MÓN NỢ VĂN HÓA B̀NH DÂN 

VÀ SỨ MẠNG VĂN HÓA DÂN TỘC

Huỳnh Văn Lang

 

Món nợ văn hóa b́nh dân

(Câu chuyện đă qua)

Cuối tháng tám năm 1954, trong số các sinh viên du học nước ngoài được Thủ tướng Ngô đ́nh Diệm gọi về giúp nước có ba người rất tầm thường là Lê thành Cường, kỷ sư canh nông trường Pháp, Đỗ trong Chu, sinh viên cao học ban giao quốc tế đại học Georgetown, Wasingtong D.C.và Huỳnh văn Lang, sinh vien cao học Econometrics đại học Chicago. Sau khi tŕnh diện Thủ tướng, ngẫu nhiên Sở nội dịch phủ Thủ tướng gửi họ vào ở tạm trong Nhà ngủ Kinh hoa, Chợ lớn, để chở ngày được bổ nhiệm vào một chức vụ nhỏ lớn nào đó tùy theo khả năng chuyên môn của mỗi người. Không dè chính trong 20 ngày chờ đợi đó, v́ cùng một nhân sinh quan như nhau họ đă gặp nhau ở một điểm: y thức ḿnh được xă hội đăi ngộ quá nhiều, được đi ăn học xa, được tôi luyện thành người có kiến thức, hiểu biết hơn nguời…tức nhiên là mang nợ lớn với đồng bào ḿnh, cần phải lo trả, càng sớm càng tốt, càng ṣng phẳng càng tốt. Là nguời lương thiện, minh không có quyền quịt nợ dù nhiều dù ít.

Ư thức mắc nợ và phải trả nợ đă thúc đẩy bộ ba nói trên phải t́m cho ra một phuơng thức nào để được ṣng phẳng với xă hội, với đồng bào. Sau nhiều đêm suy tư, nh́n gương người xưa như một Nguyễn trường Tộ, một Nguyễn phú Thứ, một Phan chu Trinh, một Truơng vĩnh Kư…để lại, sau nhiều ngày thảo luận sâu rộng họ đi đến kết luận là chỉ có trường học dạy chữ dạy nghề cho những thành phần hiếu học mà không phuơng tiện như ḿnh, cũng có nghĩa là không được xă hội ưu đăi như chúng ḿnh. Đó là phuơng thức linh nghiệm nhứt để trả nợ ḿnh mắc một cách ṣng phẳng nhứt, cùng một lúc giải quyết được sự liên đới xă hội chiều ngang cũng như chiều dọc.

Trường Bách khoa B́nh dân được cưu mang từ ư thức mắc nợ và phải trả nợ. Suy luận và quan niệm th́ dễ nhưng từ đó đi đến chỗ thực hiện một mưu đồ c̣n là một con đường dài, nhiều trở ngại, v́ cả ba con người có tấm ḷng nói trên chưa có chút quyền hành cũng như chưa có chút tiền tài trong tay. Tuy nhiên bộ ba chúng tôi, một người Phật giáo, hai Công giáo, một người Nam và hai người Bắc, tâm tánh rất khác nhau, nhưng lại rất bổ túc cho nhau, luôn luôn rất phục thiện, cởi mở và trung thành hợp tác nhau.

------------------------

Trong buổi thuyết tŕnh về hội Văn hóa b́nh dân (1955-1975) ở Viện Việt học ngày 12 tháng 07-08 chúng tôi có nói đến động lực nào đă thúc đẩy chúng tôi vội vă thành lập các trường Bách khoa b́nh dân (tháng11,1954) và sau đó hội Văn hóa b́nh dân khi vừa mới về nước (tháng 08, 1954). Chính ư thức mắc nợ văn hóa và phải trả nợ, chớ không ǵ khác và cái ư thức nầy đă nảy sinh ra rất sớm từ 9, 10 tuổi (1931-32), tại một trường tiểu học nghèo nàn là trường tiểu học Láng thé, làng B́nh phú, quận Càng long, tỉnh Trà vinh.

Người viết là con cháu đại điền chủ, gia đ́nh có cha mẹ và ông nội là hội đồng Huỳnh kim Thinh (1860-1945) ở làng Long thuận kế cận, sau là ấp Long thuận, làng Nhị long. Vốn người viết có thầy giáo dạy tại gia từ năm lên sáu. Anh Lê văn Tân, cũng là người bà con cô cậu, là một thầy ḍng Frère des Écoles Chrétiennes có bằng Thành chung Pháp, v́ yếu phổi phải nghỉ dài hạn sau hai năm kinh nghiêm sư phạm trường Taberd Saigon. Anh là người cao ráo trắng trẽo, thầy tṛ đi dạo chơi trong làng nhiều người lầm tưởng cho là hai anh em ruột. Sau hơn ba năm chăm chỉ ngừơi dạy kẻ học, nhận thấy dư sức thi bằng tiểu học nên cha mẹ đă xin ghi tên học lớp nhứt trường công Láng thé. Thời đó ngày học chia làm hai buổi, sáng từ 8 giờ đến 12 giờ, học tṛ về nhà ăn cơm và nghỉ trưa, để rồi 2 giớ trở lại học tiếp đến 5 giờ, tôi có xe đến ruớc. V́ thế mà cha mẹ đă gửi tôi cho một gia đ́nh người Hoa có vợ Việt, để về đó ăn cơm trưa và ngủ nghỉ. Nhà chú D́nh nầy có tiệm chạp phô và một thớt thịt heo ở nhà lồng chợ. Nhà có hai cô con gái, con chị 14 tuổi tên Phụng ở nhà giúp mẹ coi cửa hàng, con em tên Loan 10 tuổi đi học cùng lớp vớI tôi, ở trường th́ bảo vệ như một thiên thần hộ mạng, trưa về nhà lo cơm nước như một người chị cả.

Một ngày nắng ráo của tháng tám 1931 sáng sớm cha mẹ cho xe hơi nhà, một chiếc xe Fiat nhỏ có tài xế là anh ba Mau đưa tôi đến tŕnh diện với thầy giáo Chữ, trước mặt 37 đứa học tṛ cả trai lẫn gái, có đứa cao hơn tôi cả cái đầu, ăn mặc rất nghèo nàn lam lũ. Không dè chính phuơng tiện chuyên chở và ăn diện quần kaki  ngắn, áo sơ mi cụt tay, san-dan da là 2 điều làm cho người viết sựơng sùng hết sức, v́ cho như là ḿnh đi lạc lối. Đă vậy rồi mà vào lớp c̣n bị mấy đứa con gái ăn hiếp một cách tàn nhẩn, bắt ngồi bên nây, dời qua bên kia bất kể lời dạy của thầy giáo Chữ. Đến giờ nghỉ ra sân chơi, tôi muốn gia nhập bọn con trai để đá banh cao-su hay chơi bi th́ bị cho ra lề ngồi chơi, cho là sẽ bị đá gảy gị hay trặc tay báo hại người anh em, c̣n lớ xớ xem bọn con gái đánh đũa hay nhảy ô th́ bị xua đuổi như đuổi tà: ‘’đi ra chỗ khác chơi mầy, đi cho mau!’’ Trong đời, chưa bao giờ tôi bất hạnh đến thế. Cũng may là t́nh trạng khốn khổ đó chỉ kèo dài khoảng một tháng thôi.

Vốn nhỏ tuổi và ốm yếu, nhưng chẳng bao lâu cả lớp con trai con gái đều nh́n nhận là thằng con nhà giàu nầy lại giỏi toán và tiếng Pháp hơn bọn chúng quá xa. Thật vậy, riêng hai môn nầy, tôi học ba năm rưởi bằng chúng học trong 10 năm. Không chắc ǵ tôi thông minh tài ba hơn chúng, nhưng chăc chắn là tôi hoc được quá nhiều giờ hơn, mà c̣n có thầy giỏi dạy, ít ra là 3 giờ mỗi ngày và 6 ngày một tuần. Đang khi đó th́ thầy giáo Chữ làm sao mà lo cho xuể 37 đứa học tṛ, chỉ nói hai môn dó thôi, c̣n ba bốn môn khác như chánh tả, luận, cách trí dù là thường thức. Có phải v́ lu bù trách nhiệm quá sức ḿnh, mà thầy luôn luôn có tật véo đít con trai cũng như con gái, những khi gọi lên bàn từng đứa một để sửa bài trước mặt cả lớp. Một cái sơ sót một cái lỗi là một cái véo đít và có những cái nhăn nhó, đau đớn, nhiều khi nuớc mắt rơi mà không dám khóc thành tiếng.

Tất nhiên tôi luôn luôn thoát khỏi dễ dàng cái tai nạn khủng khiếp đó, nhưng lại không khỏi thông cảm và chia sẻ cái bất hạnh của các nạn nhân. V́ thế mà như tự nhiên hay là v́ bản tánh hay bất b́nh tôi đă khởi sự chỉ bài cho con Loan trước, kế tiếp là cho cả bọn, không một chút có ư trả thù trẻ con mà lại rất vui sướng như là bắt gặp được một cơ hội để trả nợ, v́ thấy ḿnh may mắn hơn chúng, được gia đ́nh và xă hội đăi ngộ quá nhiều. Thật ra lúc đó tôi hảnh diện th́ có, nhưng hoàn toàn không kiêu căng, không ‘’làm tàng’’. Nhờ thế mà từ đó tất cả bọn con trai, con gái không c̣n ruồng bỏ tôi nữa, con trai sẳn sàng cho tôi tham gia các tṛ chơi của chúng, có những đứa con gái c̣n muốn dạy tôi đánh đũa là khác, tất cả đều muốn làm bạn với tôi. Con Xuân là con nhỏ ăn hiếp tôi nhứt đă bắt đầu thương tôi nhứt. (1)

(1)  Trời dong rủi thế nào mà 25 năm sau, anh ba Đước, con cô ba tôi cũng là dượng hai của nó đă dẫn nó vào Viện Hối đoái xin việc làm với tôi.. Nó ngại ngùng bao nhiêu, tôi thuơng và giúp đở nó bấy nhiêu.

 Nói như trên để thấy rằng từ thưở 9, 10 tuổi tại một cái trường tiểu học nghèo nàn ở  Láng thé đă có một sự phát triển ư thức, một sự biến chuyển tâm linh ẩn tàng trong tiềm thức chờ ngày bộc phát ra hành động cụ thể. Đó là những xu hướng có từ thiếu thời để thành h́nh khi trưởng thành. V́ thế mà tôi đă chọn con đường giáo dục, đúng hơn là đi dạy học, dạy ở đây không có nghĩa là chỉ bảo mà là chia sẻ với nhau giữa bạn bè, ‘’ mầy chia sẻ cho tao những tṛ chơi banh cao-su, đánh bi hay thảy lỗ, tao chia lại cho mầy mấy câu tiếng Pháp, mấy cái mẹo làm toán đố’’, thật là thân t́nh như là bạn bè, cũng là cái gương của anh hai Tân để lại cho tôi. Năm 19 tuổi, tôi đă đi dạy một lớp chót của trường Nguyễn trường Tộ, Vĩnh long. Năm 24 tuổi đi dạy trường Philippe Minh của Đ.C. Ngô đ́nh Thục, Vĩnh long và năm 35 tuồi dạy Đại học sư phạm, Saigon, cùng một lúc dạy hai lớp tối trường Bách khoa b́nh dân, Saigon từ 1954-1963.

-----------------------

Phân công với nhau th́ Huỳnh văn Lang sẽ là Giám đốc, Lê thành Cường sẽ là thư kư kiêm thủ quỹ, Đỗ trong Chu trách nhiệm chuơng tŕnh giảng dạy. Là Giám đốc, tôi liên lạc ngay với bộ Giáo dục và mượn trường nữ Tôn thọ Tuờng, đầu đường Trần hưng Đạo, bà Huỳnh ngọc Nữ đuơng là hiệu trưởng. Lúc đầu chúng tôi chỉ dám nghĩ đến một trường học dạy chữ dạy nghề vài ba trăm sinh viên là tối đa. Nhưng không dè trong t́nh thế chánh trị hồn quân hổn quan, hoàn cảnh xă hội dao động lúc bấy giờ do Hiệp định Genève (20-07-54) chia đôi đất nước gây ra…nhu cầu giáo dục b́nh dân bộc phát quá sự tưởng tượng. Theo tài liệu của ban quản trị hội Văn hóa b́nh dân khóa 1964-65, con số đồng bào già trẻ ghi tên theo học những ngày đầu tháng 11,1954 lên đến 7, 719 người, đủ mọi thành phần xă hội, nhưng v́ số lớp có giới hạn, chúng tôi cố gắng hết sức chỉ thu nhận được 1,275 học sinh. Và trường Bách khoa b́nh dân đă chánh thức khai giàng ngày 15 tháng 11, 1954, gồm các lớp sau đây:

Ban Văn hóa. các lớp dạy ngoại ngữ: tiếng Pháp, Anh, Nhựt, Đức, Quan thoại, Quảng đông, lớp dạy sử Việt. Có đến 4 lớp tiếng anh, 2 lớp Quảng đông)

Ban thực nghiệp: Diện kỹ nghệ, Vô tuyền Diện, Họa kỹ nghệ và Công chánh, Giám thị công trường, Quảng cáo, Y học, Máy nổ 2 th́, Kế toán, Kinh tế nhập môn, Nhiếp ảnh, Nữ công, Ước lượng viên, Trữ duợc, Tốc kư, Đánh Máy Chữ, Trợ tá, Cắt may.

Khóa học là 4 tháng rưởi, hoàn toàn miển phí và trường c̣n giúp giấy bút mực cho học sinh nghèo nào cần.

Trách nhiệm ưu tiên của Giám đốc là chạy tiền và tụ tập giàng viên thiện nguyện cần thiết và đầy đủ cho các môn đă có và sẽ mở thêm. Chính đây mới thấy được thế nào là phép lạ đă đến để giải quyết cho chúng tôi hai vấn đề thiết yếu nhứt để một mưu đồ văn hóa đuợc thành tựu mỹ măn, là tiền và tấm ḷng thiện nguyện hi sinh của giới trí thức miền Nam trong một giai đoạn lịch sử đầy bất trắc khó khăn cho xă hội, cho đất nước. Cũng không quên được cái ơn của chế độ, v́ chỉ có trong một chế độ dân chủ tự do, một sáng kiến cá nhân, một ư thức sáng tạo và những tấm ḷng thiện nguyện mới có cơ nẩy nở đơm hoa kết quả và mưu cầu lợi ích cho toàn dân, không riêng ǵ cho một giai cấp hay một đảng phái nào. Và khi nói đến chế độ, chúng tôi không thể quên ơn Thủ tướng, sau là Tổng thống Ngô đ́nh Diệm, không có hậu thuẩn vật chất và nhứt là tinh thần của Người th́ chắc chắn mưu đồ văn hóa của chúng tôi không thể nào được thành tựu mau chóng  để rồi thu lượm được nhiều kết quả tốt đẹp liên tiếp trong 2 thập niên kế tiếp như chúng ta thấy như sau.

Vốn sau khóa I, nhận thấy cần phải củng cố và phát triển mưu đồ văn hóa của ḿnh, qua năm sau (tháng tư 1955) chúng tôi thành lập hội Văn hóa b́nh dân.(1)

(1)  Sáng lập viên: Phan thị Minh Châu, Đỗ trọng Chu, Trần thị Quư, Vũ ngọc Tân, Nguyễn Được, Nguyễn Minh Đẫu, Bùi kiến Thành, Mai thị Dung, Lê phát Đạt, Lư trung Dung, Tôn thất Thiết, Trần văn Bửu, Hoàng đ́nh Qúy, Nguyễn phố Lu, Vũ ngọc Hoàn, Bùi huy Giám, Nguyễn bửu Loan, Nguyễn tấn Chức, Trần tế Dương, Nguyễn Thái, Lê Lữ, Huỳnh văn Lang, Hồ hản Hồng, Phan văn Trí, Nguyễn ngọc Pḥng, Lê đ́nh Liêm, Vũ thị Tin, Nguyễn văn Trương, Đặng phúc Yên, Vơ văn Hải, Trương thị Bảo Khánh, Trương thị Bảo Thư, Đỗ vạng Lư, Lê thành Cường, Nguyễn Xuân Diểm, Vũ văn Thái, Nghiêm xuân Đức, Trần ngọc Ninh, Bùi văn Thịnh, Bùi bá Lư, Lê văn Duyên, Đoàn Thêm và Nguyễn văn Lưu.

Ban trị sự niên khóa 1955-56: Chủ tịch: Huỳnh văn Lang, Phó chủ tịch: Nguyễn Thái, Tổng thư kư: Đỗ trọng Chu, Phụ tá TTK: Trần thị Quư. Thủ quỹ kiêm thư kư văn pḥng: Lê thành Cường. Kiểm soát viên: Bùi kiến Thành

Dưới bóng hội nầy, chúng tôi đă sáng lập hội Nghiên cứu kinh tế và tài chánh, tạp chí Bách khoa, nhà in Văn hóa, thư viện và diển đường Phan kế bính, sau hết là Ban tráng niên, chống nạn mù chữ.Vài con số sau đây để chứng minh thành quả của mưu đồ văn hóa b́nh dân của chúng tôi trong ṿng 10 năm đầu (1954-1964). Chỉ mỗi một trường Bách khoa b́nh dân Saigon/Chơlơn với 21 khóa hai ban văn hóa và thực nghiệp của nó đă giúp cho 34,753 sinh viên tiến triển trong sự nghiệp của ḿnh khả quan hơn, tức nhiên là góp công không ít vào việc xây dựng và phát triển miền Nam Việt nam. Nếu nh́n vào thành phần sinh viên tốt nghiệp th́ càng thấy khích lệ hơn nữa: 40% công tư chức, 35% thợ thuyền, 15% quân nhân và 10% nội trợ và linh tinh. Nói đến ban Tráng niên chống nạn mù chữ, th́ con số c̣n lớn hơn nữa: trong 10 năm đầu đă có 81,174 người theo học và được cấp chứng chỉ, chia ra như sau: 23,472 đậu vở ḷng, đậu bổ túc 37, 902, luyện thi tiểu học 17,555 nguời, cắt may 2,245 người. (Tất cà những con số trên đây đều lấy ra rừ tập tài liệu của Ban Quan trị niên khóa 1964-1965 để lại..

Một điều khác cũng quan trọng cần nhắc lại ra đây. Hội văn hóa b́nh dân không tập trung tất cả hoạt động của ḿnh ở vùng Saigon/Gia định mà c̣n mở nhiều chi nhánh ở nhiều tỉnh khác nữa là Đalat, Bảo lộc, Ban-mê-thuột, Phan rang, Huế, Mỹ tho, Vinh long và Sóc trăng. Trong 10 năm đầu với sự tài trợ cùa Trung ương chúng tôi, các chi nhánh hoạt động rất mạnh như chi nhánh Biên ḥa dưới sự điều hành của Giám đốc Trần xuân Roanh, chi nhánh Ban- mê-thuột dưới sự  điều hành của anh Trương đ́nh Huân, chi nhánh Bến tre với chị nghị sĩ Phan nguyệt Minh, chi nhánh Dalat với anh Bùi viết Văn…

Kết luận: Ư thức mắc nợ xă hội và lo trả nợ là động lực xây dựng và phát triển một mưu đồ văn hóa b́nh dân không phải riêng ǵ của một cá nhân mà là của một nhóm trí thức miền Nam thiện chí và thiện nguyện. Họ đă hi sinh một ít th́ giờ của ḿnh mà đă làm được một việc bất thường nếu không nói là phi thuờng, đă góp công xây dựng và phát triển miến Nam tự do và phú cường. Dù trong một thời gian ngắn ngủi 20 năm, nhưng lịch sử văn hóa văn học không thể nào không ghi tên của họ. Tuy nhiên người viết cũng không quên, ngoài những người đă ít nhiều trả nợ xă hội như nói trên, c̣n bao nhiêu người khác có khi c̣n mắc nợ hơn chúng tôi nhiều, như khi ra hải ngoại đă viết hồi kư khoe ḿnh nào là học giỏi, đỗ đạt cao ở các trường lớn như HEC, Polytechnique, Centrale, Harvard, Yale, Columbia…và đă giữ nhiều chức vụ cao lớn trong hai chế độ miền Nam, nhưng thật ra họ chỉ là những người quịt nợ, v́ họ chỉ là những phuờng giá áo túi cơm, không hơn không kém.

 

Sứ mạng văn hóa dân tộc.

(Trong bài nói chuyện ở Viện Việt học ngày 12 tháng 7, 2008, theo đề nghị của Viện chúng tôi có mạo muội thử dùng kinh nghiệm hội Văn hóa b́nh dân (1955-1975) ở V.N. trước kia làm một bài học để bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc cho người Việt hải ngoại.)

Trước hết xin sơ lược định nghĩa văn hóa là ǵ, v́ thật ra có quá nhiều định nghĩa khác nhau. Văn hóa là cách sống, cách suy nghĩ, cách giao tiếp giữa người với người, hay nhân sinh quan, cách nhin về vũ trụ hay vũ trụ quan, cách nh́n về sự vật hữu h́nh và vô h́nh hay là tín ngưỡng, ngôn ngữ, văn chuơng văn học, nghệ thuật, kỹ thuật, khoa học, tṛ chơi, giải trí, múa hát, cách xây cất nhà xửa, cách ăn uống, nấu nướng, ăn mặc v.v.…Như thế văn hóa có thể chia ra hai loại chánh: tinh thần và vật chất. Mỗi dân tộc đều có một nền văn hoa khác với dân tộc khác hoặc ít hoặc nhiều, có lắm điểm giống nhau v́ cùng một chủng tộc với nhau, cũng như có lắm điễm giông giống nhau như đỏ với hồng và có khi nhiều diểm đối chọi nhau như trắng với đen, duy vật với duy tâm. Bản chất văn hóa lá động hay biến đổi theo thời gian, theo không gian, sinh ra và phát triển không ngừng nghỉ, biết ǵn giữ cũng như biết thu nhận và bỏ đi, tuy nhiên cũng có những điểm luôn luôn tồn tại và phải tồn tại cũng như có những điều không thay đổi được, hoàn toàn bất di bất dịch và bất biến như lịch sử của ḿnh.

Sau 10 năm (1920-1930) tôi luyện vừa lư thuyết vừa thực hành ở Nga và ở Tàu, Hồ chi Minh (HCM) đă trở thành một cán bộ trung kiên của Đệ tam Quôc tế (Commintern) và với chức vụ một ‘’tông đồ’’Mac-lêninit, cuối năm 1930 ông về Hong-kong thành lập Đảng Công sản Đông dương, mưu đồ nhuộm đỏ Đông Nam Á, đầu tiên là Việt nam. Tức là chủ trương đem văn hóa Mac-leninit đi chinh phuc và chi phối các văn hóa khác, dưới danh nghĩa giải phóng các dân tộc khỏi chế độ thuộc địa của người Âu Tây, cùng một lúc đặt để các nước vào biên thùy của Đế quốc CS quốc tế. Tại sao không gọi Đế quôc là Đế quôc?

Từ đó cái quá tŕnh ‘’nhuộm đỏ’’ mà từ dây tôi gọi là thuộc dịa hóa văn hóa đă đuợc HCM và Đảng CS Đông duơng (sau đổi tên là Đảng CS V.N.) năng nổ và tŕ chí xúc tiến trong ṿng 15 năm, đưa đến kết quả cụ thể là HCM lập được căn cứ ở Pac-bo năm 1945, tức là trên đất nước của ḿnh, để rồi từ đó thành lập mặt trận Việt minh cướp lấy chánh quyền trên tay chánh phủ Quốc gia, loại bỏ các đàng phái Quôc gia, giành lấy độc quyền yêu nước, triệt để khai thác ḷng yêu nước của toàn dân để độc quyền chống Pháp, đánh đổ thực dân Pháp ở Điện biên phủ. độc quyền vinh quang chiến thắng, cướp công của toan dân, cùng một lúc vay của dàn anh Trung cộng một món nợ khổng lồ, phải cầm cố vận mạng và tuơng lai của dân tộc với hiệp định Genève 20-07-54 chia đôi đất nước, cũng là thành công đem văn hóa Mac-lêninit chinh phục và chi phối ít ra là phân nửa dân tộc V.N.. Thật sự HCM và Đảng CSVN là người bất TRI và bất TRÍ bị đàn anh Nga Tàu ép buộc hay xỏ mũi. bắt thi hành một việc mà ḿnh không muốn, biết rằng về lâu về dài quá tai hại cho dân tộc. Chiến tranh chống Mỹ cũng là theo lời đàn anh ‘’xuối ăn cứt gà’’ càng chứng minh HCM và Đảng CSVN hoàn toàn bất tri và bất trí hơn nữa, nếu không nói là ngu xuẩn như bà Duơng thu Hương đă nhiều lần khẳng định.

Đảng CSVN luôn luôn tự cho ḿnh là đĩnh cao trí tuệ loài người, nhưng luôn luôn sai lầm để rồi sửa sai, lại sai lầm nữa để rồi sửa sai nữa, chính họ nh́n nhận điều đó, chớ không phải là do ai bịa chuyện, danh từ sửa sai là của người CS, không phải là của người quốc gia tạo ra, nhiều khi họ c̣n hảnh diện về hai từ đó, nhưng chính hai từ đó lại chứng minh họ sai lầm liên miên, nhiều lần sửa sai là nhiều lần sai lầm. Thế th́ đĩnh cao trí tuệ loài người ở chỗ nào, thử hỏi? Và sai lầm là v́ bất trí bất tri hay là ngu xuẩn cũng vậy thôi. Đúng như một thường tọa ở Nha trang đă nêu đại tự trước cửa chùa: Ngu mà biết ḿnh ngu là trí, Ngu mà cho ḿnh trí th́ chính đó mới thật là ngu. Người viết lại nghĩ rằng nguời CS đă lẫn lộn cái đít thành ra cái đầu, chỉ có vậy thôi!

Cái bất tri bất trí của HCM và Đảng CSVN được lịch sử chứng minh hùng hồn qua hai sự kiện đánh Thực dân Pháp để giành độc lập và đánh Mỹ để thống nhứt đất nước. Bao nhiêu thuộc địa Pháp cũng như thuộc địa Anh đă giành được chủ quyền mà không cần phải hi sinh xuơng máu của cả một hai thế hệ thanh thiếu niên thiếu nữ như V.N. đó là chưa nói đến chuyện mất mát bao nhiêu là giá trị tinh thần, giá trị văn hóa nữa. Đánh Mỹ để thống nhứt bất chấp con đường ḥa b́nh theo Hiệp định Paris (1972-73), chẳng những đă bất tri bất trí mà c̣n bất tín, để rồi lại phải “qui mă và mă qui’’. Đâu phải là những con đường đầy vinh quang chiến thắng. Ngừơi Pháp có câu ngạn: Rira bien, qui rit le dernier! (Người cười sau cùng là người cười đúng lư, cũng có nghĩa là khoái trá)  Vậy trong hai trường hợp nói trên ai là người cuời sau hết? Tất nhiên không phải là HCM và Đảng CSVN, mà là Nga Tàu và Mỹ, nguời cười lớn tiếng và khoái trá nhứt lại là Tàu. Nguời nầy sau mấy ván bài đều thắng, c̣n thành ra chủ nợ lớn, thêm đất thêm biển, thêm cả con trai lực lưởng khỏe mạnh, thêm cả đàn bà con gái xinh xắng mắn con, muốn bao nhiêu cũng có!

Việc đánh chiếm miền Nam đă tạo ra một cơ hội ngàn năm một thuở để thống nhứt dân tộc vừa đất nước vừa ḷng người, nhưng nguời CS miền Bắc đă đánh mất đi, thật là một điều ngu xuẫn tột cùng mà chắc chắn lịch sử muôn đời không thể tha thứ được: thay v́ ḥa giải ḥa hợp để đoàn kết một dân tộc thành ra một khối duy nhứt, chẳng những để phát triển vừa nhanh vừa mạnh mà c̣n thành một lực lượng chống xâm lăng vô song như thời nhà Trần chống quân nhà Nguyên. Rất tiếc là họ lại chia xẻ sâu xa và dứt khoát hơn trước.  Vốn ngoài miệng họ gọi là giải phóng, nhưng giái phóng ai, giải phóng cái ǵ? Sự thật là để ‘’bọn ngụy, nhà cửa, tiền tài, ruộng vườn của chúng nó, ta tịch thu, vợ của chúng nó ta xài, con của chúng nó ta sai, chồng của chúng nó ta đày đi tù rục xuơng nơi rừng thiêng nước độc…( trich bài diển văn trong buổi Đaị hội chiến thắng của  chính ủy Nguyễn Hộ ngày 17 tháng 5, 1975).Đúng là một thứ thực dân mác-xít, nhà báo Lacouture gọi là autocolonisation (tự đô hộ hóa) mà người viết cho là nửa dân tộc nầy đô hộ nửa dân tộc kia mới đúng hơn. Chính sách đô hộ hay thực dân mác-xít nầy đă được Đảng CSVN  thực hiện và xúc tiến một cách triệt để với (a)chế độ tù cải tạo cho toàn thể cán bộ quân dân chính của miền Nam mà con số lên đến trên 500,000 người, bao nhiêu người đă chết trong tù và bao nhiêu nguời sống sót với bệnh hoạn thể xác và tinh thần kinh niên. Chánh sách (b)đi kinh tế mới đă phá hoại cả triệu gia đ́nh nguời miền Nam, đàn bà con gái trẻ con ông già bà cả… bao nhiêu con người tất cả đều vô tội, phải bị một đời thương tích bệnh tật thể xác cũng như nội tâm. Chủ trương (c)cuớp giựt đại qui mô con người và tài sản của miến Nam, bao nhiêu đàn bà con gái miền Nam phải lấy cán bộ miền Bắc để đổi lấy sự an toàn cho ḿnh, cho cha mẹ hay anh em con cái của ḿnh, bao nhiêu của cải từ chiếc xe đạp, xe gắn máy, máy may, nhà cửa, máy móc trang bị…được tải về miến Bắc, để rối sau đó c̣n muốn (d)tiêu diệt luôn văn hóa văn học miền Nam, đốt sách báo, cassettes, dĩa hat, CD của miền Nam. Thế kỷ 12 CN quân Mông cổ của Thành cát tư hản đánh chiếm miền Đông Âu cũng như Trung đông không bao giờ giết hại một người có chút nghề canh nông, nghề thợ mộc thợ rèn, nói chi là thầy giáo, nghệ sĩ…và luôn luôn tôn trọng văn hóa Kitô giáo và Hồi giáo, chính Hốt tất liệt (Koubilai Khan) sau khi chinh phục Trung hoa cững vẫn tôn trọng văn hóa Hán mà c̣n phát huy thêm bằng cách cho nhập cảng Phật giáo chánh thống Tây tạng và kỹ thuật khoa học của Âu Tây (đọc Marco-Polo). Nhiều lần người viết tự hỏi, không lẽ người CS miền Bắc cũng là người Việt nam lại kém văn minh hơn người Mông cổ 700 năm trước? Không lẽ nguời CS miền Bắc cũng là người anh em đồng bào lại mất t́nh người, mất luôn tính người đối với người miền Nam như thế?

Không cần suy nghĩ người viết đă t́m ra câu trả lời ngay như sau: Bao nhiêu cái sai lầm, bao nhiêu cái khốn nạn, bao nhiêu cái tiêu cực do HCM và Đảng CSVN gây ra cho dân tộc V,N, tất cả đều bắt nguồn từ cái văn hóa duy vật Mác-lêninit HCM nhập cảng từ Moscowa và từ năm 1930 Đàng CSVN đă đem truyền bá vào xă hội V.N. qua những giai đoạn lịch sử cũng là những mốc thời gian 1930 (thành lập đảng CS),1945 (Viêt minh cướp chánh quyền), 1954 (hiệp định Genève chia đôi đất nước) và 1975 (đánh chiếm miền Nam) đă chi phối văn hóa dân tộc V.N. gần như hoàn toàn, nếu không nói là đào thải hay thay thế. Không cần phải chứng minh, v́ hiện tượng dồi đời văn hóa đó đă và đang là một hiện tượng hiển nhiên gần như toàn diện và mặc định, đến đổi nguời ta trong nước không c̣n ư thức được nữa, tất nhiên cũng c̣n có một số người luôn luôn thức tỉnh.

Tuy nhiên cái quốc nạn nói trên đă gây nên một hiện tượng khác hoàn toàn bi hùng tráng, đó là hiện tượng thuyền nhân, vượt biên…chạy giặc CS của mấy triệu con người, thách đố con người CS, thách đó cả thiên nhiên để đi t́m một môi trường mới, mà ở đó họ hy vọng bảo tồn văn hóa dân tộc của họ, một thứ văn hóa duy tâm mà ông cha của họ đă dày công xây đấp từ hơn 2,500 năm nay, một thứ văn hóa nhân bản mà họ được tự do phát triển theo chiều huớng văn minh tiến bộ của nhân loại, ờ đó đầy t́nh người, đầy nhân nghĩa, chẳng những cơm no áo ấm và nhứt là đầy hiểu biết không c̣n ngu xuẫn tuyệt đối, ở đó cái dạ dày và bộ óc cũng như trái tim không c̣n bị chi phối bởi người CS vừa ngu xuẫn vừa dă man như những ai bị kẹt ở lại nhà đă kinh nghiệm! (2)

(2)  Dân Do thái bỏ Ai cập ra đi thế kỷ 11 truớc CN chỉ vào khoảng 15,000 người, thế kỷ 11 CN bà con nhà Lư chạy nhà Trần chưa tới 3,000 nguời, thế kỷ 17 quần thần nhà Minh chạy quân nhà Thanh chưa tới 5,000 người,  Người Tô-cát và Anh-cát bỏ xứ ra đi để đựơc tự do giữ đạo của ḿnh trong cả 2 thế kỷ16-17 chỉ tính đuợc hằng trăm hằng ngàn là cùng.Năm 1954 Băc kỳ di cư chạy giặc CS với tàu bè quốc tế chỉ tính  được chưa tới 900 ngàn người. Chạy giặc CS năm 1975 và mấy năm sau đă chiếm giải quán quân trong lịch sử nhân loại, chỉ tính bằng những con số thôi, c̣n nói về phuơng tiện chuyển vận th́ đúng là chuyện siêu phàm.

Từ rày (tháng tư 1975) con số mấy triệu người bỏ nước ra đi dù muốn dù không dù ư thức hay không, truớc mặt lịch sử cũng như trước mắt nhân loại họ đă mang trên người một cái lai lịch mới, một ID mới để cho thế giới nhận diện và thế giới đă nhận diện họ từ hơn 30 năm nay, đó là ID nguời chạy giặc CS. Như là một bản chất thứ hai, dính liền theo ID chạy giặc CS nầy là cái sứ mạng phải bảo tồn cho kỳ cùng cái văn hóa dân tộc mà ḿnh mang theo, v́ ḿnh đă mất tất cả ngoại trừ ra cái văn hóa dân tôc của ḿnh. Mất tất cả mà c̣n lại được cái ǵ th́ phải tŕu mến nâng niu, đó là lẽ tất nhiên. Cho nên cái sứ mạng bảo tồn hay ǵn giữ cũng là cái lẽ tất nhiên. C̣n ư thức cùng chăng lại là một lẽ khác nữa. Nhưng dù không ư thức di nữa, việc làm hằng ngày của họ đă nói lên rơ ràng họ đă dứt khoát chọn lựa giữa hai thứ văn hóa hoan toàn mâu thuẫn nhau là văn hóa ngoại lai Mác-lêninit và văn hóa truyền thống dân tộc V.N.. Đây là một bằng chứng cụ thể và điển h́nh, mà những người ‘’có mắt như mờ’’ không thấy được. Vốn sau khi chiếm đóng miền Nam, nguời CS miền Bắc đă đổi tên Saigon ra Hồ chí Minh, để nói lên cái ǵ nếu không phải là để xác nhận rằng từ rày văn hóa duy vật Mác-lêninit mà HCM là biểu tượng vĩ đại và rơ ràng nhứt sẽ ngự trị nếu không nói là thay thế cái văn hóa duy tâm của miền Nam. Nhưng người Việt hải ngoại đă và đang, nghĩa là luôn luôn phủ nhận cái tên HCM một cách mảnh liệt dù không to tiếng, nhưng luôn luôn ầm ỷ, dù không ư thức nhưng luôn luôn sống động. Người viết không nói đến những biểu diển văn hóa văn nghệ tiếng tâm và nhiều màu sắc như Paris by Night, Asia..mà là nhửng cái tên Saigon lộ liễu hay kín đáo, to nhỏ khác nhau ở khắp nơi nào có cộng đồng người Việt sinh sống và sinh hoạt hằng ngày. Người viết đă thử đếm th́ thấy trong quận Cam nầy có hơn 50 cơ sở thuơng mại hàng hóa hay dịch vụ, cả truyền thông phát thanh truyền hinh báo chí… nào là Saigon City, Saigon Bistro, Saigon Deli, Saigon Cafe, Saigon Cuisine, Saigon nhỏ, Saigon BTN, Little Saigon, Saigon Realty, Saigon Barber, Bánh ḿ Saigon, Saigon phở, Saigon Pagoda , Saigon Fashion…Chợ lớn cũng có hai ba cái. Houston Texas cũng có gần 20 cơ sở lấy tên Saigon, San José, Washington D.C., Florida v.v.đều có ít nhiều. Như thế c̣n có nghĩa là người Việt hải ngoại c̣n tha thiết với cái văn hóa, phóng khoán tự do dân chủ hơn là cái văn hóa đầy xảo trá gian dối như HCM, đầy sắt máu hận thù chia rẻ như Đảng CSVN. Thật ra chính ở trong nước người miền Nam vẫn c̣n tha thiết với văn hóa nhân bản của dân tộc mà Saigon là biểu tượng thân thuơng của họ, nên họ đă từ chối tên HCM, quá lắm th́ họ gọi tắt Thanh phố hơn là Thánh phố HCM. Thành ra HCM chỉ là một cái tên chết, chờ ngày bị gạch sổ trên bản đồ thế giới, như Lenigrad, Staligrad ở Nga, HCM làm sao hơn cha thầy của ḿnh được?

Nhưng cũng như nguời miền Nam kẹt ở lại nhà, người Việt hải ngoại không có hay là chưa có ư thức chống đối hay phủ nhận cái văn hóa hai lần ngoại lai của người CS miền Bắc đem vào hảm hiếp và ngự trị văn hóa miền Nam. Hoặc giả chỉ có ư thức một cách mù mờ thôi.

Biết rằng hoàn cảnh người chạy giặc hay tỵ nạn CS không phải ai ai cũng đuợc dễ dàng. Tuy nhiên có hai lư do bắt buộc con người VN hải ngoại phải có ư thức bao lâu mà c̣n mang theo ḿnh cái ID vừa bất hạnh vừa vinh hạnh: bất hạnh v́ hơn người vô gia cư (homeless) đă mất tất cả, vinh hạnh v́ có sứ mạng gin giữ một cái ǵ quí báu c̣n có thể giữ được và phải giữ cho kỳ được, v́ chinh tại quê nhà nó đang bị đánh mất đi một cách thảm hại, như trên mặt báo chí trong nước, cả báo Công an của Nhà nước XHCN, hằng ngày đều có nêu ra những mất mát quá lớn và quá nhiều, HCM và đảng CSVN đă xua đẩy xă hội VN vào một quá tŕnh tiêu cực như là một ṿng xoáy một chiều không sao quay ngược lại được.

Nều chưa có ư thức th́ phải làm cho có ư thức và ai là người phải đứng ra nhận lănh trách nhiệm làm cho sanh ra và nẩy nở cái ư thức sứ mạng đó? Nguời viết nghĩ đến mọi người, ai là người VN có cái ID chạy giặc CS là người có trách nhiệm phải gây ra cái ư thức đó. Người viết nghĩ đến mọi nguời và mỗi nguời, người làm cha, nguời làm mẹ, nhà văn, nhà báo, nhà giáo, thuơng gia cũng như kỹ nghệ gia, bác sĩ kỹ sư kiến trúc sư duợc sư, chị làm đầu làm nails cũng như cô bán hàng hay anh làm bếp…và nhứt là những hội đ̣an, những hiệp hội, nhửng hội ái hữu cựu sinh viên, những hội đồng huơng, hội chuyên nghiệp, học viện, hội nhà văn v.v cũng không nên bỏ qua những tổ hợp ḍng họ đại gia đ́nh như họ Bùi, họ Huỳnh, họ Đỗ…(người CS không có gia đ́nh, chỉ có Đảng; không có đồng bào, chỉ có đồng chí).Tất cả đó là những hậu cứ nếu không phải là tiền đồn để bảo tồn văn hóa dân tộc khi phải lưu vong ở xứ người.

Người viết kêu gọi mọi cá nhân, mọi đoàn thể phải đứng ra mở một chiến dịch gây ư thức sứ mạng văn hóa dân tộc của ḿnh. Biết rằng từ lâu bao nhiêu cá nhân bao nhiệu hiệp hội đă thiết tha hoạt động để bào tồn cũng như phát huy văn hóa dân tộc ḿnh, nhưng có ư thức hay không là một chuyên có khi quên đi.

Đây là một chiến dịch, chưa phải là một mặt trận văn hóa dân tộc. Nếu nguời nào c̣n mang ID chạy giặc CS mà c̣n một chút, tôi xin nói lại một chút ưu tư cho vận mạng và tương lai văn hóa dân tộc V.N. ḿnh, c̣n biết một chút bất b́nh về những cái trái ngược hay phản lại văn hóa dân tộc ḿnh đang xảy ra trên đất nuớc của ḿnh th́ tât nhiên nên đứng vào mặt trận văn hóa dân tộc nầy. Để làm cái ǵ?

Trước kia v́ ư thức mắc nợ văn hóa b́nh dân với xă hội và ư thức phải lo trả nợ mà người viết đă quy tụ được một số anh em trí thức để làm được một việc bất thường, nếu không nói là phi thường, th́ ngày nay ở hải ngoại nầy cái sứ mạng văn hóa dân tộc nầy, thiết nghĩ c̣n quan trọng hơn cái nợ văn hóa b́nh dân vạn bội. Ư thức là bắt đầu th́ nên bắt đầu bằng sự bắt đầu (Begin by and with the begining). Ư thức sẽ đưa đến hành động. Hành động thế nào, th́ đó là nội dung cho một bài khác cũng là nổi ưu tư của mỗi người chúng ta.

 Huỳnh Văn Lang

Westminster, ngày 06 tháng 12, 2008