cùng một lúc thi hành công tác nhuộm
đỏ phân nửa dân tộc VN và cầm cố tuơng
lai của cả một dân tộc cho đàn anh Trung cộng.
3.- Giai đoạn 3 (1960-1975)
là giai đoạn 15 năm với chiêu bài đánh Mỹ
để xâm chiếm miền Nam, thống nhứt đất
nước bằng vơ lực bất chấp đến hiệp
định Paris (1973), cùng một lúc hoàn thành vai tṛ nhuộm
đỏ văn hóa của cả một dân tộc vào cuối
tháng tư năm 1975.
Qua 3 giai đoạn nói trên, sứ
mạng quốc tế cũng là sứ mạng nhuộm
đỏ của HCM và đảng CSVN được kể
là hoàn tất “mission accomplished’’, văn hóa Mac - leninit đă
thành công chinh phục và thôn tính văn hóa dân tộc VN. Để
đánh dấu sự thành công “hiển hách’’đó, đảng
CSVN lấy tên HCM đặt cho thành phố Sài g̣n. Đào thải
và hoàn toàn thay thế chỉ là vấn đề thời
gian. Và chỉ trong ṿng 34 năm qua quá tŕnh đào thải và
thay thế đă tiến triển một cách chóng mặt.
Những người Việt có cái ID chạy giặc CS, tức
là những thành phần c̣n nắm níu cái văn hóa dân tộc
của ḿnh cũng là những người có những tiêu
chuẩn để so sánh, th́ khi về VN ở năm bảy
ngày đi đây đi đó th́ thấy ngay ḿnh lạc loài
đi vào một xă hội hoàn toàn xa lạ và đáng sợ.
Đi vào một thứ văn hóa mà ở đó gia đ́nh
và Tổ quốc bị xuống giá quá thấp, đàn bà con
gái thành những món hàng mậu dịch, sức lao động
của con người Viêt Nam hóa ra vô tri vô cảm, mất
tính chất con người, biến thành những bộ phận
rời cho một cái máy sản xuất nào đó ở
đâu đó. Một thứ văn hóa lấy dối trá làm
danh dự, lấy “người bóc lột người’’ làm
quốc sách phát triển. Ngôn ngữ và lịch sử
cũng như đạo giáo là linh hồn của văn hóa
cũng đều thay đổi rơ rệt.
Vậy văn hóa Mac-lêninit là cái ǵ? Muốn hiểu văn hóa Mác-lêninit của
HCM th́ không gi bằng đem nó đối chiếu với
văn hóa dân tộc VN trên b́nh diện tinh thần và thực
hiện. Thiết nghĩ ai ai cũng biết văn hóa
Mac-lênnit là văn hóa duy vật do chủ thuyết của
Karl Marx tưởng tượng ra. Gọi là duy vật v́
nó lấy những phuơng pháp sản xuất, những
định luật và biến chuyển (cycle) kinh tế
để giải thích tất cả những sự kiện
xă hội con nguời, cũng có nghĩa là lấy kinh tế
làm hạ tẩng hay nền tảng của ư thức, của
tư tuởng, kể cả tín ngưỡng.
Văn hóa Mác-lêninit quan niệm
1) con nguời chỉ là một sinh động vật
kinh tế, biết sản xuất hàng hóa và tiệu thụ,
tất nhiên khinh bạc trí thức, khinh bạc tư tưởng,
khinh bạc tôn giáo. Đến khi Đệ tam quốc tế
dùng chủ nghĩa duy vật của Karl Marx làm nền tảng
“đạo lư’’ để chủ trương Thế giới
đại đồng th́ 2) gia đ́nh & Tổ quốc
đều trở thành những giá trị tuơng đối,
Đảng trở thành giá trị tuyệt đối thay
thế gia đ́nh thay thế Tổ quốc luôn (yêu Đảng
là yêu nước). Một “giáo
lư’’ căn bản khác nữa là lấy “giai cấp đấu
tranh’’ làm động lực phát triển 3) xă hội.
Cho nên chúng ta có thể khẳng định bản chất
của chủ nghĩa Mác-xít cũng như chủ
trương chánh trị của đảng CSVN luôn luôn là
chia rẻ để trị, chia rẻ để tiêu diệt,
liên hiệp cũng như ḥa giải ḥa hợp luôn luôn là
chiêu bài hay thủ đoạn ngắn hạn, không bao giờ
là cứu cánh dài hạn.
Trên đây là phương diện
lư thuyết, nói về hành động (action) th́ phải nói
đến Lenin. Lenin là người thực hiện cách mạng
đă đưa ra những phuơng châm hành động mà
phuơng châm căn bản là cứu cánh biện minh
phuơng tiện, một phuơng châm cực đoan và
tàn nhẩn, đưa đến sắt máu một cách tự
nhiên. Nợ máu cũng từ đó mà ra, nhưng nợ máu
là Đảng CSVN nợ nhân dân.
Trên đây là những nét “chấm
phá’’ của cái văn hóa mà tôi gọi là văn hóa Mác-lêninit.
Tôi có thể so sánh nó như là một cây chanh có những trái
chanh chua , cũng là phủ định của một cây cam
có những trái cam ngọt . Những trái chanh chua đó ở
đâu? Cứ giở báo trong nước, nhứt là báo Công
an của nhà nước th́ thấy đầy dẫy trong
xă hội VN ngày nay, tôi không cần phải đi lượm
đưa ra đây.
Thử đem hai thứ
văn hóa ra so sánh.
A
- Đạo đức
Khi nói đến đạo
đức thông thường của văn hóa dân tộc là Nhân
Nghĩa Lễ Trí Tín th́ thấy ngay sự phủ định
nói trên.
1
- Khi văn hóa dân tộc ta
đề cao chữ NHÂN, th́
văn hóa Mác-lêninit nói bất nhân, đến cả vô nhân. Với
văn hóa Mác -lêninit, giao tiếp giữa người với
người cả giữa đồng bào với nhau không
c̣n t́nh người, mất cả tính người. Kinh nghiệm
sống của dân tộc là Cải cách ruộng đất
và Đánh văn hóa “Nhân văn giai phẩm’’ ở Bắc
trong thập niên 50, hệ lụy thế nào, th́ lịch sử
c̣n đó; Tổng tấn công Tết Mậu thân (1968) ở
Huế, hệ lụy làm sao th́ lịch sử cũng c̣n
đó. Xâm chiếm miền Nam (1975) để thống nhứt
đất nước với bao nhiêu hệ lụy của
nó, lịch sử cũng vẫn c̣n đó: chế độ
tù cải tạo, sự kiện thuyền nhân, sách lược
kinh tế mới, đánh tư sản, tiêu diệt văn
hóa miền Nam…Với trăm, với ngàn cây bút, với tỷ
tỷ đô-la, đảng CS đă và đang tha hồ sửa
lại lịch sử, các thư viện của các nước
trên thế giới đều tràn ngập triệu triệu
trang giấy “bóp méo’’ lịch sử, nhưng tôi vẫn tin lịch
sử sẽ trả thù cho lịch sử, v́ sự thật
cũng như mặt trời và mặt trăng không một
thế lực nào che giấu nhiều đời được!
Hơn 2,000 năm sau, lịch sử vẫn c̣n ghi lại: Tần
Thủy hoàng đốt sách và chôn sống học tṛ, không
đổ lỗi cho tả hữu thừa tướng Lư
Tư và Triệu Cao. Cũng thế, không cần phải
đợi 1,000 năm sau, chỉ trong ṿng 100 năm sau, trong
lịch sử VN và thế giới sẽ có một đoạn
ngắn ghi lại: HCM đă chôn sống hay đập đầu
cho chết cả trăm ngàn tiểu điền chủ, trong
đó có bà mẹ nuôi của ông ta. Và không có câu nào nhắc
đến tên một Trường Chinh Đặng xuân Khu.
2 -
Khi văn hóa dân tộc ta tuyên dương Lễ Nghĩa , th́ văn hóa
Mác- lêninit cổ vơ và đề cao đạo đức
CÁCH MẠNG là bất nghĩa
và vô lễ, như con tố cha, vợ tố chồng, anh
em bạn bè đồng bào ruột thịt hàng xóm thầy
tṛ… chia ra giai cấp để đánh đấm nhau, cấu
xé nhau, nặng nhứt là gần đây kỳ thị giữa
kẻ Nam người Bắc, kẻ thắng người
bại, kẻ ngụy và anh hùng và như thế trong mọi
lănh vực chánh trị, kinh tế và xă hội. Đến
giờ phút nầy mà c̣n có những bà già quê mùa mở miệng
ra là chửi: Tổ sư nhà nó! Hồi nào bà giấu cha
con nhà nó dưới hầm, cơm nuớc đầy đủ,
bầy giờ cha con nó về cướp đất của
bà!. Giao tiếp giữa cha mẹ ông bà và con cháu, giữa
thầy tṛ hoàn toàn vô lễ. Trong ngôn ngữ hằng ngày hai
từ ngữ CÁM ƠN và XIN LỖI cũng bị thay thế
bằng Đ.M., Đ.B…chính người CS là cô thầy, là
cha mẹ cũng đều phàn nàn điều đó, không
phải là chuyện bịa của “ngụy”. HCM nhập cảng
văn hoá Mac-leninit vào xă hội VN để đổi
đời là thế đó.
3 - Khi văn hóa dân tộc nói TRÍ là mở mang kiến thức,
là khai phóng trí tuệ cho toàn dân th́ Đảng CSVN theo văn
hóa Mác-lêninit chủ truơng ngu dân, kiểm duyệt tác phẩm
văn hóa như sách báo, phương tiện truyền thông,
bây giờ thêm internet nữa, đó là bưng bít, là ngu dân rơ
ràng. Giáo dục tư tưởng th́ chỉ giới hạn
trong khuôn khổ học thuyết Mác leninit, bây giờ là
tư tưởng HCM, nên không bao giờ có đựơc một
giới trí thức, kém xa giáo dục của thực dân Pháp,
chính một cán bộ CS là Hoàng Tụy xác nhận điều
đó. Nhưng nghĩ cho cùng và theo lẽ thường,
người cai trị hay lănh đạo mà NGU th́ đâu có
muốn cho nguời dân bị trị TRÍ hơn ḿnh. Ai c̣n dám bảo HCM và Đảng
CSVN là trí ? Khi vận dụng sức lực toàn dân để
đánh Pháp giành được Độc lập mà phải
hy sinh cả một thế hệ con dân, cùng một lúc phải
cầm cố cho người láng giềng khổng lồ
tương lai của cả một dân tộc VN ḿnh th́ là
trí ở chỗ nào ? Bao nhiêu quốc gia cựu thuộc
địa Pháp đă giành lại được chủ quyền,
mà đâu phải hy sinh đến thế.
Trí ở chỗ nào mà không học
đựơc bài học chánh trị của thời Chiến
quốc để lại. Tôi muốn nói đến bài học
để mất nước của Sở vương về
tay nhà Tần, v́ không biết thân với nuớc Triệu ở
XA mà lại thân với nuớc Tần ở GẦN. Cái bất
TRÍ của HCM và Đảng CSVN sẽ làm mất nước
về tay Trung cộng như Sở vuơng làm mất nuớc
về tay nhà Tần, cách đây hơn 2,200 năm!
Nhưng Đảng CSVN vẫn
tuyên bố ầm trời ḿnh là Đỉnh cao trí tuệ
loài người!
Để trả lởi cho
thái độ cao ngạo cố hữu của người
CS, thay mặt cho quốc dân, một thuợng tọa ở
Nha trang đă viết đại tự treo ngay trước
cửa chùa : Ngu mà tự biết ḿnh ngu là trí, Ngu mà tự
cho ḿnh trí, th́ chính đó mới thật là ngu’’. Đúng
quá ! Chửi vào mặt như thế mà không biết, th́ có
phải là thật ngu không? Năm 1996 tôi đi ngang qua chùa và
có dừng lại đọc tấm bản đại tự
nầy. Không biết tấm bản c̣n đó nữa không?
Hay là đă được “mời” lên bộ Công an làm việc
và cho đi tù cải tạo nữa rồi?
Ngoài ra và hơn nữa, HCM và
đảng CSVN vận dụng nghị lực toàn dân
đánh Mỹ, xua quân đánh chiếm miền Nam, đem
nướng một hai thế hệ thanh niên thiếu nữ,
hy sinh hai ba triệu sinh linh với bao nhiêu là di sản
văn hóa của miền Bắc, bà Dương thu
Hương khẳng định đó là một cái ngu xuẩn
lớn nhứt trong lịch sử dân tộc VN. Để
được cái ǵ? Thống nhứt đất nước
mà không thống nhứt được ḷng dân và một thứ
hào quang chiến thắng không đáng một bữa cơm
ngon lành cho gia đ́nh, nhưng với bao nhiêu hệ lụy
khốn nạn cho cả dân tộc. Với một cái giá khổng
lồ phải mấy thế hệ nữa mới trả,
mà chưa chắc đă trả xong ? Rồi cũng phải
“mă qui’’ (qua Mỹ), mấy lần c̣n phải ra vô bằng cửa
hậu (cửa hậu theo chữ Nho có phài là hậu môn
không?) Vậy hào quang chiến thắng để đâu?
4 - C̣n chữ TÍN th́ thế nào nữa? Tổng tấn công Tết
Mậu thân 1968, chính là mưu đồ “vĩ đại” của
HCM, nhưng mưu sự không thành, HCM ngă bệnh v́ đó.
Thế mà trước khi chết c̣n cố chấp xui dân
đánh Mỹ:
Năm qua thắng lợi vẻ vang,
Năm
nay tiền tuyến chắc rằng thắng to,
V́
độc lập v́ tự do,
Đánh
cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào.
Tiến
lên chiến sĩ đồng bào,
Bắc
Nam sum hợp, xuân nào vui hơn!
HCM chết rồi c̣n để
lại một cái gương bất tín của văn hóa
Mac-lêninit. Năm 1973, Đảng CSVN kư kết hiệp định
Paris, nhưng noi gương HCM nên đă có hậu ư sẽ bội
tín một lần nữa để xâm chiếm miến Nam
bằng vũ lực. Sau khi họp mặt với Kessinger ở
Paris và thỏa thuận với nhau về những điều
khoản của Hiệp định Paris, nhứt là điều
khoản rút quân (mà là để lại) Lê đức Thọ
(Phan Đ́nh Khải) về lại Hà nội được
Chánh trị bộ thết tiệc ăn mừng, không phải
là v́ t́m được môt giải pháp ḥa b́nh cho Dân tộc
mà là lừa gạt được một tên “cáo già’’ Do thái.
B - Tín ngưỡng
Trên đây là nói về đạo
đức thông thường của văn hóa dân tộc.
C̣n về tín ngưỡng th́ thế nào? Tôi không nói đến
văn hóa Mac-lêninit ảnh hưởng tai hại thế nào
trên các đạo giáo du nhập là Phật giáo, Thiên chúa giáo…
chỉ nói đến tín ngưỡng nội địa thuần
túy của dân tộc là đạo thờ Tổ tiên/Ông bà và
Trời/ Đất.
Đạo thờ Tổ
tiên/Ông bà th́ giới hạn trong gia đ́nh, trong ḍng họ
th́ c̣n giữ lại đuợc những ngày giỗ, những
đêm giao thừa, những ma chay rườm rà, những mồ
mả khang trang sạch sẽ. Nhưng ḷng thành đă khác
nhau rất nhiều tùy theo gia đ́nh, tùy theo ḍng họ, nhứt
là tùy theo môi trường văn hóa.
C̣n lễ giỗ Quốc tổ Hùng vương, với
tầm vóc quốc gia, với lễ nghi long trọng và linh
đ́nh…vẫn c̣n giữ được ḷng thành của quốc
dân, của dân tộc VN., được phần nào và bao
lâu, th́ đó c̣n là một câu hỏi? Nhưng Đảng
CSVN không buông tha, vẫn chủ truơng biến đổi
thành ra một doanh nghiệp, một thương nghiệp
béo bở của Đảng và cho Đảng, như đối
với tín nguỡng Trời/Đất, như nói sau.
Đang khi đó th́ đạo
thờ Trời Đất, đúng lư ra phải có tầm
vóc quốc gia, tầm vóc dân tộc, lại chỉ c̣n trong
giới hạn chật hẹp của địa
phương. Tôi muốn nói đến đền thờ bà
chúa Liễu Hạnh, hiện thân của Cửu Thiên Huyền
Nữ (bà chúa Trời), ở cạnh Hồ Tây, Hà nội,
đền thờ bà chúa Thượng Ngàn (Núi Rừng) và
đền thờ bà chúa Thoải (Thủy), cả hai ở
Lạng sơn. (Lưu ư là khi tôi nói đến Trời
Đất ở đây là nói đến phần linh thiêng vô h́nh, không phải
phần tượng trưng hữu h́nh.).
Tóm
lại, về đạo đức thông thường,
văn hóa Mac-lêninit là phủ định của văn hóa
dân tộc rơ ràng như nói trên. C̣n về tín ngưỡng th́
văn hóa Mac-lêninit là duy vật vô thần, phủ định
văn hóa dân tộc là lẽ tất nhiên. Nhưng hơn nữa,
đảng CSVN đă và đang biến tín ngưỡng dân
gian thành một thứ doanh nghiệp khổng lồ.
Năm 2006, tôi đă đi hội 3 đền ba Bà Chúa nói
trên và tôi đă chứng kiến một cảnh tuợng hết
sức náo nhiệt như là một hội chợ, có cả
ngàn cả vạn nguời tham gia. Đúng là “Ngựa xe
như nước, áo quần như nêm’’ và nhiều ngày liên
tiếp như vậy. Điều làm tôi lưu ư nhứt là
số người vào đền để lễ bái phần
lớn là khách từ đâu đến hay khách du lịch.
C̣n ngoài đường qua lại hay khách lại qua, trong 5
người có đến 4 người là đàn ông con trai,
chỉ một người là đàn bà con gái. Sự sai biệt
đó nói lên cái ǵ? Đàn bà con gái, tất nhiên phải lo buôn
bán và nấu nướng. Đàn ông con trai phải trách nhiệm
về an ninh trật tự là một lẽ tất nhiên nữa.
V́ trọng tâm của ngày hội do Đảng CSVN tổ chức
là buôn bán và ăn uống, buôn bán nấu nướng là lănh
vực chuyên môn của đàn bà con gái. Bao nhiêu là tiệm buôn và đủ
thứ mặt hàng hoa để cúng dường, là đủ
loại trái cây và bánh trái trong nuớc và nhập cảng,
đủ loại nhang đèn và đồ hàng mă, giấy vàng
giấy bạc, tất nhiên là có giấy đô-la. Các hiệu
ăn th́ luôn tấp nập, bạn muốn ăn cái ǵ
cũng có, toàn là những món ngon, c̣n nóng hổi mới chiên
mới nướng mới nấu, c̣n tươi rói, mới
cắt mới bắt mới mổ mới xẻ…Đàn bà
con gái bán, rất nhiều người mua, những đàn
ông con trai bưng, đội, khiêng, gánh… Vào trong đền
th́ trên bàn thờ tràn đầy trái cây bánh mứt, nhang
đèn th́ nghi ngút cháy, khói huơng trong đền mười
phần dày đặc không thở được, trăm lần
dày đặc hơn trước am bên ngoài. Nhưng trân trọng
nhứt trong đền, ngoài tượng bà và các nàng hầu
lúc nhúc, là khu để ḥm đựng tiền mặt đựng
ngân phiếu… hai cái nhỏ hai bên bàn thờ, một một
cái lớn hơn cái trống chầu, chềnh ềnh đứng
(đứng chớ không phải nằm) trước chánh
điện và mỗi ḥm luôn luôn có hai nhân viên ăn mặc
complet đen cravate đỏ, chắc chắn có lận súng
sáu trong người, mắt luôn luôn sắc bén và chăm chỉ
như hộ vệ , như sẵn sàng đối phó chuyện
bất trắc.
Trên đây là chủ
trương buôn thần bán thánh đuợc triệt để
thi hành như là một quốc sách vừa chánh trị vừa
kinh tế. V́ vừa ngu dân để dễ bề cai trị,
ru ngủ như nha phiến. Có phải đạo Các-mác (tại
sao không gọi con hồ là con hổ) là nha phiến của
nguời dân, như chính Karl Marx dạy? Vừa kinh doanh
đại qui mô, phát triển kinh tế địa
phuơng, và ngành du lịch cho người trong nuớc, cho
Việt kiều và người nước ngoài. Và hơn nữa,
cái mô h́nh kinh doanh ở Lạng sơn cũng như ở
Hà nội đă và đang được lập lại khắp
cả nước. Dưới h́nh thức đia
phương, có đền bà Chúa Xứ, núi Sam, Châu đốc,
đền Bà, núi Bà Đen, Tây ninh….Những nơi nầy
không có giá trị lịch sử và giáo dục như chùa Ao
bà Ôm ở Trà vinh của tôi, nhưng lại được
nhà cầm quyền CS đầu tư rất lớn vào du
lịch, có nghĩa là có khả năng thu nhập lợi
nhuận nhiều hơn…C̣n bao nhiêu đền chùa quốc
doanh nữa, mà con số phải tính bằng trăm, các thầy
chùa các cha cố quốc doanh phải rơ hơn tôi, nhưng
“ăn xôi chùa ngậm miệng’’ là lẽ thường thôi!
Tựu trung, con số thu hoạch
hằng năm phải tính bằng trăm tỷ bạc,
dư sức để tài trợ cả bộ Giáo dục.
Nhưng rất tiếc là không biết bao nhiêu phần trăm
vào túi cán bộ địa phương lên đến trung
ương, c̣n ǵ mấy cho ngân sách trung ương. Và trong
ngân sách trung ương không có một mục nào gọi là do
đền thờ chùa chiền thu hoạch. Thành thử
không có ǵ phải lấy làm lạ khi thấy cán bộ
đảng viên CS se sua trong tay bạc tỷ và villa nầy
nhà nghi mát kia, xe Mercedes, BMW, Lexus, cả Roll - Roys cho vợ, cho con, cho bồ nhí, cho
cả bà con gần bà con xa.
Trên đây chỉ là một
trong nhiều nguồn lợi thu họach rất quan trọng
nhờ khai thác tín ngưỡng của người dân, biến
đổi một tín nguỡng của văn hóa dân tộc
thành ra một ngành kinh tài rất béo bở của Đảng
và cho Đảng hay cho các đảng viên.
Ngoài ra, văn hóa Mác-lêninit
đă đánh mất hoàn toàn cái tinh thần của đạo
thờ Trời Đất để tiếp tay với bọn
con buôn phá núi phá rừng, cùng một lúc làm ô nhiễm khí trời
và non sông đất nước, song song với việc khai
thác tín ngưỡng bà chúa Liễu Hạnh, bà chúa Thượng
Ngàn và bà chúa Thoải của dân gian để làm tiền một
cách trắng trợn và thô bỉ.
C - Phát triển xă hội
Văn hóa là môi trường
xây dựng con người và phát triển xă hội. Trong cái
môi trường văn hóa Mác-leninit, con nguời VN ngày nay
được xây dựng thế nào và xă hội VN
được phát triển làm sao? Đây là một tiểu
đề rộng lớn cần phải nhiều trang giấy,
nhiều thời giờ mới tŕnh bày cho đầy đủ.
Sau khi đi về VN năm
2005-2006 tôi có viết cuốn sách Đă
hơn 30 năm rồi! trong đó tôi đă mô tả guơng mặt và linh hồn
của xă hội VN sau hơn 30 năm thống nhứt
đất nước, cũng có nghĩa là từ khi
văn hóa Mác-lêninit khống chế văn hóa dân tộc VN từ
tháng tư 1975 và trong cái môi trường văn hóa Mác-lêninit
mới nầy xă hội VN đă phát triển như thế
nào.
Nếu vị nào có đọc
sách nầy của tôi, sẽ
nhận diện được phần nào guơng mặt
và linh hồn của xă hội VN, không phải chỉ cách
đây 2 năm mà là hiện giờ nó vẫn thế, nếu
không muốn nói là c̣n xấu xí hơn. Những điều
tôi viết ra từ 2 năm truớc vẫn c̣n là thời sự,
chính một kinh tế gia, một thời là chuyên viên của
Ngân hàng thế giới, cố vấn cho Hà nội và
Vientiane Lào, chỉ cách đây mấy tháng đă E-mail cho tôi một
câu như sau: Nằm từ Sai
gon, đọc sách Đă hơn 30 năm rồi của
anh…Đúng quá! Qui vị
nên đọc th́ sẽ rơ! Tôi không bao giờ có tài
hư cấu!
Ở
đây, tôi ch́ nói thêm một chút, gọi là bổ túc cho những
ǵ đă viết trong sách, cũng là phần kết luận
cho câu chuyện hôm nay. Đó là vấn đề phát triển
kinh tế, kéo theo sau là phát triển xă hội.
Chúng ta, nếu chỉ là khách
du lịch, khi về VN với một tầm nh́n khách quan
đều phải nh́n nhận là kinh tế VN từ ngày cộng
sản phải “đổi mới” đến giờ
đă phát triển một cách chóng mặt, nếu so sánh với
t́nh trạng trước 1990. Nhưng cũng phải khách
quan mà nói th́ khi so sánh với các nước trong vùng nhứt
là với Singapore, Đài loan và Triều tiên th́ thấy VN
ḿnh c̣n thua kém quá xa, có nghĩa là tụt hậu rơ ràng. Đó
là một cái nh́n, có chính xác cách mấy đi nữa th́
cũng vẫn là phiến diện, v́ cái ǵ cũng là
tương đối và dễ giải thích cũng như
dễ chữa lỗi, mà cũng không có ai chịu nhận lỗi,
nhứt là những “đĩnh cao trí tuệ loài người’’.
Tuy nhiên, nếu chỉ đứng
trên b́nh diện nội bộ và lấy công tâm cởi bỏ
mọi định kiến chánh trị mà nhận xét th́ thấy
những nét đặc thù của sự phát triển kinh tế
theo “định hướng xă hội chủ nghĩa’’,
cũng có nghĩa là vẫn nằm trong cái ṿng ảnh hưởng
hay môi trường văn hóa Mác-lêninit mà tôi đă cố gắng
mô tả ở trên.
- Đặc thù số 1 là VN phát triển một
cách chóng mặt, nhưng lại bừa băi một cách kinh khủng, thiếu một kế hoạch tổng
quát hay đúng hơn là có kế hoạch mà không mấy ai
tôn trọng kể cả người thiết lập
cũng như người thi hành. Luật lệ th́ có
đó, c̣n có quá nhiều là khác. Thực tế th́ lại là
không có luật v́ Đảng hay đảng viên là luật.
C̣n khi nói đến kinh tế thị trường, th́ lại
theo “định huớng xă hội chủ nghĩa’’, có
nghĩa là không muốn tôn trọng luật thị trường,
chỉ muốn duy tŕ cơ sở kinh tế tài chánh trong
khuôn khổ quốc doanh càng lâu càng tốt, chỉ với mục
đích củng cố quyền lợi của Đảng
hay của đảng viên. Chính quyền lợi và quyền lực cho Đảng hay
cho đảng viên gây ra sự bừa băi đại qui mô, bừa
băi trong ngành xây cất nhà cửa là tỷ dụ điển
h́nh. Bừa băi trong ngành khai thác tiệm ăn quán nước
là một ví dụ khác không kém phần điển h́nh nữa.
- Đặc
thù số 2 là phát triển không quân b́nh (not balanced). Không
quân b́nh rơ ràng nhứt là giữa thành thị và làng xă thôn quê,
cũng có nghĩa là không quân b́nh giữa các từng lớp
nhân dân. Và chính trong ḷng thành thị cũng không quân b́nh giữa
các quận các khu dân cư. Tôi đă lái xe đi trên con
đường chánh Nguyễn văn Linh chạy giữa
khu Phú Mỹ Hưng (Khánh hội cũ)), từ Nhà bè, nay là
khu thuơng cảng Sai gon ra quốc lộ số 1 đi Hậu
giang, đến Chợ Đệm, không khác ǵ như đi
từ một khu nhà ở (résidents) sang trọng và văn
minh của một thành phố lớn của xứ Mỹ
vào một khu ngoại ô nghèo nhứt của Dakar, Sénégal, ở
Phi châu, mà tôi đă nhiều lần ngồi xe taxi đi ngang
qua (1978-82) từ phi trừơng về thành phố. Chắc
các bạn sẽ nói rằng thành phố lớn nào lại
không có những taudis hay ổ chuột. Đúng, nhưng
không phải ở đâu cũng có những ổ chuột
như các thành phố lớn VN.
Hậu quả cụ thể
là cái hố giữa giàu (tập trung về các thành phố)
và nghèo (ở thôn quê và ngoại ô thành phố) càng ngày càng sâu
càng rộng theo đà phát triển kinh tế. Nghèo ở
đây là nông dân và thợ thuyền, chắc chắn phần
lớn hai giới nầy đều có đời sống
dưới mức tối thiểu (poverty line) theo Liên hệp
quôc (UNO) là 700 đô la một năm hay 2 đô la một
ngày, tương đương với 35,000 đồng
theo hối xuất hiện giờ. Và số người
nghèo nầy, theo tôi tính th́ phải chiếm ít ra là 60% dân số
85 triệu, nhưng nhà cầm quyền Hà nôi luôn luôn ngoan cố
công bố chỉ có 35% dân số c̣n ở dưới mức
nghèo theo tiêu chuẩn của Liên hiệp quốc. Mị dân
lâu ngày thành ra tự mị chính ḿnh.
Trong ḷng thành phố th́ rơ ràng
phát triển đến chóng mặt của ngành khách sạn,
với những tiệm ăn tiệm hàng nhập cảng
thật sang…tất cả đều đúng tiêu chuẩn quốc
tế của thế thứ 21, đang khi đó th́ hệ
thống cống rănh vẫn c̣n ở trong t́nh trạng đầu
thế kỷ 20.
Nói về làng xă thôn quê tức
là nói đến giới nhà nông. Là thành phần đại
đa số nhân dân, không có một con số chánh thức và
chính xác, nhưng tỷ lệ 60-65 % không xa sự thật
bao nhiêu. Khi nói về phát triển không quân b́nh, mọi
người kể cả kinh tế gia CS cũng phải
nh́n nhận là ngành nông nghiệp bị các ngành khác nhứt
là du lịch cũng là xuất cảng hàng hóa và dịch vụ
(services) tại chỗ và xuất cảng hàng hóa ra nước
ngoài…vượt quá xa, cũng có thể nói được
là trong quá tŕnh phát triển kinh tế, giới nhà nông bị
bỏ quên đi. Trớ trêu là chính giới nhà nông hy sinh nhân
lực cũng như tài lực nhiều nhứt để
đánh Pháp đánh Mỹ giành lại chủ quyền và thống
nhứt đất nước, nhưng khi độc lập
và thống nhứt rồi, th́
chính giới nhà nông nầy lại bị bạc đăi nhứt,
bị Đảng CSVN lạm dụng ‘sát ván’. Chế độ
hợp tác xă tạo cơ hội để cán bộ hà hiếp
dân, vừa làm tiêu ma sáng kiến và làm suy giảm năng lực
sản xuất của nông dân. Cải cách ruộng đất
trong thập niên 50 là kế hoạch
thay đổi chủ quyền, từ tay tư nhân về
tay nhà nước, và chủ điền mới nầy khắc
nghiệt và tàn nhẫn hơn vạn bội. Đó là chuyện
ở ngoài Bắc, để lại một vết
thuơng quá sâu qúa nặng trong tâm hồn của dân tộc,
c̣n lở lói đến tận ngày nay và là một vết
nhơ mười phần đáng ghê tởm của đảng
CSVN không bao giờ bôi tẩy được trong lịch sử
dân tộc. VN.
Trong Nam th́ sau khi thống nhứt,
th́ có hợp tác xă, kế đến là phá giá lúa gạo, nhà
nước kềm giá gạo để xuất cảng,
đang khi giá hàng hóa tiêu dùng khác th́ thả lỏng. V́ đó
mà nông dân trong Nam đă nghèo lại nghèo hơn, đến
đỗi có nơi phải đói, chính ngay ở giữa vựa lúa của ḿnh,
như nhà văn trẻ Nguyễn ngọc Tư kể trong
chuyện Cánh đồng bất
tận của cô. Như môt gia đ́nh hai ba con, có 5,6 công
đất ruộng để khai thác trong thập niên 70,
80, đời sống vất và nhưng c̣n sống đựơc.
Nhưng qua thập niên 90, nếu không thêm con th́ cũng phải
thêm tuổi, nghĩa là phải thêm nhu cầu, đang khi
đó th́ diện tích khai thác không thêm, có khi lại phải bớt
v́ kế hoạch thủy lợi, kế họach giao thông
đường sá…đến một lúc thặng dư sức
lao động, thất nghiệp tiềm tàng kinh niên thành ra
lộ liễu trần truồng, làng xă nông thôn không c̣n sức
chịu đựng phải tống khứ ra ngoài những
miệng ăn, mà tay chơn không t́m ra cái ăn. Kết quả:
con trai con gái phải bỏ làng ra đi, để làng xă lấy
lại sự quân b́nh của ḿnh để tốn tại.
Đi đâu? Và làm ǵ?
Từ
đó mà có phong trào đi làm đĩ, đi lấy chồng
người Đài loan, người Đại hàn, người
Tàu… mà hơn 90% là con gái Nam kỳ lục tỉnh, v́ có nhiều
hơn, có chơn dài hơn. Có nhiều làng con gái bỏ
đi về thành hay đi lấy chồng ngoại quốc
gần hết, như một xă ở gần thị xă Cần
thơ ngày nay không mấy ai nhớ tên xă đó tên ǵ v́ mọi
người gọi tên mới là Đài loan, cũng v́ lư do
đó. C̣n trai tráng th́ cũng phải
ra đi, gia nhập chiến dịch xuất cảng lao
động do nhà cầm quyền CS phát động,
nhưng hoàn toàn khác hẳn với đàn bà con gái, nhờ nhằm
lúc trong Nam kinh tế bộc phát hơn ngoài Bắc, nên chỉ
trên dưới 30% là trai tráng miền Nam xuất cảng lao
động ra xứ ngoài, để lại trên dưới
70% cho nguời miền Bắc. Nhưng sự phát triển
kinh tế trong Nam vẫn không đủ sức thu nhận
hết, thất nghiệp của dân miền Nam vẫn c̣n rất
gay gắt. Khi có khủng hoàng kinh tế như hiện giờ
th́ thất nghiệp sẽ trở về nông thôn, làm cho giới
nông nghiệp đă nghèo rồi càng nghèo thêm, làm cho cái hố
xa cách nghèo giàu càng gia tăng, v́ bao giờ giai cấp giàu có
bị thiệt tḥi v́ khủng hoảng th́ vẫn bị thiệt
tḥi tuơng đối ít hơn.
Tựu
trung, sự đổi mới để phát triển theo
‘định huớng xă hội chủ nghĩa’, tức là
trong ṿng ảnh hưởng của văn hóa Mac-lêninit, là một
sự phát triển không quân b́nh, bất b́nh đẳng,
cũng là bất công xă hội vô cùng tan nhẫn. Và không ai
khác là người thừa hưởng sự bất công nầy
ngoài ra đảng CSVN, đúng hơn là đảng viên CS,
v́ nhờ đó mà quyền lực của họ càng
được củng cố hơn, có cơ tham nhũng
hơn, mà vẫn được hàm ơn của dân tộc.
Cho đến bao giờ?
- Đặc
thù số 3 là giáo dục. Tuyên truyền và giáo dục là
hai phượng tiện để nhuộm đỏ
văn hóa dân tộc VN, nhưng giáo dục là phương tiện
linh nghiệm nhứt, nên đảng CSVN giữ độc
quyền quản lư, triệt để và toàn diện, từ mẫu giáo
đến cao học, từ trưởng sở cầu
tiêu (nói là nhà ỉa mới có văn hóa hơn) , pḥng ăn,
sân chơi…đến việc tuyển chọn giảng viên
cũng như thu nhận học sinh sinh viên, từ việc
định đoạt chương tŕnh học đến chuyện thi cử…tất
cả v́ mục đich đào tạo cho ra một mẫu
người mới, có cách suy tư mới, có cách xử thế
mới, có cả cách ăn nói mới.., nghĩa là hoàn toàn thấm
nhuần văn hóa Mác-lêninit, đạo đức
Mác-lêninit.
Chúng ta nhận diện mẫu
người nầy rất dễ dàng. Đây là hai trường
hợp thông tin tôi vừa nhận đuợc mới vài ba
ngày thôi, không ǵ ghê gớm lắm, nhưng rất rơ ràng.Tôi
có người bạn vong niên người Hà nội, vợ
chết, đi về VN cưới một cô vợ trẻ
đẹp, có bằng đaị học và có tiền. Sau
nhiều năm gắng gượng hạnh phúc với
nhau, tuần rồi anh đến chở tôi đi ăn
bánh xèo ở quán Cây dừa, khi đưa tôi về, tôi hỏi
thăm chuyện gia đ́nh của anh, đến một
lúc anh phải tâm sự với tôi về những đặc
tính của chị vợ: ăn nói với chồng con
như côn đồ, đầu óc cấp đại học
lại dốt hết chỗ nói về sử địa,
nhứt là sử địa thế giới, như có lần
hỏi anh ta Nam duơng ở đâu? Chuyện thứ 2. Mới
tháng trước đây, một cô bạn đi về
thăm gia đ́nh ở Mỏ cày, Bến tre, trở về
Mỹ ở San Antonio Texas gọi thăm tôi, tôi hỏi về
thăm nhà có thấy ǵ thay đổi không? Chị ta không
nói ǵ khác chỉ trả lời: Sao bây giờ học tṛ con
gái cũng như con trai trong làng ăn nói tục tĩu quá,
anh! Mở miệng ra là Đ.M.Đ.B.
Tôi chỉ nói một vài ví dụ
sống nhẹ nhàng thôi, chớ thực sự ảnh huởng
văn hoá Mác-lêninit trên xă hội VN tai hại nặng nề
và qui mô hơn nhiều, nhứt là trên sự giao tế giữa
con cái với ông bà cha mẹ, giữa thầy tṛ (anh Nguyên hiến
Lê có thuật chuyện các cô giáo ở Long xuyên thường
xuyên bị học sinh đón đường bóp vú và vô tôi vạ,
v́ là con ông cháu cha. Văn hóa Mac-leninit đă vào tận đồng
bằng sông Cửu long từ tháng 4 năm 1975 rồi.
Nhưng đó chỉ là những chuyện nhỏ.
Chuyện lớn nhứt mà tôi
muốn nói đến là sự mất quân b́nh trong sư
phát triển kinh tế và xă hội, do chủ truơng, do
chánh sách của văn hóa Mac-leninit quan niệm và thực hiện
từ ngày thống nhứt đất nước, kết
quả là giới nông dân và thợ thuyền bị bạc
đăi từ đời cha ông hiện giờ và qua đời
con đời cháu. Nên cái hố xa cách giàu nghèo càng ngày càng sâu
rộng bao nhiêu nữa. Chúng ta nên suy nghĩ một chút về
câu ca nầy thôi th́ sẽ rơ cái ư của tôi:
Tiên học phí, Hậu học
thêm!
Tiên học phí! Từ cấp mẫu giáo đến cấp
cao học, trên thế giới ngày nay chỉ có VN mới có
một chế độ giáo dục có học phí từ cấp
cơ sở như vậy. Thực tế các gia đ́nh nông
dân thợ thuyền trong Nam (tôi không rơ chuyện ngoài Bắc
lắm, nhưng có thể cũng tương tự. Cha mẹ
là những người bà con với tôi, ở Trà vinh (Đại
phuớc), Rạch giá (Xă thoàng), Cần thơ (B́nh thủy),
ba gia đ́nh ở ba nơi khác nhau, nhưng cùng t́nh trạng
như nhau, cho nên có thể nào h́nh dung cho cả Nam kỳ lục
tỉnh, có nhiều nông dân nhứt nước. Ba gia
đ́nh đều được lập khoảng 1976-77 và
khai thác trên dưới 1 mẫu ruộng hay là 10 công đất
vườn, đê phát triển. Đến năm tôi về
thăm VN là năm 1995-96, gia đ́nh nào cũng có 3, 4 đứa
con và đều cho các con đi ăn học, và đă có hai
ba đứa hết trung học. Nhưng đến nguỡng
cửa đaị học hay kỹ thuật chuyên môn, là hết
đường thăng tiến nữa. Mỗi niên khóa
đại học hay kỹ thuật chuyên môn đ̣i hỏi
tối thiểu từ 3 đến 4 triệu bạc.
Nghĩa là đại học và kỹ thuật chuyên môn trở
thành độc quyền (chasse gardée) sở hữu dành riêng
cho nhà giàu, trong đó phần lớn là cán bộ CS, trong những
cán bộ CS nầy phần lớn là người miền Bắc.
Ngoài vấn đề tài chánh, c̣n có vấn đề kỵ
thị giữa những gia đ́nh anh hùng và gia đ́nh “ngụy”,
làm cho nhà nông và nhứt là nhà nông người miền Nam càng
điêu đứng hơn nữa.
(Lưu ư: người miền Nam là những người
sống duới vĩ tuyến 17 từ 1954 đến 1975
và không CS. Cũng nên lưu ư nữa là thợ thuyền phần
lớn cũng là người miền Nam, 2/3 công thuong
cũng ở trong Nam, đầu tư từ nước
ngoài cũng gần 80% đổ vào trong Nam.)
Hậu học thêm! Cũng từ cấp mẫu giáo đến
cao học, tham nhũng là sở trường của người
có quyền, trong trường hợp nầy là giáo chức
và người hối mại dĩ nhiên phái là người
có tiền. Cho nên “tiên học phí’’ với ‘’hậu học
thêm’’ thành ra môt cập bài trùng vô cùng mănh liệt đă và
đang đưa một giai cấp (thiểu số) lên và
đẩy một giai cấp (đại đa số) sụt lại sau một cách hết
sức tàn nhẫn và không phải cho một hai thế hệ,
mà cho rất nhiều thế hệ kế tiếp, v́ luôn
luôn giáo dục là con đường để thăng tiến
và lâu dài. Có người nói: để sửa chữa sự
bất quân b́nh đó th́ có chế độ học bổng
cho học tṛ và sinh viên ưu tú. Nhưng lại lẩn quẩn
nữa rồi! Ai là học tṛ ưu tú? Trường hợp
của tôi thời niên thiếu, tôi học giỏi, không chắc
ǵ tôi thông minh hay tài ba hơn, tôi học giỏi v́ học
nhiều giờ hơn, nhờ cha mẹ có tiền rước
thầy về dạy tại gia! C̣n chuyện học bổng
th́ là chuyện quyền thế, ngoài ra c̣n là chuyện muối
bỏ biển.
Để hiểu thêm về
giáo dục của văn hóa Mác-leninit, tôi xin mượn lời
của TS Nguyễn quốc Bảo, nguyên Ủy viên Trung
ương Đảng, nguyên Bí thư thứ nhứt
Đoàn thanh niên CS HCM.
a)… nền giáo dục tạo
nên sản phẩm giả và lưu hành sản phẩm giả
từ cấp cơ sở đến ông tiến sĩ,
đến ông giáo sư…(70% tiến sĩ giả, giáo sư
giả theo TS Nguyễn đ́nh Cự). Dù là giả, th́ nhà nghèo cũng không có tiền
mua nữa là…
b) Hệ thống giáo dục
trở thành thị trường không lành mạnh, tất cả
các thành phần của giáo dục trở thành một thứ
hàng hóa mang rao bán, tất cả các kỳ thi, các chứng chỉ…Cũng lại là tiền nữa, nhà giàu th́
tha hồ mua, nhà nghèo th́ tha hồ đứng nh́n.
c)
Hệ thống thầy giáo rất thiêng liêng, tuy không phải
là tất cả, nhưng có xu hướng là người
kinh doanh, mà kinh doanh rất tàn nhẫn.
d) …có tiền là có điểm
tốt.
e)….Nền giáo dục của
ta có điều khiển được không? Hệ quả
tai hại không phải là con em Việt nam đang thiếu
trí tuệ. Hệ thống điều hành làm cho nó tê liệt
đi. Nhưng nếu cùng con nguời ấy cho ra nước
ngoài th́ nó nên nguời. (Diển
văn đọc tại Quốc tử giám, Hà nội, ngày
18-07-2003). Cũng lại là tiền nữa mới thành
người.
Ở trong nước con em
nông dân hay thợ thuyền, không có tiền để
thăng tiến, th́ làm sao có tiền đi nước ngoài
để nên người. Nhưng nếu không đi nước
ngoài để nên người, th́ phải ở nhà th́ thành
ǵ? Không lẽ trở về thành người vuợn à?
Kết luận:
Nguyên Tổng thống Nguyễn
văn Thiệu đă nói: Đừng nghe những ǵ CS
nói, phải nh́n những ǵ CS làm! Thưa quí vị, ông Thiệu
nói không rơ! Thực ra phải nói như vầy mới
đúng: Khi CS nói trắng th́ phải nghĩ là đen. Khi CS
nói giải phóng th́ là đô hộ, là đánh cướp. Khi
CS nói công lư th́ đó là bất công. Khi CS nói tự do th́ là
đọa dày. Khi CS nói hạnh phúc, có nghĩa là bất hạnh
là khốn nạn.
Cám ơn quí vị!
Huỳnh văn Lang
(Bài nói chuyện
của tác giả tại Hội Việt Học, California
ngày 19 tháng 4, 2009)