Huỳnh Văn Lang và tác phẩm
"Đă hơn 30 năm rồi"
Nguyễn Thanh Liêm
Huỳnh Văn Lang là
một trong những nhân sĩ, trí thức có tiếng ở
Miền Nam. Xuất thân từ một gia đ́nh
gốc nhà quan có công lớn đối với triều Nguyễn
thời Gia Long - Minh Mạng – Thiệu Trị, và cũng là
một gia đ́nh đại điền chủ ở
Miền Tây thời trước 1945, với quá tŕnh học
vấn tân tiến vừa cao xa vừa sâu rộng ở các
nước Tây Âu, ông đă từng là một công chức cao
cấp của chánh phủ Việt Nam thời Đệ
Nhất Cộng Ḥa, một nhà kinh doanh lớn ở Sài
G̣n, một chủ nhân ông của một ngân hàng tư quan
trọng, và là một nhà văn hóa giáo dục có nhiều
thành tích tốt đẹp. Tính người ngay thẳng,
bộc trực, khí khái anh hùng, thiết tha gắn bó với
bà con, anh em, với quê hương xứ sở, với
lịch sử, văn hóa nước nhà, ông đă
để nhiều công phu sưu tầm, nghiên cứu
viết lách, đem lại sự công bằng, rọi thêm
ánh sáng cho một số vấn đề liên hệ tới
lịch sử cũng như cuộc sống của
người dân Việt.
Tác phẩm mới nhất
của ông là quyển “ĐĂ HƠN 30 NĂM RỒI
(V.N. DU
KƯ 2006)”. Sách dày 293 trang và gồm ba phần: phần.
Một là phần đi thăm bà con, phần Hai
là phần Du Kư, và phần Ba là phần tiếng nói của
người dân với lời kết luận của tác
giả về ông Hồ Chí Minh và chủ nghĩa xă hội
của ông ta. Hai phần đầu của quyển sách là
phần tôi chú trọng nhiều nhất trong bài nhận
định này.
Sách do chính tác giả tŕnh
bày và xuất bản với h́nh b́a độc đáo là h́nh
phân nữa lá cờ
đỏ sao vàng của Cộng Sản Việt Nam, nằm
bên phân nữa nền vàng tượng trưng cho
nước Việt tự do. Theo sự giải thích
của tác giả th́ đây là h́nh ảnh diễn tả hoàn
cảnh thực sự đă và đang xăy ra ở Việt
Nam từ 1975 đến giờ: Miền Bắc cai trị,
đô hộ Miền Nam. Hai tiếng Miền Bắc và
Miền Nam ở đây, theo tác giả, không mang ư nghĩa
miền địa lư mà mang ư nghĩa ư thức hệ,
một bên là chủ nghĩa Mác-Lê và và một bên là chủ
nghĩa tự do, dân chủ. Miền Bắc chỉ
Cộng Sản Bắc Việt theo chủ nghĩa Mác-Lê.
Miền Nam là Miền Nam tự do trong tinh thần nhân
bản, dân chủ. Theo ư nghĩa này, một người dù
sinh trưởng ở Miền Nam như Vơ Văn Kiệt,
Phan Văn Khải v v ... nhưng nếu đă theo Cộng
Sản Bắc Việt th́ phải được kể
như người Miền Bắc, thắm nhuần văn
hóa cộng sản. Ngược lại những
người, tuy sinh trưởng ở Miền Bắc,
nhưng theo chủ nghĩa dân chủ tự do, chống
chủ nghĩa cộng sản, th́ phải được
xem như người Miền Nam, theo văn hóa tự do
đa văn hóa của miền Nam. Miền Bắc cai
trị/đô hộ Miền Nam có nghĩa là Bắc Việt
với ư thức hệ cộng sản đang đô hộ
Miền Nam với ư thức hệ dân chủ tự do.
Đó là ư nghĩa của h́nh b́a và hai từ ngữ Miền
Bắc và Miền Nam dùng trong tác phẩm này.
Nội dung quyển sách,
theo nhan đề cho biết, là một quyển Du Kư
nhưng thật ra như tác giả thú nhận ngay từ
đầu là nếu gọi tác phẩm này là một du kư th́
“xem ra có phần tham lam và cường điệu.” bởi
“đây chỉ là những ghi chú (notes) rất rời
rạc, rất nông cạn của một người
vừa đi thưởng ngoạn thiên nhiên của
đất nước, vừa đi t́m sự thật
về t́nh trạng xă hội Việt Nam. . . “(tr. 13). Với
nội dung đặc biệt như vậy và lối hành
văn bộc trực, diễn tả rơ ràng và đúng
chớ không g̣ gẩm cho câu văn bóng bảy, tác phẩm
của Huỳnh Văn Lang có tính cách khoa học hơn là
văn chương. Đáng lẽ nó phải
được liệt vào phạm trù các tác phẩm nghiên
cứu, biên khảo hơn là loại du kư, nhưng như
tác giả thú nhận một cách khiêm nhường rằng
nó chưa đáp đúng những tiêu chuẩn mà một công
tŕnh nghiên cứu khoa học (xă hội) đ̣i hỏi.
Sở dỉ như vậy là v́ nhóm mẫu (sample) quá
nhỏ: chỉ khoảng 50 người trên toàn dân số
(population) hơn 80 triệu; nhóm mẫu lại không
được chọn lựa một cách ngẫu nhiên
(random sample) mà lại dùng những người có sẵn
(available subjects). Với nhóm mẫu quá ít và sẵn có như
vậy, nhà khoa học có thể cho là kết quả không
tránh được thiên lệch (bias), thiếu vô tư,
khoa học. Thật ra trong văn hóa xă hội học, ngoài
phương pháp chặt chẽ, khắt khe ra, c̣n có
nhiều dạng nghiên cứu, ghi chú khác cũng cung cấp
được nhiều dữ liệu hữu ích cho
việc t́m hiểu một xă hội, một cộng
đồng. Những field-works (điều tra/nghiên cứu
ngoài trời), những case studies (nghiên cứu từng
trường hợp) của một số nhà khảo
cứu ngày nay, hay ngay cả những phong tục tiểu
thuyết, những địa chí của người
xưa cũng rất có giá trị cho các học giả.
Những phong tục kư, những địa chí của các
nho gia ngày xưa đâu có theo các tiêu chuẩn khoa học ngày
nay đâu nhưng những tác phẩm của họ vẫn
rất có ích cho người đời sau. Ngày nay chúng ta
vẫn phải t́m đọc Phủ Biên Tạp Lục
của Lê Quư Đôn, Gia Định Thành Thông Chí của
Trịnh Hoài Đức, hay cả Chân Lạp Phong Thổ Kư
của Chu Đạt Quan nữa khi muốn biết về
Thủy Chân Lạp, về Miền Nam thuở nào. Thành ra
theo tôi, quyển sách của Huỳnh Văn Lang phải
được kể là sách có giá trị về
phương diện xă hội/văn hóa và giá trị đây
là giá trị khoa học. Nhóm mẫu (sample) của ông tuy
nhỏ, sự lựa chọn, không ngẫu nhiên, nhưng
thật ra nếu xem như đây là một cách lựa
chọn mẫu theo cách ngẫu nhiên nhiều tầng (stratified
sampling) th́ cũng không kém phần giá trị. Ông đă
phỏng vấn đủ hạng người (giàu có,
chức vụ, điền chủ, làm công, lái xe ôm, nghèo
khổ, giáo chức, học sinh sinh viên, tu sĩ, v v...),
ở rải rác nhiều nơi từ Đồng Bằng
sông Cửu Long (Cù Lao Dài Vĩnh Long, Cái Mơn Chợ Lách
Bến Tre, Đại Phước, Nhị Long Trà Vinh, và vài
nơi ở An Giang) đến Sài G̣n – Biên Ḥa – B́nh
Dương, đến Huế, Hà Nội, các vùng thuộc
cả hai bên chống Cộng Sản và theo Cộng Sản
trước 1975, có Công Giáo, có Thờ Ông Bà, v v...
Với nhóm mẫu có
thể phần nào đại diện cho nhiều hạng
người ở nhiều nơi khác nhau, ông đă có
những câu hỏi vốn như câu phỏng vấn xoay quanh
những vấn đề chính trong sinh hoạt xă
hội/văn hóa như công việc làm ăn ra sao,
đời sống thế nào, con cái học hành đến
đâu. v v ... Bên cạnh những câu hỏi đó là
những ghi nhận của ông về đường sá, nhà
cửa, công thự, sự phát triển ở mỗi
nơi. Trước dáng vẽ trí thức, ngoại
kiều, bộc trực và rộng răi của ông
người được hỏi đă trả lời ông
một cách chân thành chớ không phải trả lời theo
kiểu lấy ḷng người hỏi (social desirability).
Với những câu trả lời trung thực, những ghi
nhận khách quan, ông Huỳnh Văn Lang đă đi
đến cái nh́n tổng kết như sau về xă hội
Việt Nam năm 2006:
Về hạ tầng cơ
sở, đường sá cầu cống có xây thêm nhưng
những nơi xa xôi ở đồng quê vẫn như
cũ, không có sửa sang, xây cất ǵ cả. Có nơi làm
rồi lại hư, cứ phải sửa chửa luôn, v́
nạn ăn xén khiến phẩm chất rất kém.
Điện cũng vậy. Nhiều làng xă đă có
điện về làng nhưng nhiều nơi vẫn
chưa có điện. Nhà cửa ở đồng quê c̣n
nhiều nhà lá tồi tàn. Có một số ít nhà gạch ngói
khang trang và những nhà đó là những nhà có con cái ở
ngoại quốc gởi tiền về cho xây cất. Nhà khá
th́ có TV và những tiện nghi khác. Xe cộ di chuyển th́
phần đông dùng xe đạp, một số rất ít có
xe gắn máy. Ấp nghèo th́ có vài chiếc xe gắn máy,
ấp giàu có đến hai ba chục chiếc. Trong việc
di chuyển ở nhà quê ngoài xe ôm c̣n có đ̣ máy, giá vé
rất rẻ. Nh́n chung th́ cũng có chút phát triển
nhưng chậm lắm, 30 năm phát triển ở đây
không bằng 10 phát triển ở những nước khác.
Các trụ sở, cơ quan
công quyền, xây cất lớn lao đồ sộ. (V́ có
cơ hội ăn xén trong công tác xây cất. Từ ngữ
quen thuộc ở trong nước là “rút ruột”).
Đền thờ Phạm Hùng ở Vĩnh Long chẳng
hạn, được xây cất thật nguy nga đồ sộ.
Theo Huỳnh Văn Lang th́
“những nơi có công trường xây cất nhà cửa,
trường sở, công sở cũng như cầu
cống, đường sá là ở đó có chợ đen
sắt, chợ đen xi măng... Danh từ rút ruột
ở đó mà ra, tức là rút bớt xi măng, thay cát vào,
rút bớt giây sắt, giây kẻm đi, kết quả là
cột bê tông, nền đá tường gạch bị
giảm thọ một cách kinh khủng, từ năm ba
chục năm có khi chỉ c̣n thọ được
năm ba năm là cùng... một trường trung học
đồ sộ ở miền Tây đă cất xong rồi
mà không dám cho học sinh vào học v́ không bảo đảm
tính mạng.” (tr.56)
Về công cuộc làm ăn
sinh sống của người dân th́ những người
làm vườn, trồng cây ăn trái, có huê lợi sống
được nhưng những người làm ruộng
th́ nghèo đói lắm. Nhiều người thất
nghiệp không có công ăn việc làm ǵ khác. Nhiều
người phải ra thành thị kiếm công việc
sống lây lất Ở Bải Xang chẳng hạn,
“kinh tế Bải Xang là kinh tế chết. Ruộng
vườn không có huê lợi như trước, nhiều
người không có công ăn việc làm, bỏ đi
xuống tỉnh (trà Vinh) hay lên thành phố (Sài G̣n)” (tr.
61). Về cảnh nghèo đói của nông dân, tác giả trích
dẫn thêm lời của tiến sĩ Lê Đăng Doanh
:”Nông nghiệp đă nghèo, đất đă kém đi, nhung
mỗi một năm thêm một triệu miệng ăn,
lấy đâu ra mà ăn? Chênh lệch, đói nghèo là nó
ở chổ ấy. Chúng ta về quê xem, có tiến bộ
khoa học nào để tạo ra việc làm? Lao
động là vất vả, mỗi ngày lao động trên
8m2 đất th́ có cái ǵ mà giàu có được.” (tr. 93)
Ưu tư số 1 của
họ là phát triển hạ tầng cơ sở không có
kế hoạch , hay kế hoạch không hợp lư gây
nhiều hậu quả tai hại. Từ sau 1975, nông dân
không c̣n đất nhiều lại bị mất thêm
nhiều nữa để mở rộng đường
sá làm cho họ không c̣n sống nổi. Hai bên bờ sông Láng
Thé, sông Tân lập, sông Rạch Bàng, Càng Long, bị nạn
đấp đập làm nhiều giống cá không sống
được phải bắt đầu tuyệt giống
lần lần. Chung qui gần 1 triệu dân TràVinh sống
hai bên bờ sông Rạch Bàng, Láng Thé, và Tân Lập
đều sống dở chết dở v́ chương
tŕnh phát triển thủy lợi của chính quyền.
Ở đây tác giả có thêm phần chú thích với
những con số thống kê cho thấy sự cách biệt
giàu nghèo giữa các tỉnh và thành phố hết sức
lớn lao: “Nếu chỉ số phẩm chất lao
động cũng là chỉ số nghèo giàu th́ Trà Vinh và Sóc
Trăng là hai tỉnh nghèo nhứt trong 61 tỉnh thành
của VN. .. theo
thống kê của Đặng Quốc Bảo trong
‘Chiến lược phát triển giáo dục’ th́ Hà Nội
trên 100,000 đầu người có 8965 người có
bằng với tŕnh độ đại học trở
lên, Đà Nẳng 3506, Sài G̣n 3531, Hải Pḥng 2286, Cần
Thơ 884, Trà Vinh 332, Sóc Trăng 265. . . “(tr. 69).
Một tệ nạn khác là
nghề làm đỉ điếm của nhiều cô gái
miền Nam. V́ thiếu “quan hệ” nên không cách ǵ t́m
được việc làm. “Quan hệ” tức là quyền
lực đở đầu. Theo tác giả th́ quyền
lực đă ở trong tay người Miền Bắc
từ 1975. Ngay trong nghề buôn son bán phấn này cũng cho
thấy rơ sự khác biệt giữa cai trị/đô
hộ và bị trị. “Bán trôn nuôi miệng là con gái
miền Nam. đứng ra tổ chức thị
trường thịt người là người miền
Bắc, tức nhiên cũng theo nghĩa ư thức hệ. . .
Đó là nói đến thị trường nội
địa bán thịt người, thương nghiệp
xuất khẩu thịt người, nhứt là thịt người
non trẻ từ 9, 10 tuổi, th́ lại phải cần
quan hệ với quyền lực cao cấp thế nào
nữa, v́ phải qua bao nhiêu là ngỏ ngách hành chánh cả
thuế quan. Nhưng sau trước vẫn là một
pattern, một mô h́nh: Con gái miền Nam, Quan hệ, Quyền
Lực, văn hóa miền Bắc. Đó là một bi
kịch của thời đại. H́nh ảnh một em bé
V.N. 11 tuổi lạc lỏng trong chợ thịt
người ở Thái Lan, chưa làm t́nh được,
nhưng đă được huấn luyện “biết bú,
biết mút” (oral sex) những thằng đàn ông vặm
vở mỗi tuần lấy 300 đô tuần này sang
tuần khác, h́nh ảnh đó có làm cho bạn đọc khóc
được không, chắc chắn người miền
Bắc không khóc. Kề bên vấn đề ‘mua bán thịt
người’, vấn đề lấy chồng Đài Loan,
chồng Tàu, bây giờ thêm chồng Đại Hàn, với
bao nhiêu thảm kịch của nó cũng là một khía
cạnh khác của vấn đề thiếu cơm ăn
việc làm của người con gái miền Nam.” (tr.
107).
Cho con
ăn học là một vấn đề nan giải.
Tiền học phí quá nhiều, không đủ sức cho
con ăn học. Mỗi làng có trường tiểu học
nhưng muốn lên trung học th́ phải lên tỉnh, và
đây là nổi nhức đầu của phụ huynh v́
chi phí quá nặng cho gia đ́nh. Về kết quả giáo
dục th́ hầu hết thầy cô đều nh́n nhận
là kiến thức con em bây giờ kém hơn trước
rất nhiều dù phải học nhiều hơn. Một
ông giáo cho biết : “Có nhiều lư do, giáo chức không
xứng, sách giáo khoa sai lạc,c̣n thay đổi luôn,
học tṛ nhiều khi hoang mang, tất nhiên cũng nhiều
bài ‘thầy không muốn dạy, học tṛ không muốn
học’ làm mất quá nhiều th́ giờ vô ích. C̣n chuyện
‘Tiên học phí, Hậu học thêm’ cũng có, đó là cái
dịch không thuốc chữa. Nhưng giáo chức là công
chức của nhà nước, lương bổng của
họ quá thấp, mới ra đi dạy chỉ 600,000
đồng một tháng, không bằng thu nhập của anh
lái xe ôm, chính em cũng phải lái xe ôm, để khỏi
dạy thêm mới đủ nuôi gia đ́nh một vợ ba
con.” (tr. 43). Một cô sinh viên vừa tốt nghiệp
đại học Tổng Hợp sắp sửa nhận
việc dạy học ở trung học Cầu Ngang
được ông Huỳnh Văn Lang hỏi về
chuyện Hai Bà Trưng và Bà Triệu đă trả lời ông
như sau; “Ông
hỏi con về Hồ Chí Minh th́ con nói cho ông nghe. C̣n về
Hai Bà Trưng, Bà Triệu con có học ở đâu mà nói.”
(tr. 93)
Nhà giàu tập trung
về các thành phố lớn. Có những khu mới phát
triển chỉ người ngoại quốc mới ở
nổi như khu Phú Mỹ Hưng hay Tân Mỹ Hưng
ở Khánh Hội. Một căn hộ ba pḥng ngủ trong
những cư xá cao ốc ở đây cho thuê hằng tháng
là 6,000 US $. Hiện có nhiều người đang ở
trong đó. Đại học Quốc Tế của Úc
cũng mở trong khu này. Học phí ở đây là 1,500 $
một tam cá nguyệt (1 năm 3 tam cá nguyệt, tiền
học $4,500). Hiện có 1000 sinh viên, trên danh sách chờ
đợi (waiting list) c̣n cả ngàn nữa. Đại
học chỉ dạy các môn khoa học hay kỷ thuật,
không được dạy các môn nhân văn (humanities) hay
triết học. Đại học nhà nước đă
rất đắt đối với rất nhiều gia
đ́nh thế mà đại học tư này c̣n đắt
gắp 3 lần đại học nhà nước. Vậy
mà vẫn có nhiều người cho con đi học ở
đây. Tại sao người ta vẫn muốn cho con em
học ở đây? Câu trả lời, theo tác giả, là:
“phẩm chất Đại học nhà nước quá
thấp, về mặt chuyên nghiệp cũng như về
mặt phong hóa, cha mẹ con em không tin tưởng ở
chế độ Đại học nhà nước nữa.
Tham vọng của cha mẹ là đủ sức gửi con
em vào học các trường Quốc tế trong
nước, lư tưởng nhứt là được
gửi đi ra nước ngoài.” (tr. 111)
Một xă hội
bất công kẻ giàu quá sức người nghèo khổ vô
cùng, phân chia giai cấp rơ rệt miền Bắc cai
trị/đô hộ miền Nam bị trị bị đô
hộ bị triệt để khai thác, một chế
độ tham nhũng từ trên xuống dưới
với nạn rút ruột, phong b́, một nền văn hóa
đồi trụy không c̣n tinh thần đạo
đức dân tộc, một nền giáo dục giảm sút
thê thảm với cảnh tiên học phí hậu học thêm
với những môn thầy không muốn dạy học tṛ
không muốn học. Nghèo nhất là người nông dân Trà
Vinh Sóc Trăng và phần lớn đồng bằng sông
Cửu Long, quê hương của tác giả. Đó là cái
kết quả thu lượm được qua các câu
phỏng vấn và sự ghi nhận trong cuộc hành tŕnh
đi thăm bà con và đi du lịch Việt Nam của tác
giả trong quyển Đă Hơn 30 Năm Rồi. TaÙc
giả có quá đáng, có thiên lệch không trong cái nh́n của
ông về t́nh trạng xă hội Việt Nam ngày nay? Tôi
nghĩ là không. Những ai có đọc báo ở trong
nước hay tin tức trên internet đều thấy có
nhiều bài vở nói về t́nh trạng mà ông Huỳnh
Văn Lang ghi lại ở đây. Một bài khảo
cứu gần đây của giáo sư Lâm Văn Bé về
“Nghèo Đói Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long” đăng
trong tập san Nghiên Cứu Văn Hóa Đồng Nai Cửu
Long số 4 xác nhận những điều Huỳnh Văn
Lang đă nói. Tựa trên nhiều tiêu chuẩn khác nhau về
cái nghèo ( như lợi tức, nhà cửa, học vấn,
chi phí y tế, giáo dục, v v...) các dữ liệu thống
kê mà giáo sư Lâm Văn Bé thu lượm được
đều cho thấy đồng bằng sông Cửu Long
giờ đây rất nghèo khổ, thất học, thua kém xa
Hà Nội và miền Bắc.
[Đây là một vài con
số thống kê trong bài viết giáo sư Lâm Văn Bé: Theo
tiêu chuẩn tiền tệ, tỉ lệ người nghèo
ở đồng bằng sông Hồng là 13%, ở
đồng bằng sông Cửu Long là 23% (con số của
TCTK năm 2002). Theo tiêu chuẩn lương thực, tỉ
lệ ở đb sông Hồng là 6.5, ở đb sông Cửu
Long là 7.5 (con số của bộ TCTK). Theo tiêu chuẩn nhà
lá loại E, đb sông Hồng 7, đb sông Cửu Long 53.9.
Tiêu chuẩn xài điện, đb sông Hồng 99, đb sông
Cửu Long 74. Tiêu chuẩn bỏ học THCS , đb sông
Hồng 28,2, đb sông Cửu Long 39,9. Tốt nghiệp THPT,
đb sông Hồng14, đb sông Cửu Long 5. Tốt
nghiệp đại học, đb sông Hồng 5,25, đb
sông Cửu Long 1,5. Hậu đại học, đb sông
Hồng 0,25 đb sông Cửu Long 0,01. Đồng Nai Cửu
Long số 4, tr. 93-116]
Miền Nam xưa kia giàu có
hạnh phúc bao nhiêu th́ bây giờ nghèo đói khổ sở
bấy nhiêu kể từ ngày Miền Bắc xóa bỏ
văn hóa Sài G̣n để áp đặt văn hóa cộng
sản Hồ Chí Minh lên trên vùng đất tự do này.
Trước thực
trạng đáng buồn như thế tác giả có
đưa ra giải pháp sửa đổi nào không?
Đọc phần sau cùng ta thấy khuynh hướng
của tác giả là chỉ có cách mạng mới giải
quyết được. Nhưng chưa thấy có
đủ yếu tố nội tại cũng như
ngoại lai có đủ tiêu chuẩn để xăy ra
một cuộc cách mạng trong tương lai gần. Tuy
nhiên tác giả vẫn chừa một khoảng cho sự
tin tưởng rằng cái ǵ cũng có thể xăy ra
được trong điều kiện tiến bộ
vượt bực của khoa học kỹ thuật ngày
nay.
Các chính trị gia và
những người ưa thích chính trị có thể không
đánh giá cao tác phẩm của Huỳnh Văn Lang trong
đường lối và giải pháp của ông, nhưng
người làm văn hóa, nhất là người dân
miền Tây từ 1975 đến giờ chưa về
Việt Nam lần nào như tôi, th́ tôi đánh giá rất cao
tác phẩm của ông. Trước hết tôi phải cám ơn
tác giả đă làm giùm tôi một việc quan trọng mà có
lẽ tác giả cũng không biết. Tôi là người sinh
ra và lớn lên ở vùng Phú Túc, An Hóa, B́nh Đại, xưa
kia thuộc Mỹ Tho, bây giờ thuộc Bến Tre. Cha
mẹ tôi cũng có chút ít vườn ruộng, nhưng gia
đ́nh chúng tôi đă phải bỏ xứ ra đi giữa
thập niên 1950. Quê tôi là vùng oanh kích tự do là vùng của
Việt cộng, không có làng xă, không c̣n đồn bót ǵ
của Việt Nam Cộng Ḥa. Tôi có nhiều bà con c̣n ở
đó. Tôi cũng rất mong được trở về
thăm làng cũ, thăm bà con xóm giềng, muốn
được biết đời sống của
người dân ở vùng đó bây giờ như thế nào.
Tôi chưa làm được việc đó. Đọc tác
phẩm của Huỳnh Văn Lang tôi thấy như tôi
đă làm được chuyện đó rồi vậy. Tôi
hết sức cám ơn ông Lang. Kế đó tôi cho rằng
tác phẩm của ông có giá trị nhiều về văn
hóa/xă hội v́ nó sẽ giúp cho nhiều thế hệ sau này
khi họ muốn t́m về h́nh ảnh của vùng
đồng bằng sông Cửu Long vào đầu thế
kỷ XXI. Gần đây có người bạn điện
thoại hỏi tôi rằng nếu như Rockefeller Foundation
cho tiền để giúp đời sống người
dân vùng đồng bằng sông Cửu Long th́ nên xin họ
giúp những ǵ? Câu trả lời của tôi là: Hăy
đọc quyển sách của Huỳnh Văn Lang và bài
viết của Lâm Văn Bé trong Đồng Nai Cửu Long
số 4. Tôi nghĩ trong trường hợp này quyển
sách của Huỳnh Văn Lang rất có ích.