MÓN
NỢ VĂN HÓA B̀NH DÂN
VÀ
SỨ MẠNG VĂN HÓA DÂN TỘC
Huỳnh
Văn Lang
Món nợ văn hóa b́nh dân
(Câu chuyện đă qua)
Cuối tháng tám năm 1954, trong số các
sinh viên du học nước ngoài được Thủ
tướng Ngô đ́nh Diệm gọi về giúp
nước có ba người rất tầm thường là
Lê thành Cường, kỷ sư canh nông trường Pháp,
Đỗ trong Chu, sinh viên cao học ban giao quốc tế
đại học Georgetown, Wasingtong D.C.và Huỳnh văn
Lang, sinh vien cao học Econometrics đại học Chicago.
Sau khi tŕnh diện Thủ tướng, ngẫu nhiên Sở
nội dịch phủ Thủ tướng gửi họ vào
ở tạm trong Nhà ngủ Kinh hoa, Chợ lớn,
để chở ngày được bổ nhiệm vào
một chức vụ nhỏ lớn nào đó tùy theo
khả năng chuyên môn của mỗi người. Không dè
chính trong 20 ngày chờ đợi đó, v́ cùng một nhân
sinh quan như nhau họ đă gặp nhau ở một
điểm: y thức ḿnh được xă hội đăi
ngộ quá nhiều, được đi ăn học xa,
được tôi luyện thành người có kiến
thức, hiểu biết hơn nguời…tức nhiên là mang
nợ lớn với đồng bào ḿnh, cần phải lo
trả, càng sớm càng tốt, càng ṣng phẳng càng tốt.
Là nguời lương thiện, minh không có quyền
quịt nợ dù nhiều dù ít.
Ư thức mắc nợ và phải trả
nợ đă thúc đẩy bộ ba nói trên phải t́m cho ra
một phuơng thức nào để được ṣng
phẳng với xă hội, với đồng bào. Sau
nhiều đêm suy tư, nh́n gương người
xưa như một Nguyễn trường Tộ, một
Nguyễn phú Thứ, một Phan chu Trinh, một Truơng
vĩnh Kư…để lại, sau nhiều ngày thảo
luận sâu rộng họ đi đến kết luận
là chỉ có trường học dạy chữ dạy
nghề cho những thành phần hiếu học mà không
phuơng tiện như ḿnh, cũng có nghĩa là không
được xă hội ưu đăi như chúng ḿnh. Đó
là phuơng thức linh nghiệm nhứt để trả
nợ ḿnh mắc một cách ṣng phẳng nhứt, cùng
một lúc giải quyết được sự liên
đới xă hội chiều ngang cũng như chiều
dọc.
Trường Bách khoa B́nh dân được
cưu mang từ ư thức mắc nợ và phải trả
nợ. Suy luận và quan niệm th́ dễ nhưng từ
đó đi đến chỗ thực hiện một
mưu đồ c̣n là một con đường dài,
nhiều trở ngại, v́ cả ba con người có tấm
ḷng nói trên chưa có chút quyền hành cũng như chưa
có chút tiền tài trong tay. Tuy nhiên bộ ba chúng tôi, một
người Phật giáo, hai Công giáo, một người Nam
và hai người Bắc, tâm tánh rất khác nhau, nhưng
lại rất bổ túc cho nhau, luôn luôn rất phục
thiện, cởi mở và trung thành hợp tác nhau.
------------------------
Trong buổi thuyết tŕnh về hội
Văn hóa b́nh dân (1955-1975) ở Viện Việt học ngày
12 tháng 07-08 chúng tôi có nói đến động lực nào
đă thúc đẩy chúng tôi vội vă thành lập các
trường Bách khoa b́nh dân (tháng11,1954) và sau đó hội
Văn hóa b́nh dân khi vừa mới về nước (tháng
08, 1954). Chính ư thức mắc nợ văn hóa và phải
trả nợ, chớ không ǵ khác và cái ư thức nầy
đă nảy sinh ra rất sớm từ 9, 10 tuổi
(1931-32), tại một trường tiểu học nghèo nàn
là trường tiểu học Láng thé, làng B́nh phú, quận
Càng long, tỉnh Trà vinh.
Người viết là con cháu đại
điền chủ, gia đ́nh có cha mẹ và ông nội là
hội đồng Huỳnh kim Thinh (1860-1945) ở làng Long
thuận kế cận, sau là ấp Long thuận, làng
Nhị long. Vốn người viết có thầy giáo
dạy tại gia từ năm lên sáu. Anh Lê văn Tân,
cũng là người bà con cô cậu, là một thầy ḍng
Frère des Écoles Chrétiennes có bằng Thành chung Pháp, v́ yếu
phổi phải nghỉ dài hạn sau hai năm kinh nghiêm
sư phạm trường Taberd Saigon. Anh là người cao
ráo trắng trẽo, thầy tṛ đi dạo chơi trong
làng nhiều người lầm tưởng cho là hai anh em
ruột. Sau hơn ba năm chăm chỉ ngừơi
dạy kẻ học, nhận thấy dư sức thi
bằng tiểu học nên cha mẹ đă xin ghi tên học
lớp nhứt trường công Láng thé. Thời đó ngày
học chia làm hai buổi, sáng từ 8 giờ đến 12
giờ, học tṛ về nhà ăn cơm và nghỉ trưa,
để rồi 2 giớ trở lại học tiếp
đến 5 giờ, tôi có xe đến ruớc. V́ thế
mà cha mẹ đă gửi tôi cho một gia đ́nh
người Hoa có vợ Việt, để về đó
ăn cơm trưa và ngủ nghỉ. Nhà chú D́nh nầy có
tiệm chạp phô và một thớt thịt heo ở nhà
lồng chợ. Nhà có hai cô con gái, con chị 14 tuổi tên
Phụng ở nhà giúp mẹ coi cửa hàng, con em tên Loan 10
tuổi đi học cùng lớp vớI tôi, ở
trường th́ bảo vệ như một thiên thần
hộ mạng, trưa về nhà lo cơm nước
như một người chị cả.
Một ngày nắng ráo của tháng tám 1931
sáng sớm cha mẹ cho xe hơi nhà, một chiếc xe Fiat
nhỏ có tài xế là anh ba Mau đưa tôi đến tŕnh
diện với thầy giáo Chữ, trước mặt 37
đứa học tṛ cả trai lẫn gái, có đứa cao
hơn tôi cả cái đầu, ăn mặc rất nghèo nàn
lam lũ. Không dè chính phuơng tiện chuyên chở và ăn
diện quần kaki ngắn,
áo sơ mi cụt tay, san-dan da là 2 điều làm cho
người viết sựơng sùng hết sức, v́ cho
như là ḿnh đi lạc lối. Đă vậy rồi mà
vào lớp c̣n bị mấy đứa con gái ăn hiếp
một cách tàn nhẩn, bắt ngồi bên nây, dời qua bên
kia bất kể lời dạy của thầy giáo Chữ.
Đến giờ nghỉ ra sân chơi, tôi muốn gia
nhập bọn con trai để đá banh cao-su hay chơi
bi th́ bị cho ra lề ngồi chơi, cho là sẽ bị
đá gảy gị hay trặc tay báo hại người anh em,
c̣n lớ xớ xem bọn con gái đánh đũa hay
nhảy ô th́ bị xua đuổi như đuổi tà:
‘’đi ra chỗ khác chơi mầy, đi cho mau!’’ Trong
đời, chưa bao giờ tôi bất hạnh đến
thế. Cũng may là t́nh trạng khốn khổ đó
chỉ kèo dài khoảng một tháng thôi.
Vốn nhỏ tuổi và ốm yếu,
nhưng chẳng bao lâu cả lớp con trai con gái
đều nh́n nhận là thằng con nhà giàu nầy lại
giỏi toán và tiếng Pháp hơn bọn chúng quá xa. Thật
vậy, riêng hai môn nầy, tôi học ba năm rưởi
bằng chúng học trong 10 năm. Không chắc ǵ tôi thông
minh tài ba hơn chúng, nhưng chăc chắn là tôi hoc
được quá nhiều giờ hơn, mà c̣n có thầy
giỏi dạy, ít ra là 3 giờ mỗi ngày và 6 ngày một
tuần. Đang khi đó th́ thầy giáo Chữ làm sao mà lo
cho xuể 37 đứa học tṛ, chỉ nói hai môn dó thôi,
c̣n ba bốn môn khác như chánh tả, luận, cách trí dù là
thường thức. Có phải v́ lu bù trách nhiệm quá
sức ḿnh, mà thầy luôn luôn có tật véo đít con trai
cũng như con gái, những khi gọi lên bàn từng
đứa một để sửa bài trước mặt
cả lớp. Một cái sơ sót một cái lỗi là
một cái véo đít và có những cái nhăn nhó, đau
đớn, nhiều khi nuớc mắt rơi mà không dám khóc
thành tiếng.
Tất nhiên tôi luôn luôn thoát khỏi dễ
dàng cái tai nạn khủng khiếp đó, nhưng lại
không khỏi thông cảm và chia sẻ cái bất hạnh
của các nạn nhân. V́ thế mà như tự nhiên hay là v́
bản tánh hay bất b́nh tôi đă khởi sự chỉ bài
cho con Loan trước, kế tiếp là cho cả bọn,
không một chút có ư trả thù trẻ con mà lại rất
vui sướng như là bắt gặp được
một cơ hội để trả nợ, v́ thấy
ḿnh may mắn hơn chúng, được gia đ́nh và xă
hội đăi ngộ quá nhiều. Thật ra lúc đó tôi
hảnh diện th́ có, nhưng hoàn toàn không kiêu căng, không
‘’làm tàng’’. Nhờ thế mà từ đó tất cả
bọn con trai, con gái không c̣n ruồng bỏ tôi nữa, con
trai sẳn sàng cho tôi tham gia các tṛ chơi của chúng, có
những đứa con gái c̣n muốn dạy tôi đánh
đũa là khác, tất cả đều muốn làm
bạn với tôi. Con Xuân là con nhỏ ăn hiếp tôi
nhứt đă bắt đầu thương tôi nhứt.
(1)
(1) Trời dong rủi thế nào mà 25 năm
sau, anh ba Đước, con cô ba tôi cũng là dượng
hai của nó đă dẫn nó vào Viện Hối đoái xin
việc làm với tôi.. Nó ngại ngùng bao nhiêu, tôi thuơng
và giúp đở nó bấy nhiêu.
Nói như trên để thấy
rằng từ thưở 9, 10 tuổi tại một cái
trường tiểu học nghèo nàn ở Láng thé đă có một sự phát
triển ư thức, một sự biến chuyển tâm linh
ẩn tàng trong tiềm thức chờ ngày bộc phát ra hành
động cụ thể. Đó là những xu hướng
có từ thiếu thời để thành h́nh khi
trưởng thành. V́ thế mà tôi đă chọn con
đường giáo dục, đúng hơn là đi dạy
học, dạy ở đây không có nghĩa là chỉ
bảo mà là chia sẻ với nhau giữa bạn bè, ‘’
mầy chia sẻ cho tao những tṛ chơi banh cao-su,
đánh bi hay thảy lỗ, tao chia lại cho mầy
mấy câu tiếng Pháp, mấy cái mẹo làm toán
đố’’, thật là thân t́nh như là bạn bè, cũng là
cái gương của anh hai Tân để lại cho tôi.
Năm 19 tuổi, tôi đă đi dạy một lớp chót
của trường Nguyễn trường Tộ, Vĩnh
long. Năm 24 tuổi đi dạy trường Philippe Minh
của Đ.C. Ngô đ́nh Thục, Vĩnh long và năm 35
tuồi dạy Đại học sư phạm, Saigon, cùng
một lúc dạy hai lớp tối trường Bách khoa
b́nh dân, Saigon từ 1954-1963.
-----------------------
Phân công với nhau th́ Huỳnh văn Lang
sẽ là Giám đốc, Lê thành Cường sẽ là thư
kư kiêm thủ quỹ, Đỗ trong Chu trách nhiệm
chuơng tŕnh giảng dạy. Là Giám đốc, tôi liên
lạc ngay với bộ Giáo dục và mượn
trường nữ Tôn thọ Tuờng, đầu
đường Trần hưng Đạo, bà Huỳnh
ngọc Nữ đuơng là hiệu trưởng. Lúc
đầu chúng tôi chỉ dám nghĩ đến một
trường học dạy chữ dạy nghề vài ba
trăm sinh viên là tối đa. Nhưng không dè trong t́nh
thế chánh trị hồn quân hổn quan, hoàn cảnh xă
hội dao động lúc bấy giờ do Hiệp
định Genève (20-07-54) chia đôi đất nước
gây ra…nhu cầu giáo dục b́nh dân bộc phát quá sự
tưởng tượng. Theo tài liệu của ban quản
trị hội Văn hóa b́nh dân khóa 1964-65, con số
đồng bào già trẻ ghi tên theo học những ngày
đầu tháng 11,1954 lên đến 7, 719 người,
đủ mọi thành phần xă hội, nhưng v́ số lớp
có giới hạn, chúng tôi cố gắng hết sức
chỉ thu nhận được 1,275 học sinh. Và
trường Bách khoa b́nh dân đă chánh thức khai giàng ngày
15 tháng 11, 1954, gồm các lớp sau đây:
Ban Văn hóa. các lớp dạy ngoại
ngữ: tiếng Pháp, Anh, Nhựt, Đức, Quan thoại,
Quảng đông, lớp dạy sử Việt. Có
đến 4 lớp tiếng anh, 2 lớp Quảng đông)
Ban thực nghiệp: Diện kỹ
nghệ, Vô tuyền Diện, Họa kỹ nghệ và Công
chánh, Giám thị công trường, Quảng cáo, Y học, Máy
nổ 2 th́, Kế toán, Kinh tế nhập môn, Nhiếp
ảnh, Nữ công, Ước lượng viên, Trữ
duợc, Tốc kư, Đánh Máy Chữ, Trợ tá, Cắt may.
Khóa học là 4 tháng rưởi, hoàn toàn
miển phí và trường c̣n giúp giấy bút mực cho
học sinh nghèo nào cần.
Trách nhiệm ưu tiên của Giám
đốc là chạy tiền và tụ tập giàng viên
thiện nguyện cần thiết và đầy đủ
cho các môn đă có và sẽ mở thêm. Chính đây mới
thấy được thế nào là phép lạ đă
đến để giải quyết cho chúng tôi hai vấn
đề thiết yếu nhứt để một mưu
đồ văn hóa đuợc thành tựu mỹ măn, là
tiền và tấm ḷng thiện nguyện hi sinh của
giới trí thức miền Nam trong một giai đoạn
lịch sử đầy bất trắc khó khăn cho xă
hội, cho đất nước. Cũng không quên
được cái ơn của chế độ, v́
chỉ có trong một chế độ dân chủ tự do,
một sáng kiến cá nhân, một ư thức sáng tạo và
những tấm ḷng thiện nguyện mới có cơ
nẩy nở đơm hoa kết quả và mưu cầu
lợi ích cho toàn dân, không riêng ǵ cho một giai cấp hay
một đảng phái nào. Và khi nói đến chế
độ, chúng tôi không thể quên ơn Thủ
tướng, sau là Tổng thống Ngô đ́nh Diệm, không
có hậu thuẩn vật chất và nhứt là tinh thần
của Người th́ chắc chắn mưu đồ
văn hóa của chúng tôi không thể nào được thành
tựu mau chóng để
rồi thu lượm được nhiều kết
quả tốt đẹp liên tiếp trong 2 thập niên
kế tiếp như chúng ta thấy như sau.
Vốn sau khóa I, nhận thấy cần
phải củng cố và phát triển mưu đồ
văn hóa của ḿnh, qua năm sau (tháng tư 1955) chúng tôi
thành lập hội Văn hóa b́nh dân.(1)
(1) Sáng lập viên: Phan thị Minh Châu,
Đỗ trọng Chu, Trần thị Quư, Vũ ngọc
Tân, Nguyễn Được, Nguyễn Minh Đẫu, Bùi
kiến Thành, Mai thị Dung, Lê phát Đạt, Lư trung Dung,
Tôn thất Thiết, Trần văn Bửu, Hoàng đ́nh Qúy,
Nguyễn phố Lu, Vũ ngọc Hoàn, Bùi huy Giám, Nguyễn
bửu Loan, Nguyễn tấn Chức, Trần tế Dương,
Nguyễn Thái, Lê Lữ, Huỳnh văn Lang, Hồ hản
Hồng, Phan văn Trí, Nguyễn ngọc Pḥng, Lê đ́nh
Liêm, Vũ thị Tin, Nguyễn văn Trương,
Đặng phúc Yên, Vơ văn Hải, Trương thị
Bảo Khánh, Trương thị Bảo Thư, Đỗ
vạng Lư, Lê thành Cường, Nguyễn Xuân Diểm, Vũ
văn Thái, Nghiêm xuân Đức, Trần ngọc Ninh, Bùi
văn Thịnh, Bùi bá Lư, Lê văn Duyên, Đoàn Thêm và
Nguyễn văn Lưu.
Ban trị sự niên khóa 1955-56: Chủ
tịch: Huỳnh văn Lang, Phó chủ tịch: Nguyễn Thái,
Tổng thư kư: Đỗ trọng Chu, Phụ tá TTK:
Trần thị Quư. Thủ quỹ kiêm thư kư văn pḥng:
Lê thành Cường. Kiểm soát viên: Bùi kiến Thành
Dưới bóng hội nầy, chúng tôi
đă sáng lập hội Nghiên cứu kinh tế và tài chánh,
tạp chí Bách khoa, nhà in Văn hóa, thư viện và diển
đường Phan kế bính, sau hết là Ban tráng niên,
chống nạn mù chữ.Vài con số sau đây để
chứng minh thành quả của mưu đồ văn hóa
b́nh dân của chúng tôi trong ṿng 10 năm đầu (1954-1964).
Chỉ mỗi một trường Bách khoa b́nh dân
Saigon/Chơlơn với 21 khóa hai ban văn hóa và thực
nghiệp của nó đă giúp cho 34,753 sinh viên tiến
triển trong sự nghiệp của ḿnh khả quan hơn,
tức nhiên là góp công không ít vào việc xây dựng và phát
triển miền Nam Việt nam. Nếu nh́n vào thành phần
sinh viên tốt nghiệp th́ càng thấy khích lệ hơn
nữa: 40% công tư chức, 35% thợ thuyền, 15% quân
nhân và 10% nội trợ và linh tinh. Nói đến ban Tráng niên
chống nạn mù chữ, th́ con số c̣n lớn hơn
nữa: trong 10 năm đầu đă có 81,174 người
theo học và được cấp chứng chỉ, chia ra
như sau: 23,472 đậu vở ḷng, đậu bổ túc
37, 902, luyện thi tiểu học 17,555 nguời, cắt may
2,245 người. (Tất cà những con số trên đây
đều lấy ra rừ tập tài liệu của Ban
Quan trị niên khóa 1964-1965 để lại..
Một điều khác cũng
quan trọng cần nhắc lại ra đây. Hội văn
hóa b́nh dân không tập trung tất cả hoạt
động của ḿnh ở vùng Saigon/Gia định mà c̣n
mở nhiều chi nhánh ở nhiều tỉnh khác nữa là
Đalat, Bảo lộc, Ban-mê-thuột, Phan rang, Huế,
Mỹ tho, Vinh long và Sóc trăng. Trong 10 năm đầu
với sự tài trợ cùa Trung ương chúng tôi, các chi
nhánh hoạt động rất mạnh như chi nhánh Biên
ḥa dưới sự điều hành của Giám đốc
Trần xuân Roanh, chi nhánh Ban- mê-thuột dưới
sự điều hành của
anh Trương đ́nh Huân, chi nhánh Bến tre với
chị nghị sĩ Phan nguyệt Minh, chi nhánh Dalat với
anh Bùi viết Văn…
Kết luận: Ư thức mắc nợ xă
hội và lo trả nợ là động lực xây dựng
và phát triển một mưu đồ văn hóa b́nh dân
không phải riêng ǵ của một cá nhân mà là của một
nhóm trí thức miền Nam thiện chí và thiện nguyện.
Họ đă hi sinh một ít th́ giờ của ḿnh mà đă
làm được một việc bất thường
nếu không nói là phi thuờng, đă góp công xây dựng và
phát triển miến Nam tự do và phú cường. Dù trong
một thời gian ngắn ngủi 20 năm, nhưng
lịch sử văn hóa văn học không thể nào không
ghi tên của họ. Tuy nhiên người viết cũng
không quên, ngoài những người đă ít nhiều trả
nợ xă hội như nói trên, c̣n bao nhiêu người khác có
khi c̣n mắc nợ hơn chúng tôi nhiều, như khi ra
hải ngoại đă viết hồi kư khoe ḿnh nào là
học giỏi, đỗ đạt cao ở các
trường lớn như HEC, Polytechnique, Centrale, Harvard,
Yale, Columbia…và đă giữ nhiều chức vụ cao
lớn trong hai chế độ miền Nam, nhưng
thật ra họ chỉ là những người quịt
nợ, v́ họ chỉ là những phuờng giá áo túi
cơm, không hơn không kém.
Sứ mạng văn hóa dân tộc.
(Trong bài nói chuyện ở Viện
Việt học ngày 12 tháng 7, 2008, theo đề nghị
của Viện chúng tôi có mạo muội thử dùng kinh
nghiệm hội Văn hóa b́nh dân (1955-1975) ở V.N.
trước kia làm một bài học để bảo
tồn và phát huy văn hóa dân tộc cho người
Việt hải ngoại.)
Trước hết xin sơ lược
định nghĩa văn hóa là ǵ, v́ thật ra có quá
nhiều định nghĩa khác nhau. Văn hóa là cách
sống, cách suy nghĩ, cách giao tiếp giữa
người với người, hay nhân sinh quan, cách nhin
về vũ trụ hay vũ trụ quan, cách nh́n về
sự vật hữu h́nh và vô h́nh hay là tín ngưỡng, ngôn
ngữ, văn chuơng văn học, nghệ thuật,
kỹ thuật, khoa học, tṛ chơi, giải trí, múa hát,
cách xây cất nhà xửa, cách ăn uống, nấu
nướng, ăn mặc v.v.…Như thế văn hóa có
thể chia ra hai loại chánh: tinh thần và vật
chất. Mỗi dân tộc đều có một nền
văn hoa khác với dân tộc khác hoặc ít hoặc
nhiều, có lắm điểm giống nhau v́ cùng một
chủng tộc với nhau, cũng như có lắm
điễm giông giống nhau như đỏ với
hồng và có khi nhiều diểm đối chọi nhau
như trắng với đen, duy vật với duy tâm.
Bản chất văn hóa lá động hay biến
đổi theo thời gian, theo không gian, sinh ra và phát
triển không ngừng nghỉ, biết ǵn giữ cũng
như biết thu nhận và bỏ đi, tuy nhiên cũng có
những điểm luôn luôn tồn tại và phải
tồn tại cũng như có những điều không
thay đổi được, hoàn toàn bất di bất
dịch và bất biến như lịch sử của ḿnh.
Sau 10 năm (1920-1930) tôi luyện vừa lư
thuyết vừa thực hành ở Nga và ở Tàu, Hồ chi
Minh (HCM) đă trở thành một cán bộ trung kiên của
Đệ tam Quôc tế (Commintern) và với chức vụ
một ‘’tông đồ’’Mac-lêninit, cuối năm 1930 ông
về Hong-kong thành lập Đảng Công sản Đông
dương, mưu đồ nhuộm đỏ Đông Nam
Á, đầu tiên là Việt nam. Tức là chủ
trương đem văn hóa Mac-leninit đi chinh phuc và chi
phối các văn hóa khác, dưới danh nghĩa giải
phóng các dân tộc khỏi chế độ thuộc
địa của người Âu Tây, cùng một lúc
đặt để các nước vào biên thùy của Đế
quốc CS quốc tế. Tại sao không gọi Đế
quôc là Đế quôc?
Từ đó cái quá tŕnh ‘’nhuộm
đỏ’’ mà từ dây tôi gọi là thuộc dịa hóa
văn hóa đă đuợc HCM và Đảng CS Đông
duơng (sau đổi tên là Đảng CS V.N.) năng
nổ và tŕ chí xúc tiến trong ṿng 15 năm, đưa
đến kết quả cụ thể là HCM lập
được căn cứ ở Pac-bo năm 1945, tức
là trên đất nước của ḿnh, để rồi
từ đó thành lập mặt trận Việt minh
cướp lấy chánh quyền trên tay chánh phủ Quốc
gia, loại bỏ các đàng phái Quôc gia, giành lấy
độc quyền yêu nước, triệt để khai thác
ḷng yêu nước của toàn dân để độc
quyền chống Pháp, đánh đổ thực dân Pháp
ở Điện biên phủ. độc quyền vinh quang
chiến thắng, cướp công của toan dân, cùng
một lúc vay của dàn anh Trung cộng một món nợ
khổng lồ, phải cầm cố vận mạng và
tuơng lai của dân tộc với hiệp định
Genève 20-07-54 chia đôi đất nước, cũng là
thành công đem văn hóa Mac-lêninit chinh phục và chi phối
ít ra là phân nửa dân tộc V.N.. Thật sự HCM và
Đảng CSVN là người bất TRI và bất TRÍ
bị đàn anh Nga Tàu ép buộc hay xỏ mũi. bắt
thi hành một việc mà ḿnh không muốn, biết rằng
về lâu về dài quá tai hại cho dân tộc. Chiến
tranh chống Mỹ cũng là theo lời đàn anh
‘’xuối ăn cứt gà’’ càng chứng minh HCM và
Đảng CSVN hoàn toàn bất tri và bất trí hơn
nữa, nếu không nói là ngu xuẩn như bà Duơng thu Hương
đă nhiều lần khẳng định.
Đảng CSVN luôn luôn tự cho ḿnh là
đĩnh cao trí tuệ loài người, nhưng luôn luôn
sai lầm để rồi sửa sai, lại sai lầm
nữa để rồi sửa sai nữa, chính họ nh́n
nhận điều đó, chớ không phải là do ai
bịa chuyện, danh từ sửa sai là của
người CS, không phải là của người quốc
gia tạo ra, nhiều khi họ c̣n hảnh diện về
hai từ đó, nhưng chính hai từ đó lại
chứng minh họ sai lầm liên miên, nhiều lần
sửa sai là nhiều lần sai lầm. Thế th́
đĩnh cao trí tuệ loài người ở chỗ nào,
thử hỏi? Và sai lầm là v́ bất trí bất tri hay là
ngu xuẩn cũng vậy thôi. Đúng như một
thường tọa ở Nha trang đă nêu đại
tự trước cửa chùa: Ngu mà biết ḿnh ngu là trí,
Ngu mà cho ḿnh trí th́ chính đó mới thật là ngu.
Người viết lại nghĩ rằng nguời CS
đă lẫn lộn cái đít thành ra cái đầu, chỉ
có vậy thôi!
Cái bất tri bất trí của HCM và
Đảng CSVN được lịch sử chứng minh
hùng hồn qua hai sự kiện đánh Thực dân Pháp
để giành độc lập và đánh Mỹ
để thống nhứt đất nước. Bao nhiêu
thuộc địa Pháp cũng như thuộc địa
Anh đă giành được chủ quyền mà không cần
phải hi sinh xuơng máu của cả một hai thế
hệ thanh thiếu niên thiếu nữ như V.N. đó là
chưa nói đến chuyện mất mát bao nhiêu là giá
trị tinh thần, giá trị văn hóa nữa. Đánh
Mỹ để thống nhứt bất chấp con
đường ḥa b́nh theo Hiệp định Paris (1972-73),
chẳng những đă bất tri bất trí mà c̣n bất
tín, để rồi lại phải “qui mă và mă qui’’. Đâu
phải là những con đường đầy vinh quang
chiến thắng. Ngừơi Pháp có câu ngạn: Rira bien,
qui rit le dernier! (Người cười sau cùng là
người cười đúng lư, cũng có nghĩa là khoái
trá) Vậy trong hai
trường hợp nói trên ai là người cuời sau
hết? Tất nhiên không phải là HCM và Đảng CSVN, mà
là Nga Tàu và Mỹ, nguời cười lớn tiếng và
khoái trá nhứt lại là Tàu. Nguời nầy sau mấy ván
bài đều thắng, c̣n thành ra chủ nợ lớn, thêm
đất thêm biển, thêm cả con trai lực
lưởng khỏe mạnh, thêm cả đàn bà con gái xinh
xắng mắn con, muốn bao nhiêu cũng có!
Việc đánh chiếm miền Nam đă
tạo ra một cơ hội ngàn năm một thuở
để thống nhứt dân tộc vừa đất
nước vừa ḷng người, nhưng nguời CS
miền Bắc đă đánh mất đi, thật là
một điều ngu xuẫn tột cùng mà chắc
chắn lịch sử muôn đời không thể tha
thứ được: thay v́ ḥa giải ḥa hợp
để đoàn kết một dân tộc thành ra một
khối duy nhứt, chẳng những để phát
triển vừa nhanh vừa mạnh mà c̣n thành một
lực lượng chống xâm lăng vô song như
thời nhà Trần chống quân nhà Nguyên. Rất tiếc là
họ lại chia xẻ sâu xa và dứt khoát hơn
trước. Vốn ngoài
miệng họ gọi là giải phóng, nhưng giái phóng ai,
giải phóng cái ǵ? Sự thật là để ‘’bọn
ngụy, nhà cửa, tiền tài, ruộng vườn
của chúng nó, ta tịch thu, vợ của chúng nó ta xài, con
của chúng nó ta sai, chồng của chúng nó ta đày đi
tù rục xuơng nơi rừng thiêng nước
độc…( trich bài diển văn trong buổi
Đaị hội chiến thắng của chính ủy Nguyễn Hộ ngày 17
tháng 5, 1975).Đúng là một thứ thực dân mác-xít, nhà
báo Lacouture gọi là autocolonisation (tự đô hộ hóa) mà
người viết cho là nửa dân tộc nầy đô
hộ nửa dân tộc kia mới đúng hơn. Chính sách
đô hộ hay thực dân mác-xít nầy đă
được Đảng CSVN
thực hiện và xúc tiến một cách triệt
để với (a)chế độ tù cải tạo cho
toàn thể cán bộ quân dân chính của miền Nam mà con
số lên đến trên 500,000 người, bao nhiêu
người đă chết trong tù và bao nhiêu nguời
sống sót với bệnh hoạn thể xác và tinh thần
kinh niên. Chánh sách (b)đi kinh tế mới đă phá hoại
cả triệu gia đ́nh nguời miền Nam, đàn bà con
gái trẻ con ông già bà cả… bao nhiêu con người tất
cả đều vô tội, phải bị một đời
thương tích bệnh tật thể xác cũng như
nội tâm. Chủ trương (c)cuớp giựt
đại qui mô con người và tài sản của miến
Nam, bao nhiêu đàn bà con gái miền Nam phải lấy cán
bộ miền Bắc để đổi lấy sự
an toàn cho ḿnh, cho cha mẹ hay anh em con cái của ḿnh, bao nhiêu
của cải từ chiếc xe đạp, xe gắn máy,
máy may, nhà cửa, máy móc trang bị…được tải
về miến Bắc, để rối sau đó c̣n
muốn (d)tiêu diệt luôn văn hóa văn học miền
Nam, đốt sách báo, cassettes, dĩa hat, CD của miền
Nam. Thế kỷ 12 CN quân Mông cổ của Thành cát tư
hản đánh chiếm miền Đông Âu cũng như
Trung đông không bao giờ giết hại một
người có chút nghề canh nông, nghề thợ mộc
thợ rèn, nói chi là thầy giáo, nghệ sĩ…và luôn luôn tôn
trọng văn hóa Kitô giáo và Hồi giáo, chính Hốt tất
liệt (Koubilai Khan) sau khi chinh phục Trung hoa cững vẫn
tôn trọng văn hóa Hán mà c̣n phát huy thêm bằng cách cho
nhập cảng Phật giáo chánh thống Tây tạng và
kỹ thuật khoa học của Âu Tây (đọc
Marco-Polo). Nhiều lần người viết tự
hỏi, không lẽ người CS miền Bắc cũng là
người Việt nam lại kém văn minh hơn
người Mông cổ 700 năm trước? Không lẽ
nguời CS miền Bắc cũng là người anh em
đồng bào lại mất t́nh người, mất luôn
tính người đối với người miền Nam
như thế?
Không cần suy nghĩ người viết
đă t́m ra câu trả lời ngay như sau: Bao nhiêu cái sai
lầm, bao nhiêu cái khốn nạn, bao nhiêu cái tiêu cực do
HCM và Đảng CSVN gây ra cho dân tộc V,N, tất cả
đều bắt nguồn từ cái văn hóa duy vật
Mác-lêninit HCM nhập cảng từ Moscowa và từ năm
1930 Đàng CSVN đă đem truyền bá vào xă hội V.N. qua
những giai đoạn lịch sử cũng là những
mốc thời gian 1930 (thành lập đảng CS),1945 (Viêt
minh cướp chánh quyền), 1954 (hiệp định
Genève chia đôi đất nước) và 1975 (đánh
chiếm miền Nam) đă chi phối văn hóa dân tộc
V.N. gần như hoàn toàn, nếu không nói là đào thải hay
thay thế. Không cần phải chứng minh, v́ hiện
tượng dồi đời văn hóa đó đă và
đang là một hiện tượng hiển nhiên gần
như toàn diện và mặc định, đến
đổi nguời ta trong nước không c̣n ư thức
được nữa, tất nhiên cũng c̣n có một
số người luôn luôn thức tỉnh.
Tuy nhiên cái quốc nạn nói trên đă gây
nên một hiện tượng khác hoàn toàn bi hùng tráng, đó
là hiện tượng thuyền nhân, vượt
biên…chạy giặc CS của mấy triệu con
người, thách đố con người CS, thách đó
cả thiên nhiên để đi t́m một môi trường
mới, mà ở đó họ hy vọng bảo tồn
văn hóa dân tộc của họ, một thứ văn hóa
duy tâm mà ông cha của họ đă dày công xây đấp
từ hơn 2,500 năm nay, một thứ văn hóa nhân
bản mà họ được tự do phát triển theo
chiều huớng văn minh tiến bộ của nhân
loại, ờ đó đầy t́nh người,
đầy nhân nghĩa, chẳng những cơm no áo ấm
và nhứt là đầy hiểu biết không c̣n ngu xuẫn
tuyệt đối, ở đó cái dạ dày và bộ óc cũng
như trái tim không c̣n bị chi phối bởi người
CS vừa ngu xuẫn vừa dă man như những ai bị
kẹt ở lại nhà đă kinh nghiệm! (2)
(2) Dân Do thái bỏ Ai cập ra đi thế
kỷ 11 truớc CN chỉ vào khoảng 15,000 người,
thế kỷ 11 CN bà con nhà Lư chạy nhà Trần chưa
tới 3,000 nguời, thế kỷ 17 quần thần nhà
Minh chạy quân nhà Thanh chưa tới 5,000 người, Người Tô-cát và Anh-cát bỏ
xứ ra đi để đựơc tự do giữ
đạo của ḿnh trong cả 2 thế kỷ16-17
chỉ tính đuợc hằng trăm hằng ngàn là
cùng.Năm 1954 Băc kỳ di cư chạy giặc CS
với tàu bè quốc tế chỉ tính được chưa tới 900
ngàn người. Chạy
giặc CS năm 1975 và mấy năm sau đă chiếm
giải quán quân trong lịch sử nhân loại, chỉ tính
bằng những con số thôi, c̣n nói về phuơng
tiện chuyển vận th́ đúng là chuyện siêu phàm.
Từ rày (tháng tư 1975) con số mấy
triệu người bỏ nước ra đi dù muốn
dù không dù ư thức hay không, truớc mặt lịch sử
cũng như trước mắt nhân loại họ đă
mang trên người một cái lai lịch mới, một ID
mới để cho thế giới nhận diện và
thế giới đă nhận diện họ từ hơn
30 năm nay, đó là ID nguời chạy giặc CS. Như
là một bản chất thứ hai, dính liền theo ID
chạy giặc CS nầy là cái sứ mạng phải
bảo tồn cho kỳ cùng cái văn hóa dân tộc mà ḿnh
mang theo, v́ ḿnh đă mất tất cả ngoại trừ
ra cái văn hóa dân tôc của ḿnh. Mất tất cả mà c̣n
lại được cái ǵ th́ phải tŕu mến nâng niu,
đó là lẽ tất nhiên. Cho nên cái sứ mạng bảo
tồn hay ǵn giữ cũng là cái lẽ tất nhiên. C̣n ư
thức cùng chăng lại là một lẽ khác nữa.
Nhưng dù không ư thức di nữa, việc làm hằng ngày
của họ đă nói lên rơ ràng họ đă dứt khoát
chọn lựa giữa hai thứ văn hóa hoan toàn mâu
thuẫn nhau là văn hóa ngoại lai Mác-lêninit và văn hóa
truyền thống dân tộc V.N.. Đây là một bằng
chứng cụ thể và điển h́nh, mà những
người ‘’có mắt như mờ’’ không thấy
được. Vốn sau khi chiếm đóng miền Nam,
nguời CS miền Bắc đă đổi tên Saigon ra
Hồ chí Minh, để nói lên cái ǵ nếu không phải là
để xác nhận rằng từ rày văn hóa duy vật
Mác-lêninit mà HCM là biểu tượng vĩ đại và rơ
ràng nhứt sẽ ngự trị nếu không nói là thay
thế cái văn hóa duy tâm của miền Nam. Nhưng
người Việt hải ngoại đă và đang,
nghĩa là luôn luôn phủ nhận cái tên HCM một cách
mảnh liệt dù không to tiếng, nhưng luôn luôn ầm
ỷ, dù không ư thức nhưng luôn luôn sống động.
Người viết không nói đến những biểu
diển văn hóa văn nghệ tiếng tâm và nhiều màu
sắc như Paris by Night, Asia..mà là nhửng cái tên Saigon
lộ liễu hay kín đáo, to nhỏ khác nhau ở khắp
nơi nào có cộng đồng người Việt sinh sống
và sinh hoạt hằng ngày. Người viết đă
thử đếm th́ thấy trong quận Cam nầy có
hơn 50 cơ sở thuơng mại hàng hóa hay dịch
vụ, cả truyền thông phát thanh truyền hinh báo chí… nào
là Saigon City, Saigon Bistro, Saigon Deli, Saigon Cafe, Saigon Cuisine, Saigon
nhỏ, Saigon BTN, Little Saigon, Saigon Realty, Saigon Barber, Bánh ḿ
Saigon, Saigon phở, Saigon Pagoda , Saigon Fashion…Chợ lớn
cũng có hai ba cái. Houston Texas cũng có gần 20 cơ
sở lấy tên Saigon, San José, Washington D.C., Florida
v.v.đều có ít nhiều. Như thế c̣n có nghĩa là
người Việt hải ngoại c̣n tha thiết với
cái văn hóa, phóng khoán tự do dân chủ hơn là cái
văn hóa đầy xảo trá gian dối như HCM,
đầy sắt máu hận thù chia rẻ như
Đảng CSVN. Thật ra chính ở trong nước
người miền Nam vẫn c̣n tha thiết với
văn hóa nhân bản của dân tộc mà Saigon là biểu
tượng thân thuơng của họ, nên họ đă
từ chối tên HCM, quá lắm th́ họ gọi tắt
Thanh phố hơn là Thánh phố HCM. Thành ra HCM chỉ là
một cái tên chết, chờ ngày bị gạch sổ trên
bản đồ thế giới, như Lenigrad, Staligrad
ở Nga, HCM làm sao hơn cha thầy của ḿnh
được?
Nhưng cũng như nguời miền Nam
kẹt ở lại nhà, người Việt hải
ngoại không có hay là chưa có ư thức chống
đối hay phủ nhận cái văn hóa hai lần
ngoại lai của người CS miền Bắc đem vào
hảm hiếp và ngự trị văn hóa miền Nam.
Hoặc giả chỉ có ư thức một cách mù mờ thôi.
Biết rằng hoàn cảnh người
chạy giặc hay tỵ nạn CS không phải ai ai
cũng đuợc dễ dàng. Tuy nhiên có hai lư do bắt
buộc con người VN hải ngoại phải có ư
thức bao lâu mà c̣n mang theo ḿnh cái ID vừa bất hạnh
vừa vinh hạnh: bất hạnh v́ hơn người vô
gia cư (homeless) đă mất tất cả, vinh hạnh v́
có sứ mạng gin giữ một cái ǵ quí báu c̣n có thể
giữ được và phải giữ cho kỳ
được, v́ chinh tại quê nhà nó đang bị
đánh mất đi một cách thảm hại, như trên
mặt báo chí trong nước, cả báo Công an của Nhà
nước XHCN, hằng ngày đều có nêu ra những
mất mát quá lớn và quá nhiều, HCM và đảng CSVN
đă xua đẩy xă hội VN vào một quá tŕnh tiêu
cực như là một ṿng xoáy một chiều không sao quay
ngược lại được.
Nều chưa có ư thức th́ phải làm cho
có ư thức và ai là người phải đứng ra
nhận lănh trách nhiệm làm cho sanh ra và nẩy nở cái ư
thức sứ mạng đó? Nguời viết nghĩ
đến mọi người, ai là người VN có cái ID
chạy giặc CS là người có trách nhiệm phải
gây ra cái ư thức đó. Người viết nghĩ
đến mọi nguời và mỗi nguời, người
làm cha, nguời làm mẹ, nhà văn, nhà báo, nhà giáo, thuơng
gia cũng như kỹ nghệ gia, bác sĩ kỹ sư
kiến trúc sư duợc sư, chị làm đầu làm
nails cũng như cô bán hàng hay anh làm bếp…và nhứt là
những hội đ̣an, những hiệp hội, nhửng
hội ái hữu cựu sinh viên, những hội
đồng huơng, hội chuyên nghiệp, học
viện, hội nhà văn v.v cũng không nên bỏ qua
những tổ hợp ḍng họ đại gia đ́nh
như họ Bùi, họ Huỳnh, họ Đỗ…(người
CS không có gia đ́nh, chỉ có Đảng; không có
đồng bào, chỉ có đồng chí).Tất cả
đó là những hậu cứ nếu không phải là
tiền đồn để bảo tồn văn hóa dân
tộc khi phải lưu vong ở xứ người.
Người viết kêu gọi mọi cá
nhân, mọi đoàn thể phải đứng ra mở
một chiến dịch gây ư thức sứ mạng văn
hóa dân tộc của ḿnh. Biết rằng từ lâu bao nhiêu
cá nhân bao nhiệu hiệp hội đă thiết tha hoạt
động để bào tồn cũng như phát huy văn
hóa dân tộc ḿnh, nhưng có ư thức hay không là một
chuyên có khi quên đi.
Đây là một chiến dịch, chưa
phải là một mặt trận văn hóa dân tộc.
Nếu nguời nào c̣n mang ID chạy giặc CS mà c̣n một
chút, tôi xin nói lại một chút ưu tư cho vận
mạng và tương lai văn hóa dân tộc V.N. ḿnh, c̣n
biết một chút bất b́nh về những cái trái
ngược hay phản lại văn hóa dân tộc ḿnh
đang xảy ra trên đất nuớc của ḿnh th́ tât
nhiên nên đứng vào mặt trận văn hóa dân tộc
nầy. Để làm cái ǵ?
Trước kia v́ ư thức mắc nợ
văn hóa b́nh dân với xă hội và ư thức phải lo
trả nợ mà người viết đă quy tụ
được một số anh em trí thức để làm
được một việc bất thường,
nếu không nói là phi thường, th́ ngày nay ở hải
ngoại nầy cái sứ mạng văn hóa dân tộc
nầy, thiết nghĩ c̣n quan trọng hơn cái nợ
văn hóa b́nh dân vạn bội. Ư thức là bắt
đầu th́ nên bắt đầu bằng sự bắt
đầu (Begin by and with the begining). Ư thức sẽ
đưa đến hành động. Hành động
thế nào, th́ đó là nội dung cho một bài khác cũng
là nổi ưu tư của mỗi người chúng ta.
Huỳnh Văn Lang
Westminster,
ngày 06 tháng 12, 2008