Thương xác cùng học giả Hồ Hữu
Tường về
"Hiện tượng Trương Vĩnh Kư"
Nguyễn Sinh Duy
Bách Khoa số 404 ra ngày 5-9-1974 có
đăng bài nói chuyện của học giả Hồ
Hữu Tường tại trụ sở Văn Bút Saigon.
Chúng tôi ở xa, không được cái may dự thính
cuộc nói chuyện trên, nhưng căn cứ vào nội
dung bài đă đăng, chúng tôi rút ra được
mấy ư chính nhà học giả muốn nói về
"Hiện tượng Trương Vĩnh Kư".
1. Việc Trương Vĩnh Kư
hợp tác với quân ngoại bang xâm lăng là do hoàn
cảnh, do giáo dục, từ bên ngoài mà bao vây một thiếu
nhi, một thiếu niên rồi một thành niên. Trách
nhiệm của sự kiện đó không nên qui về cho
Trương Vĩnh Kư;
2. Trương Vĩnh Kư là một nhà
trí thức thức thời nên ông rút lui vào con đường
khai dân trí và tấn dân đức;
3. Từ một trí thức hợp tác
với quân xâm lược, Trương Vĩnh Kư hoá thành
một sĩ phu mà nhà học giả cho đó là một hoá
tŕnh.
Nhận thấy hiện tượng
Trương Vĩnh Kư nhà học giả đưa ra không
những chỉ quan hệ đến tên tuổi một
nhân vật đă nằm xuống từ lâu, mà c̣n công khai xác
định một thái độ trí thức trước
thế đứng của một công dân trong một
quốc gia, chúng tôi thấy có bổn phận thương
xác cùng nhà học giả.
Trước hết, chúng tôi có cảm
tưởng nhà học giả đă theo suy luận chủ
quan đưa ra "hiện tượng hoá tŕnh
Trương Vĩnh Kư". Tôi không muốn nói rằng nhà
học giả đă chẳng căn cứ vào các dữ
kiện lịch sử để đi tới kết
luận, bởi v́ là học giả, tất nhiên ông phải
có đọc những sách viết về Trương
Vĩnh Kư.
Như mọi người đều
biết, nền giáo dục mà Trương Vĩnh Kư hấp
thụ từ năm lên tám cho tới năm 23 tuổi là
nền giáo dục Thiên Chúa giáo. Nền giáo dục ấy
đă có công đào tạo ra một linh mục Đặng
Đức Tuấn, [1] sau này, khi Việt - Pháp khởi
cuộc giao binh, người chủng sinh của
Đại chủng viện Giáo hoàng ở Penang và cũng là
người công dân mang tên Đặng Đức Tuấn
đă phân minh giữ tṛn hai nghĩa vụ : Tổ quốc
và Đức tin. Cũng chính nền giáo dục ấy
đă vun quén tinh thần cho một Nguyễn Trường
Tộ, một đồng nhân,
môt đồng sự, một đồng nghiệp (thông
ngôn) với Trương
Vĩnh Kư, nhưng ông này "đă phải nhảy qua
tường mà tránh đi" [2] dù bị người
Pháp nài ép hợp tác.
Chúng tôi phải thưa ngay như
thế bởi v́ luận điệu qui trách nhiệm cho
hoàn cảnh và nền giáo dục mà Trương Vĩnh Kư
được hấp thụ không nhất thiết là
đúng. Nhà học giả sẽ không khỏi vặn
lại : nhưng Trương Vĩnh Kư buổi đầu
hợp tác với Pháp, dù sao ông cũng c̣n là một thanh niên
mới 23, 24 tuổi đầu, chưa đủ kinh
nghiệm già dặn như Nguyễn Trường Tộ và
Đặng Đức Tuấn, để chọn một
chính nghĩa. Vậy chớ ngày ông 50 tuổi, cái tuổi
đă qua " bất hoặc " và bắt đầu
"tri thiên mạng", Trương Vĩnh Kư vẫn
rương ḥm lẽo đẽo từ Saigon ra Huế theo
Paul Bert là một tên thực dân hạng bự, một
thứ cáo già trí thức để nài nỉ từng
đồng bạc, đưa cả bà con quen biết ra
kiếm lợi tại đất Thần kinh khiến cho nhiều người phải
ghen ghét , ngay cả Paul Bert đôi khi cũng nặng lời
[3].
Người ta có thể lầm
lạc chính nghĩa dân tộc để chạy theo danh
lợi trong buổi xuân thời, người ta có thể
bị hoàn cảnh khách quan xô đẩy phải quay lưng
lại với chính nghĩa dân tộc, nhưng một khi
đă giác ngộ, không thể không tự sửa sai, quay đầu,
nếu không đới tội lập công th́ cũng tiêu
cực lánh mặt làm thinh.
Trương Vĩnh Kư có hành
động được như vậy không hay chỉ là
một người đầy tớ trung thành (chính ông xác
nhận như thế trong các thư tờ gởi nhà
cầm quyền Pháp) của chính sách bảo hộ và
thuộc địa Pháp, suốt một chuỗi dài của
đời ông. Đó là chưa nói tới những tấm
gương chính nghĩa đă treo lên trước mắt
ông bắt đầu từ năm ông theo làm thông ngôn cho Pháp
(1860) cho đến năm ông bị hất hẳn ra
khỏi guồng máy cai trị của thực dân (1889). Không
nói đâu xa, ngay tại đất Nam kỳ là quê
hương của ông, những tấm gương chính
nghĩa sau đây đă được treo lên:
- 1862: Phan Hiển Đạo tự
vẫn ở Vĩnh Kim Đông (chợ Giữa Mỹ Tho)
v́ bị Phan Thanh Giản chê là: Thất thân chi nữ hà
dĩ vi trinh?
- 1864: Hai thiếu niên Việt Nam
bị xử bắn trước mặt một
người thông ngôn có tên là Paulus, v́ đă không chịu
chỉ điểm nơi trú binh của nghĩa quân tại
Rạch Giá;
- 1867: Trương Định bị
tên phản quốc Huỳnh Tấn bắn chết tại
G̣ Công;
- 1867: Phan Thanh Giản hối hận
uống thuốc độc để kết liễu trọng
trách toàn quyền Kinh lược;
- 1868: Phan Công Ṭng tử trận ở
Giồng Gạch; Nguyễn Trung Trực bị hành h́nh
tại Rạch Giá;
- 1875: Thủ khoa Huân bị hành
quyết tại chợ Thân Trọng tỉnh Mỹ Tho v.v...
có cần phải dẫn chứng thêm nữa không?
C̣n nói tới con đường khai
dân trí và tấn dân đức của Trương Vĩnh Kư
lại càng phải thận trọng. Những tài liệu
[4] của Soái phủ Nam kỳ (sắc lệnh, thông tư)
để lại cho đến ngày nay cho thấy ông
chỉ là công cụ của một chính sách xâm lược
bằng tinh thần (conquête morale) và một chính sách thực
dân bằng sách vở (politique de la colonisation par les livres)
của thực dân Pháp không hơn không kém.
Học giả Hồ Hữu
Tường cho những sách của Trương Vĩnh Kư
viết để "dạy dỗ người Pháp
biết ngôn ngữ và phong tục của người An
Nam" là giúp "người Pháp rành về khoản này,
ắt tránh được lắm điều đáng
tiếc", nhưng nhà học giả quên rằng, xuyên qua
nội dung các sắc lệnh, thông tư của Soái phủ
Nam kỳ, chúng chính là con đẻ của chính sách
"Nghiên cứu truyền thống bản xứ, đào
xới thuộc địa" để t́m hiểu mà cai
trị của thực dân Pháp.
Bonard là người tiên khởi
đề xướng và áp dụng chính sách này tại Nam
kỳ. Trong phúc tŕnh gởi Bộ trưởng Hải quân
Pháp, Bonard viết :"Sự cai trị do người
bản xứ dưới sự kiểm soát của chúng ta,
theo ư tôi là phương sách độc nhất để
giải quyết vấn đề. Nếu, để lo cho
các chi tiết của hành chánh an-nam-mít, ta đem tới
đây một số sĩ quan mà đa số không am
hiểu ngôn ngữ và phong tục bản xứ th́ ta sẽ
tạo nên một t́nh trạng hỗn loạn". [5]
Chính trong chính sách đó mà cơ quan
Bản xứ Sự vụ (Service des Affaires indigènes),
Trường Thông ngôn (Collège des Interprètes) và Văn pḥng Trung
ương An Nam (Bureau Central Annamite) được thành
lập. Trương Vĩnh Kư vừa dạy tại
trường Trường Thông ngôn, vừa cộng tác
với cố Legrand de la Liraye - người điều
khiển Văn pḥng Trung ương An Nam - phiên dịch và
biên tập các tài liệu cổ An Nam. Nh́n toàn bộ sự
nghiệp trứ thuật của Trương Vĩnh Kư
từ 1864 cho đến 1894, [6] hẳn thấy nội dung
những sách đó không đi ra người chủ đích
"nghiên cứu để cai trị" của người
Pháp.
Có thể phân loại chúng như sau :
a) Loại cẩm
nang giao dịch giữa người Pháp và người
Việt Nam.
Đây là một định lệ
không thể tránh khỏi khi có một quân đội
ngoại nhập, hoặc ngược lại. Từ đó
nảy sinh ra hạng trí thức thông ngôn và những
người làm văn hoá nô dịch [7]. Trương Vĩnh
Kư, trong hoàn cảnh va chạm giữa hai ngôn ngữ,
với ưu thế mẫu tự la-tinh (chữ quốc
ngữ) và phương tiện ấn loát trong tay, ông là người Việt Nam duy
nhất vào thời đó, cho ra đời loại sách trên.
Và người ta sẽ không lấy làm lạ khi thấy
những cuốn sách dầu tiên thuộc loại này của
ông đều do Trường Thông ngôn và nhà in Nhà
nước ấn hành.
b) Loại nghiên
cứu truyền thống bản xứ
Công cuộc này trước hết do
hai cơ quan Bản xứ Sự vụ và Văn pḥng Trung
ương An Nam đảm nhiệm. Cứ tám ngày, các Nha
Bản xứ Sự vụ lại đúc kết một
bản phúc tŕnh về các công cuộc khảo cứu sâu
rộng từ phong tục tập quán cho tới các cơ
cấu tổ chức của dân bản xứ, gởi
về Tổng Tư Lệnh. Quân viễn chinh Pháp,
bước đầu đặt chân tới đây,
tất cả cơ hồ xa lạ đối với
họ. Để t́m hiểu, họ phải vận
dụng, moi móc tất cả những hiểu biết
của các nhà truyền giáo ghi chép về mảnh đất
này.
Là phụ tá đắc lực cho
cố Liraye, Trương Vĩnh Kư là người Việt
đầu tiên có đủ tư thế lấp đầy
những thiếu sót mà cố Liraye - qua những "Trang
sử ghi về nước An Nam" (Notes historiques sur la
nation annamite) của ông - chỉ có thể tŕnh bày một
cách hời hợt, sơ đẳng và ngoại diện
đối với xứ sở từng có những ngàn
năm lập quốc. Với ng̣i bút của Trương
Vĩnh Kư, những công tŕnh phiên dịch các bản văn
cổ An Nam và công cuộc nghiên cứu cơ cấu xă
hội Việt Nam được tập hợp một
cách có hệ thống, đặc biệt rất quan
trọng (plus signalés), rất chính xác cũng như rất
khích lệ cho những yêu cầu đúng lúc (la plus précise et
la plus heureuse aux besoins du moment) đối với các nhà cai
trị Pháp đương thời [8]. Thật vậy,
đối với lịch sử Việt Nam từ
trước ngày, qua ng̣i bút của các nhà truyền giáo,
người Pháp chỉ t́m thấy những điều
sơ đẳng và manh mún của một nền văn minh
đóng khung, th́ với những đóng góp dồi dào qua toàn
bộ sự nghiệp trứ thuật, Trương
Vĩnh Kư đă thật sự thoả măn được
những hiếu kỳ chính đáng (légitimes curiosités)
đồng thời lấp đầy cái khoảng
trống trầm trọng mà người Pháp đă lúng túng
khá nhiều khi mới đặt chân tới đất Nam
kỳ cũng như muốn đào xới cái quá khứ
của một thuộc địa [9].
Trở lên, là những loại sách
chỉ đ̣i hỏi một kiến thức tổng quát
rộng răi kèm theo một ít thông minh là có thể thực
hiện được. Nhưng đối với
Trương Vĩnh Kư, ông c̣n hăm hở đi xa hơn
nữa, mon men vào các lănh vực chuyên môn như địa
lư, canh nông, thực vật học v.v... Sức làm việc
của ông quả là phi thường, song tiếc thay cái
chủ đích đầu tiên khi viết những sách
đó, ông không nhằm đáp ứng nhu cầu văn
học, học thuật của dân tộc mà, thật ra
chỉ nhằm thoả măn những yêu cầu khéo léo và kín
đáo của người Pháp đang trên đường
đào xới thuộc địa để chinh phục,
cai trị và khai thác. Điều người ta đă
đưa ông lên hàng bác học với những công tŕnh
khảo cứu về chim muông, thảo mộc, sâu bọ
cũng như về kỹ thuật canh nông bản xứ,
thật ra chỉ là sự đóng góp cho những yêu cầu
đầy khích lệ của cái gọi là ”Uỷ ban nghiên
cứu phát triển Canh nông và Kỹ nghệ Nam kỳ"
(Comité Agricole et Industriel de la Cochinchine) [10] mà chủ đích
sâu xa của nó không ǵ khác hơn là đưa
đường chỉ lối cho thực dân khai thác lâu dài
mảnh đất chiếm cứ này.
Gia dĩ, người ta
được biết thêm rằng các công tŕnh biên thuật
về sử kư, địa lư bản xứ của
Trương Vĩnh Kư là do có lời yêu cầu của
"Hội Địa lư Ba-lê" [11]. Và hầu hết
những công tŕnh đó đều được nhà in Nhà
nước (Imprimerie du Gouvernement local) và cơ sở ấn
loát của Nhà Ḍng Tân Định chăm lo ấn hành.
Một vài cuốn sách của Trương Vĩnh Kư đă
trở thành tài liệu bảo mật và sở hữu riêng
của nhà nước và nhà Ḍng như tập Dư
đồ thuyết lược chẳng hạn.
Người viết những loại sách này, dù yếu kém
về kiến thức chuyên môn, nhưng bằng sự
hăng say của tuổi trẻ và sự hiếu kỳ
tài tử (d'une curiosité de dilettante), ít ra cũng đă "tóm
lược được cho những người
ngoại quốc mới đến những cống
hiến cơ bản liên quan đến mảnh đất
này, gia dĩ đă trải ra một cách cực nhọc
trước mắt họ, những cống hiến, cho
đến lúc đó, muốn nghiên cứu phải nhờ
vào những bản đồ do Dayot, Brun dựng lên ở
thế kỷ XVIII và Giám mục Taberd, đầu thế
kỷ XIX." [12]
c) Loại phổ
biến chữ quốc ngữ
Trước Trương Vĩnh Kư,
chữ quốc ngữ là một phương tiện
truyền đạo của các thừa sai nhằm thuận
tiện hoá ngôn ngữ và văn tự trong sự tiếp
xúc và rao giảng thánh kinh cho người bản xứ.
Trong buổi sơ thời ấy, bằng khối óc sâu
sắc của người cán bộ (cán bộ chính trị
hay cán bộ tôn giáo cũng thế), chữ quốc ngữ
được sử dụng như là cách thế tốt
nhất để triệt tiêu dần dần tư
tưởng Tam giáo vốn đă ăn sâu mọc rễ
trong các kinh điển, cổ thư được gói ghém
qua tự dạng chữ Nho và chữ Nôm. Người
thầy giảng cũng như con chiên bản xứ
bắt buộc phải làm quen với thứ chữ
mới là mẫu tự la-tinh và loại bỏ cái h́nh thái
văn tự ngoằn ngoèo từ các ngoại điển của "ngoại
đạo", v́ nếu
không, họ sẽ quay trở lại ư thức
truyền thống "An Nam xưa" [13].
Măi cho tới thời Trương
Vĩnh Kư, chữ quốc ngữ chỉ được
lưu hành thu hẹp trong phạm vi các giáo đoàn và
được dùng để biên chép những tín lư, thánh
kinh, hoặc đi xa chút nữa, các sứ đồ
của Chúa dùng nó để viết thư tín, hồi kư hay
báo cáo liên quan đến công cuộc rao giảng và gieo
rắc ánh sáng Thiên Chúa thôi.
Thế nhưng, từ 1862 trở
đi, nghĩa là sau khi ḥa ước Nhâm tuất
được kư kết và người Pháp bắt
đầu đặt nền móng cai trị tại ba
tỉnh miền Đông Nam kỳ, th́ chữ quốc
ngữ trở thành công cụ cho "chính sách thực dân
bằng sách vở" của xâm lược Pháp, và hơn
thế nó c̣n được coi như văn tự chính
thức cho các giấy tờ hành chánh, tư pháp và
thương mại của nhà cầm quyền thuộc
địa.
Trong thư văn đề ngày
15-1-1866 gởi cho quan bố Saigon (do Soái phủ bổ
nhiệm), Giám đốc Nội vụ Paulin Vial có viết
: "Từ những ngày đầu, người ta (Pháp)
đă hiểu rằng chữ Hán c̣n là một `ngăn
trở giữa chúng ta và người bản xứ ; sự
giáo dục bằng thứ chữ tượng h́nh khó
hiểu làm chúng ta rơi tuột hoàn toàn ; lối viết
này chỉ tổ khó cho việc truyền đạt
đến dân chúng những điều tạp sự
cần thiết có liên quan tới khung cảnh của
nền cai trị mới cũng như cho việc
thương mại. Chúng ta bắt buộc phải theo
truyền thống nền giáo dục riêng của chúng ta ;
đó là cách duy nhất khiến chúng ta có thể gần
gũi người An Nam thuộc địa hơn, ghi vào
tâm năo họ những manh mối của nền văn minh Âu
châu đồng thời cô lập họ khỏi ảnh
hưởng đối nghịch của các lân quốc
của chúng ta". [14]
Thế là, từ nơi thâm nghiêm
cẩn mật của các giáo đoàn, chữ quốc
ngữ đă vượt ngưỡng cửa Nhà Chung
để len lỏi rộng răi vào các tầng lớp dân
gian Việt Nam, dưới sự phối trí và chỉ
đạo cao kiến của các giáo sĩ và các nhà cai
trị thông thái Pháp. Trong sự trù tính của họ,
việc cho áp dụng và phổ biến chữ quốc
ngữ không ngoài hai chủ đích :
- Thui chột sự dùng chữ Nho và
chữ Nôm là phương tiện chuyên chở và nuôi
dưỡng tinh thần quốc gia thấm nhuần từ
các hệ tư tưởng truyền thống lâu
đời. [15]
- Định lại một văn
thể hành chánh, tư pháp và thương mại trong đó
chữ quốc ngữ được coi là văn tự
chính thức (écriture officielle).
Mà muốn áp dụng và phổ biến
chữ quốc ngữ vào dân gian, không ǵ hơn là chuyển
ngữ ngay nền văn chương truyền khẩu b́nh
dân, tức là những áng văn cùng là truyện tích rất
được ưa thích đối với họ [16] gia
dĩ, nhằm đạt tới cứu cánh (phổ
biến chữ quốc ngữ), những sách căn bản
đạo lư gia đ́nh Việt Nam (cũng là đạo lư
Trung Hoa) cũng đă được đem ra phiên dịch
bằng thể văn vần chữ quốc ngữ. Eliacin
Luro, một thanh tra Bản xứ Sự vụ, trong phúc
tŕnh đề ngày 6-1-1873, đă cho thấy mục tiêu này :
"Từ lâu, tôi thỉnh cầu
một cách vô hiệu rằng người ta phải phiên
dịch, dưới sự chăm sóc của một
Hội đồng có đủ quyền hành, lịch
sử nước An Nam và những sách cao quư của
triết lư Trung Hoa. Người dân, ít nghe tiếng quan
thoại, vào tŕnh độ họ sẽ rất sung
sướng có được những cuốn sách dịch
bằng ngôn ngữ thường ngày của họ một
cách thanh nhă. Họ sẽ mua, sẽ đọc những
cuốn sách đó. Trong số các thừa sai và viên chức
của chúng ta, chúng ta có nhiều người đủ
khả năng để hoàn thành những sách dịch thanh
nhă từ tiêng quan thoại ra tiếng nói hằng ngày".
[17]
Trong mưu tính đó, Trương
Vĩnh Kư với sở đắc quốc ngữ từ
nơi cụ Tám, cố Hoà, cố Đoan qua các giáo sĩ
khác, cộng thêm cái vốn thông dịch hiếm hoi buổi
sơ thời, ông đă được nhà cầm quyền
thuộc địa yêu cầu đảm nhiệm công
cuộc phiên dịch. [18] "Tất cả những
bản văn ông chuyển từ chữ Hán sang chữ
quốc ngữ chẳng có mục đích nào khác hơn là
làm cho dân chúng An Nam áp dụng lấy mẫu tự la-tinh và
đồng thời thui chột sự dùng quá nhiều
chữ Hán ngay cả trong văn chương bằng
quốc ngữ ; những
bản văn ấy đă đáp ứng được
sự mong mỏi, kể từ khi có cuộc chinh phục,
được tiên định bởi các nhà Đô
đốc cai trị và do Giám đốc Nội vụ,
Paulin Vial, đă đo lường những trở ngại
mà sự biểu ư bằng văn tự sẽ phải manh
nha giữa dân tộc Việt Nam và người Pháp".
[19]
Kết quả công tŕnh phổ biến
chữ quốc ngữ của Trương Vĩnh Kư
thật sự qui mô và công khai khi Đô đốc Ohier kư
nghị định ngày 16-9-1869 trao toàn quyền tờ Gia
Định Báo, tờ báo đầu tiên trên đất
Việt, cho ông quản nhiệm với chủ đích
đẩy mạnh chính sách thực dân bằng sách vở,
báo chí ; và nó đă thật sự chín mùi khi Trương
Vĩnh Kư bước chân vào cái gọi là "Hội
đồng Học chính cao cấp" (Commission supérieure de
l'Instruction publique) bằng một nghị định
của chính quyền thuộc địa ngày 17-11-1874.
o0o
Người làm văn học cũng
như người viết văn học sử, dù
đứng trên quan điểm nào đi nữa, cũng
không thể xa rời căn bản dân tộc. Một công
tŕnh văn học giá trị phải là một tập
hợp những chất liệu bắt nguồn từ
thực tại sinh hoạt vật chất và tinh thần
đích thực của dân tộc.
Đối với Trương Vĩnh
Kư, nh́n lại toàn bộ sự nghiệp trứ thuật
của ông, ta không khỏi tiếc rẻ khi nhận ra
rằng tài năng "đứa con đất Nam
kỳ" đă đi hoang theo tiếng gọi của
người thầy mẫu quốc. Không kể tới
loại sách "cẩm nang giao dịch" vốn là
một nhu cầu cấp thời, giai đoạn, các công
tŕnh biên tập và khảo cứu của ông đều
được viết ra theo lệnh hoặc do sự
khuyến khích chỉ dẫn của quan thầy. Nếu bảo đó là công tŕnh
"đào xới thuộc địa" của những
Aubaret, Luro, Vial, Silvestre, Philastre Liraye v.v... cũng không sai
mấy ; duy có điều khác biệt là, thay v́ dùng nhăn quan
của người ngoại quốc trí thức thực
dân, Trương Vĩnh Kư đă cấu tạo tác phẩm của
ông bằng nhận định và cảm nghĩ xác thực
của một người bản xứ. Chính đó là
sự thiếu sót trầm trọng nếu không nói là
bất lực đối với những ng̣i bút ngoại
quốc khi đi sâu vào truyền thống bản xứ.
Tuy nhiên, nhờ sự chuyển
biến, đưa đẩy của lịch sử và
văn học, các ng̣i bút nói trên đă gặt chung một
kết quả, đối với những thế hệ
cầm bút về sau. Những công tŕnh của lớp trí
thức thực dân ngoại quốc và trí thức tay sai
bản xứ (dĩ nhiên trong đó có Trương Vĩnh
Kư) vô h́nh trung đă trở thành những tài liệu nghiên
cứu lịch sử và văn học tối cần cho
kẻ hậu học muốn t́m lại vang bóng của
một thời. Và như thế, cái chủ đích đầu tiên "nghiên cứu
để cai trị" hoá ra là kết quả tốt cho
việc học và nghiên cứu của một số
người làm văn hoá. Điều ấy không có ǵ
lạ. Trong t́nh trạng nền học cũ bị
thực dân đẩy vào bóng tối và chữ quốc
ngữ dần dần chiếm ưu thế với
chương tŕnh giáo dục do thực dân áp đặt và
duy tŕ suốt thời đô hộ, con đường
văn hoá dân tộc ít nhiều cũng bị lái sang một
hướng khác. Thật Nguyễn Đ́nh Chiểu đă có
cái lư của ông khi lên tiếng công kích việc học và
phổ biến chữ quốc ngữ trong buổi
đương thời. [20]
Hiểu như vậy để
thấy rằng, trong khi Nguyễn Đ́nh Chiểu, Phan
Văn Trị cùng các chiến sĩ văn hoá khác viết
nên những thi văn rực cháy ḷng yêu nước từ
bên kia luỹ tre kháng chiến th́, tại Saigon, Trương
Vĩnh Kư hoàn toàn quay lưng lại với thực tại
đất nước để kể Chuyện đời
xưa, Chuyện khôi hài, hơn thế, giống như Tôn
Thọ Tường "khuyên đàn con trẻ chớ thày
lay" ông bảo những người yêu nước
Việt Nam Bất cượng, chớ cượng làm
chi [21] ; và mỉa mai biết
bao khi nghe ông giảng Tứ thơ, Đại học, Trung
dung, Luận ngữ, Minh tâm, Sơ học vấn tân [22]
... Có khi nào ông
đă hỏi lại chính ḷng ḿnh những điều sơ
học ấy của Khổng - Mạnh? Có lư nào một nhà
trí thức vừa đề cao tư tưởng giữ
nước yên nhà, lại vừa theo ngoại xâm để
vinh thân và ph́ gia? [23]
Sẽ không khỏi có người
đặt câu hỏi : Nhưng dù sao Trương Vĩnh Kư
cũng là người có công lớn trong văn học,
nhất là văn học chữ quốc ngữ ?
Điều này cần minh thị : Trương Vĩnh Kư
chỉ có công trong công cuộc phổ biến chữ
quốc ngữ, tức là cái h́nh thức của nền văn học
chữ quốc ngữ, c̣n cái nội dung của nền
văn học đó không nằm trong tay ông mà chính ở
lớp sĩ phu Văn thân, Cần Vương bị
đánh bại bằng vơ lực để rồi cất
lên tiếng nói, lời giảng trong Phong trào duy tân, Đông
kinh nghĩa thục... Đó mới chính là cái truyền
thống học thuật :
"Khổng
- Mạnh cương thường nên tạc dạ
Tây
Âu khoa học phải ghi ḷng”
Chỗ đứng của
Trương Vĩnh Kư vẻ vang và đồ sộ không
phải trên văn đàn dân tộc Việt Nam mà chính ở
trong nền văn chương thuộc địa (une
littérature coloniale) của người chính quốc và
những ng̣i bút phục vụ quyền lợi thuộc
địa. Định lại vị trí của
Trương Vĩnh Kư, ấy là trả lại sự công
bằng cho lịch sử đồng thời cũng là
sự công bằng của quốc gia.
Như vậy, từ trước
đến sau, từ đời chính trị cho đến
sự nghiệp văn chương, đâu là con
đường khai tân trí và tấn dân đức, đâu là
hoá tŕnh từ một trí thức hợp tác đến
một sĩ phu ? Không lẽ một nhà học giả
như ông Hồ Hữu Tường lại đi đùa
cợt chân nghĩa hai tiếng Sĩ phu ? Chưa thôi, ông
Hồ c̣n ỡm ờ đem cái việc cụ Đồ
Chiểu ra lệnh cho cô con gái Nguyệt Anh cô chép trọn
bài sắc của vua Đồng Khánh phong Hàn lâm Thị
độc Học sĩ cho Trương Vĩnh Kư nhằm
lấy uy tín của một chiến sĩ văn hoá dân
tộc bất khuất mà củng cố cho một
"ngụy" danh. Cụ Đồ Chiểu bảo con
gái chép bài sắc của Đồng Khánh là ư riêng của
cụ, chẳng ăn nhập ǵ đến sự việc
"Nam đổi làm Tây, chính lại tà" (thơ
Đồ Chiểu) của họ Trương. Không lẽ
nhà học giả chính hiệu Hồ Hữu Tường
bảo với mọi người rằng ông A, ông B kia
cũng là học giả, là mọi người nghe theo ngay
sao, hay là phải đi truy xét lại cái thực chất
của ông A, ông B ? Và chắc chắn học giả Hồ
Hữu Tường đă thừa biết Đồng Khánh
được ai tấn phong lên ngôi, cùng với tư
thế của ông ta vào những năm 1885-1888.
o0o
Đối với ông Hồ Hữu
Tường, thú thật, từ lâu chúng tôi có ḷng kính
trọng. Chúng tôi kính trọng không phải v́ cái "học
giả" mà chính là nhăn hiệu "dân tộc" của
ông. Quả thế, suốt đời ông, nghĩa là
suốt cái thời gian mà hết thực dân cũ tới
thực dân mới ngự trị trên đất
nước này, con người ấy chưa từng
một lần đi với ngoại nhân hoặc a ṭng
với tay sai quyền thế của ngoại nhân. Những
năm tù đày của ông đảm bảo cho lời nói
đó.
Thế nhưng, cũng thú thật, là
chúng tôi không khỏi ngạc nhiên khi thấy chính ông Hồ
lại đưa ra một thái độ nhập nhằng
về "hiện tượng Trương Vĩnh Kư"
như thế. Nếu v́ một ư t́nh nào nhằm bảo
vệ tên tuổi cho một cá nhân trong suốt ḍng lịch
sử hỗn độn th́ không nói làm ǵ, đằng này ông
đem một hiện tượng không mấy chính danh ra mà
"giải quyết" rồi ông bảo các nhà trí
thức "nghiền ngẫm" th́ thật là danh không
chánh, ngôn chẳng thuận chút nào.
Dạo nọ có nhà phê b́nh, khi nói
về tiểu thuyết Thuốc trường sinh của
ông, cho tinh thần ông Hồ Hữu Tường không
được b́nh thường, và đoán rằng có
lẽ do những ẩn ức sinh lư của những
năm ngồi tù Côn Đảo mà ra. Lại có người
bảo ông là một người quá giàu thị kiến,
tư tưởng thường đằng phi trên những
ṿm trời phi tưởng và phi phi tưởng. Nhưng
chắc chắn hơn cả là lần [24] tôi được
nghe chính ông bảo ông là con người rất tếu,
như một Phi Lạc sang Tàu, đại náo Hoa Kỳ
rồi bỡn Nga...
Nhưng xin thưa với tác giả
bài "Hiện tượng Trương Vĩnh Kư"
đúng như lời ông viết: "Cái hiện
tượng này, xét trong khuôn khổ thời sự ngày nay,
trở nên là một vấn đề vĩ đại vô
cùng".
Chú thích:
1. Nguyên du học ở Penang, khi về
Việt Nam phụ tá cho Giám mục Cuénot ở địa
phận Qui Nhơn. Sau phong Linh mục G̣ Thị. Năm 1858,
Pháp tấn công cửa Đà Nẵng, triều đ́nh
Huế cấm đạo gắt gao hơn ; cha Tuấn
đă viết "Việt Nam
giáo sử diễn ca" và "Lâm nạn Phụng Quốc hành" cùng nhiều
áng thi văn khác để bày tỏ lập trường
của một giáo dân trước nạn xâm lăng của
quân Pháp. Đáng kể nhất là
"Hoành mao biến b́nh
Tây sách"(sách lược đánh b́nh giặc Tây của
một kẻ sĩ ở nhà tranh) đă lọt đến
mắt vua Tự Đức ; nhà vua cho vời vào nội
hỏi phương lược giữ nước và
đối xử với đạo Công giáo, Linh mục
Tuấn đối đáp trôi chảy mọi việc.
Đến năm 1862, nhân cuộc nghị hoà tại Saigon,
cha Tuấn được vua Tự Đức dùng như
là thông ngôn (gọi là quan Khâm) của phái đoàn Phan Thanh
Giản, Lâm Duy Hiệp. Sau hoà ước 1862, cha Tuấn
trở về B́nh Định và lo việc đạo cho
đến khi chết vẫn giữ được
tiếng "Minh Đạo Bảo Quốc".
(Xem: - A. Delvaux, Mgr Pellerin, Nazareth Hong Kong, 1937, tr. 78
-
Đặng Đức
Tuấn, Tinh hoa Công giáo ái quốc Việt Nam của Vơ
Ngọc Nhà và Lam Giang, 1970).
2. "Tôi (Nguyễn Trường
Tộ) quyết từ cho được. Ḥi ấy (1861) bè
bạn tôi đều cười là ngu dại ; họ
cứ cho người ép tôi làm, tôi phải nhảy qua
tường mà tránh đi. Họ thấy tôi bền ḷng
như thế, liền lấy quan chức mà dỗ dành, tôi
phải trả lời :"Làm quan (tân trào) th́ có
lương bổng, không làm quan th́ phải cực khổ,
chỉ làm một kẻ vơ vẩn, nhưng tôi thà làm
một kẻ vơ vẩn chứ không muốn làm quan"
(Điều trần ngày 2 tháng 5 năm Tự Đức
thứ 24 (1871) - Xem Nguyễn Lân, Nguyễn
Trường Tộ, Viễn Đệ Huế, tr. 24).
3. Xem các thư giao dịch giữa
Trương Vĩnh Kư và Paul Bert trong "Pétrus Trương Vĩnh Kư, Érudit cochinchinois"
par Jean Bouchot, 1925.
4. Xem Nguyễn Văn Trung, "T́m hiểu văn, chữ
quốc ngữ thời kỳ đầu Pháp thuộc",
tài liệu quay ronéo. In thành sách tháng 1-1975 do Nam Sơn
xuất bản.
5. Trích dẫn theo Nguyễn Thế Anh,
Việt Nam dưới thời
Pháp đô hộ, Lửa Thiêng xb, tr. 131.
6. Kể năm cuốn sách
được ấn hành đầu tiên là Abrégé de grammaire annamite (1864) cho đến những
cuốn sách được công bố sau cùng vào 1894.
7. L. Cadière nhận xét về
Trương Vĩnh Kư với thư loại "Cẩm
nang giao dịch" của ông, có viết :"Một tác giả đă có công
rất lớn đối với những người Pháp
đầu tiên học tiếng An Nam" (Souvenirs d'un
vieil Annamitisant, tạp chí Indochine, số 216 ngày 19 Octobre
1944).
8. Bouchot, sđd, tr. 25.
9. Bouchot, sđd, tr. 28.
10. Do đô đốc Rose cho phép thành
lập ngày 16-6-1865 và bức thư phúc tŕnh công cuộc
nghiên cứu đầu tiên của Trương Vĩnh Kư
về các loại kiến được đăng
tải trên Kỷ yếu của Hội, tập I, số IV
năm 1866.
11. Bouchot, sđd, tr. 25, chú thích (4).
12. Bouchot, sđd, tr. 26.
13. Lanessan viết trong Les Missions et leur protectorat, tr.52 : "Tôi c̣n giữ
trong tay một thư của Giám mục Puginier, trong đó,
ngài tŕnh bày mục đích việc phiên âm La Mă một cách
thật rơ rệt. Ngài nói khi thay thế chữ Nho bằng
chữ quốc ngữ, Hội Thừa sai nhằm mục
đích cô lập các giáo hữu. Những người này
sẽ không c̣n có thể đọc được những
tác phẩm dễ đọc nhất của Trung Hoa và
cũng không thể thư từ ǵ được với
bất cứ sĩ phu Tàu hay Ta nào. Được giáo
dục như thế, các thầy người bản
xứ sẽ chỉ có thể đọc một số hiếm
những sách do các thừa sai viết bằng quốc
ngữ cho họ dùng và trong đó chỉ bàn đến
những vấn đề thuần tuư tôn giáo" (trích
dẫn theo Nguyễn Văn Trung, Chủ
đích Nam Phong, tr. 189).
14. Trích dẫn theo Bouchot, sđd, tr.
36-37, chú thích (2).
15. Thật vậy, ngày mà Bonard, v́
đường lối cai trị gián tiếp khéo léo, đă
cho tái lập toàn bộ cơ cấu tổ chức xă
hội và học thuật cũ "An Nam" th́ lập tức,
người phát ngôn của Hội Thừa sai là Adrien Launay
lên tiếng công kích "Bonard
cho tổ chức dạy lại chữ Nho và cho lập lại
những bằng tước cũ của tiến sĩ và
cử nhân mà không tự hỏi rằng tốt hơn là
phải tách xa người An Nam những ǵ có thể
củng cố họ trong những tư tưởng
quốc gia và do đó dẫn tới sự bài Pháp"
(J. Chesneaux, Contribution à l'histoire
de la nation vietnamienne, tr. 115).
16. Vũ Ngọc Phan đă nhận
định rất đúng khi viết : "Hồi đó, ông (TVK) cần
phải xuất bản như thế, cốt dùng những
chuyện phổ thông làm cái lợi khí cho chữ quốc
ngữ được lan rộng trong dân gian..." (Nhà văn hiện đại,
q.I, tr. 27).
17. G. Taboulet, La Geste Francaise en Indochine, tr. 594.
18. Bouchot, sđd, tr.32.
19. Bouchot, sđd, tr.32.
20. Nói như thế không có nghĩa là
phủ nhận sự tiện lợi của chữ
quốc ngữ, mà ở đây, nó được nh́n
nhận như một lợi khí truyền đạo và
đồng hoá văn tự của các giáo sĩ và thực
dân xâm lược buổi đầu.
21. Những hàng chữ nghiêng là nhan
đề những sách do Trương Vĩnh Kư viết ra.
22. Người có ḷng với
nước chẳng khi nào bắt cá hai tay được
cả công lẫn lợi, và cả danh tiếng nữa,
nếu thế th́ là quân giả dối cả" (Phan Châu
Trinh)
23. Hai câu đối trước
cổng trường Pétrus Kư Saigon :
Khổng Mạnh cương
thường tu khắc cốt
24. Buổi nói chuyện "Làm thế
nào học giỏi" do Hội Khuyến học Đà
Nẵng tổ chức tại thính đường Hội
Việt-Mỹ mấy tháng trước đây.
Tây Âu khoa học yếu minh tâm.
(Tạp
chí Bách Khoa số 416 PIII. XVI-1974)