Tết
dồi! Tả lồ lên coi chơi!
Kiệt Tấn
Cắc tùng xèng! Tùng xèng! Tùng tùng xèng!…Đứa nhỏ xuống
tấn, mình cởi trần, bận quần dài đen,
bước chân mặt tới trước, đưa hài
đá gió một cái…tùng xèng! Tùng tùng xèng!..hất mặt lên
hít mạnh, tóc bánh bèo phất phới..tùng xèng!…xoay
người cái rụp ra phía sau, dựng bàn tay mặt
xuất chưởng chớp nhoáng…tùng tùng xèng…rút tay
lại, chập vào nấm tay trái trước ngực, cúi
đầu chào đám người đứng coi sơn
đông mãi võ vây tròn xung quanh…tùng tùng xèng! Lắc cắc
lắc cắc tùng tùng xèng…ông nội nó, râu bạc dài
tới ngực, đánh trống loạn xạ thúc dục
tới, miệng la lớn:
“Hà! Cái lầy Tết dồi! Tả lồ
lên coi choi há!” Cắc tùng xèng! Tùng xèng! Tùng tùng xèng!.. Tôi
vỗ tay hùa theo với khán giả, trong bụng phục
lắm thằng nhỏ múa võ, đâu độ tám chín
tuổi, trạc tuổi tôi. Chợ Tết Bạc Liêu, pháo
nổ đì đẹt, ai nấy hỉ hả-dù giặc
giả vẫn còn lẩn quất đâu đó, tôi vừa
chạy tản cư mới hồi cư trở về
thành độ hơn năm nay. Trong giây phút nầy tôi quên
hết súng đạn, quên hết ruồng bố, chỉ
thấy cái Tết trước mặt. Và chỉ mơ
ước có mỗi một điều: một ngày nào
đó tôi sẽ múa võ trước mặt bà con, cho mọi
người lé con mắt hết. Hơn vậy nữa, tôi
sẽ lên sân khấu, thượng đài, đấm đá
vù vù, bà con cô bác xa gần chỉ còn có nước sắp
hàng chờ tôi dưới khán đài để… xin chữ ký.
Tui nói thiệt mà. Để rồi mấy người coi!
Quả nhiên, sau khi lên tới trung học
trường Cao tiểu Vĩnh Long, tôi được
mời lên sân khấu. Sân khấu thứ thiệt chớ
không phải thứ sân khấu giữa chợ đời.
Không phải để múa võ mà để đóng kịch
(!…..vặc!). Bãi trường, Tư Hón, ông bầu của
trường, mời tôi đóng một vai trong tuồng
diễn lại trận đói năm Ất Dậu ngoài
Bắc. Không vai chính, không vai phụ, mà là vai một trong
những người chết đói(!) Không cần học
bài bản, chỉ có rên thôi, khỏi phải nói năng gì
cả. Ông bầu viện lý do: “Mầy đã ốm nhách
sẵn rồi, tao chỉ cần quẹt thêm mấy
đường lọ nghẹ ở ba sườn nữa
là giống y chang. Dễ ợt” Ông nầy nói ngon nhỉ?
Dễ cho Ông mà khó cho tôi lắm thay! Một mầm non
văn nghệ chưa lên mà đã xuống. Tôi từ
chối là cái chắc. Từ chức liền tại chỗ
chớ không cần đệ đơn đệ
điếc gì ráo. Ai mà đẩy ta ra sân khấu ắt là
phải bước qua xác chết của ta! Âu cũng xong
rồi một kiếp cầm ca. Khỏi cần phải
chờ sân khấu về khuya hay chờ bị xỉ
vả là “xướng ca vô loại”.
Rồi thời gian qua, thời gian qua. Qua
mau, qua mau… Mang theo
giấc mộng thơ ấu ban đầu… (và cơn đau tình ái, Bài không
tên năm bờ Oan!).
Hết tản cư tới giặc
giả. Hết cơn bỉ cực tới hồi chết
cha. Ròng rã 30 năm dài. Dài ngoằn. Mút mùa lệ thủy. Tàn
canh gió lạnh…..Cho tới lúc Miền Nam sập tiệm
năm 75. Bèn làm người di tản buồn. Rồi
kẻ lưu vong khóc thét. Thét rồi cũng quen. Đi cày
kiếm ăn. Đoạn thất nghiệp, ngất
ngư. Vừa tỉnh tỉnh lại đi cày nữa. Métro,
dedo. Ở bên Tây thì vậy, bên Úc cũng rứa, bên Mỹ
cũng xêm xêm-còn có phần “lao động vinh quang” là đằng
khác, một người hai ba jobs, lấy đó làm mục
đích ở đời. Tiếp tục “ăn ngủ
đ. ỉa” đều đều dưới gầm
trời xứ người, không thể nào khác hơn
được, cho dù vui cho dù buồn, cho dù buồn cho dù
vui, bắt phơi trần phải phơi trần, cho mai dô
mới được phần mai-dô. Rồi sắm xe,
rồi mua nhà, rồi gởi tiền nhà băng lấy
lời (sống trong chế độ tư bản
thối nát mà lị), rồi dư tiền chút đỉnh.
Tính tới tính lui, tính xuôi tính ngược, ngày không nhắm
mắt, đêm trằn trọc suy tư (hay tư duy
khỉ mốc gì đó). Bèn lấy một quyết
định sáng trong đêm tối thui, trước khi hành
động mù quáng: làm một chuyến về thăm quê
hương yêu dấu, dịp Tết, với vợ nhà, người
em gái hậu phương bé bỏng (mà nặng ký).
Anh đưa em vô chùa, chùa hôm nay có chuối.
Anh đưa em lên rừng, rừng có khỉ có nai..cốc
cốc cốc, xèng xèng xèng..Rằng hay thì thiệt là hay,
nghe xong ngậm đắng nuốt cay thấy bà! Lên máy bay
không động cơ, không cánh quạt, không chong chóng, không
người lái, ào ào đổ lộc rung cây trực
chỉ quê hương ta đời đời tắm
biển Thái Bình (mà giặc giả không dứt), hình cong
chữ ếch (hết thuốc chữa), kéo dài xa tít
tận chân trời, ngát hương nước mắm
từ Ải Nam Quan cho tới Mũi Cà Mau, dân tộc ta có
bốn ngàn năm văn hiến, đã từng..đã
từng…..và đã từng…..
2002..Tháng giêng tây, hạ cánh đáp xuống
an toàn phi trường Tân Xơn Nhất. Thủ tục,
thủ tục và thủ tục. Đổ mồ hôi
hột. “Bà con chi chút ít cho đàn em bồi zưởng”.
Hả? Bồi gì.. bồi zưởng..bồi zưởng
hả..bồi zưởng là cái khỉ mốc gì?. Bà con
thứ thiệt từ tỉnh bao xe có gắn máy lạnh
lên chờ đón tận phi trường, réo gọi ơi
ới “chú Sáu! Chú Sáu!..Thím Sáu! Thím Sáu!..” Nước mắt
quẹt ngang chùi trên ngực áo. Buông hết hành lý ôm nhau
cứng ngắt, đấm lưng nhau thùm thụp. Thím Sáu
bủn rủn. Chú Sáu nó vốn người hiên ngang, vai hai
tất rộng thân vài thước cao mà tim cũng vụt
nhảy cỡn lên đập ình ịch loạn xạ.
Hỏi han không kịp trả lời, trả lời không
kịp hỏi han. Chèn ơi! Gần ba chục năm
rồi bỏ xứ ra đi chớ ít ỏi gì!
Sau khi thăm viếng mộ phần ba má
mình ở Thủ Đức và mộ phần phụ
mẫu người em gái hậu phương ở Vĩnh
Long, tôi dìu nàng dưới mưa lên Sài Gòn để
vạch kế hoạch đi thăm viếng cái xứ
Bắc Kỳ ngoài í, thăm cái Hà nội ba sáu phố
phường của Nguyễn Bính-sư phụ tôi-, đi
nhặt lá bàng Thạch Lam khi giời trở rét, thăm cái
o chuột lúc nhút của Tô Hoài, thăm Vịnh Hạ Long
kỳ quan thế giới, thăm Hồ Gươm lịch sử, biết chừng
đâu vớt được thanh kiếm quý đem về
dựng lại sơn hà, thăm..thăm..Thiếu gì
chỗ tôi muốn tới thăm cho biết quê hương
của người con gái Bắc Kỳ nho nhỏ, thăm
“quê hương em cái mùng mà kêu cái màng, quê hương em cái
kèn mà kêu cái còi”.
Quê hương người em gái Hà Lội
(có cá zốn nồi). Thăm gấp gấp đi kẻo
muộn. Vì biết đâu một ngày đẹp trời nào
đó ở Paris, đùng một cái tôi ợ một hơi
dài “ta kiếu gia chủ ta thăng”. Hoặc trong cái
thời buổi nhiễu nhương khủng bồ
rần rật nầy, biết đâu chừng mai mốt em
tôi về xứ Bắc, cách bao đồi núi cách bao sông. Tôi
nằm mộng thấy em cười khóc, lo ngại
đời hoa bạc má hồng.. sẽ lại cách trở
nhau bởi một dòng sông không có chuyến đò vĩ
tuyến.
Tôi và nàng đáp xuống phi trường Hà
Nội một buổi sáng muộn, nắng sáng sủa,
trời gây gây lạnh. Ra đón tôi là cậu hướng
dẫn tên Tùng, khoảng 25 tuổi, người gầy
gầy, có hàm răng mái hiên đặc sản xứ
Bắc. Chúng tôi ra xe du lịch bốn chỗ ngồi,
cậu lái xe tên Dũng (Dũng của Đoạn
Tuyệt?). Trên đường về khách sạn gần
Nhà Hát Lớn, xe chạy xuyên qua ngoại ô Hà nội, qua Ô
Cầu Giấy, qua phố qua phường san sát ( không
thấy mưa sa trên màu cờ đỏ), qua những
ổ chuột lụp xụp, qua khách sạn năm sao
Deawoo, nơi Clinton, tổng thống nước Đại
Mỹ có lần trú ngụ để tham quan cái xứ
đã từng “chống Mỹ cứu nước” (khách
sạn bây giờ ế nhệ, khách xịn kiếm
đỏ con mắt không ra), qua những bảng quảng
cáo to tướng sặc sỡ: Hyundai, Singapour Airlines,
Fujifilm, Canon, Nike v..v..và Coca Cola (là cái cẳng) Hết
rồi chuyện uống nước dừa như
nước mắt quê hương, hết rồi cái không
khí hiu hiu Hà Nội Tự Lực Văn Đoàn, cái hào
sản Nguyễn Tuân, cái quyến luyến Mai Thảo, cái
“bước đi nhưng chưa nỡ rời” Vũ
Thành, khi gió heo may rượi buồn len mình vào cố đô
một mùa thu 54. Hà Nội bây giờ xe cộ vụt vã,
người đi tất tả, chiều về mệt lã.
Nghỉ mệt. Ăn trưa. Chúng tôi, hai
mái đầu xanh nơi đất lạ không đói gì cho
lắm mà món ăn dọn lên dài dài, ăn mệt nghỉ,
lắc lư con tàu đi. Xong lên phòng phè cánh chợp mắt
một chập.
Xế trưa Dũng đánh long xa
đến đón Lan và Điệp, không phải để
đi tu mà là đi thăm Hồ Gươm. Chụp hình
lắc rắc. Tùng tung giọng rặc Hà Nội cà pháo ra
giải thích với cô chú. Tôi nghe qua loa, không chú tâm lắm, bận
ngắm cảnh. Tháp rùa nho nhỏ, mờ mờ, xa xa
giữa ánh bạc sóng gợn lăn tăn. Chợt nhớ
Vũ Khắc Khoan, Thần Tháp Rùa, giờ đã vùi thân
nơi xứ Cờ Hoa dưới rừng anh đào.
Cũng như Nghiêm Xuân Hồng, cũng như Mai Thảo,
cũng như Ngọc Dũng. Giờ đây, Rùa Thiêng
cũng đã bỏ Hồ Gươm mà sang ngang biệt
tích. Nghìn năm kim cũ soi kim cỗ, cảnh đấy
Rùa đâu thấy phát rầu! Tôi thăm miếu gì không
biết, người ta vào ra khấn vái nườm
nượp, tiền bản xứ giắt đầy tay
đầy chân đầy ngực Thần Miếu, khói nhan
mịt mù, thở không ra hơi mắt cay xè tóe khói. Tới
một nơi khác, Tùng dừng lại chỉ tay dẫn
giảng: “ Đây là Cầu Thê Húc”. Tôi giựt mình chới
với. Khi đọc tiểu thuyết Tự Lực, tôi
những tưởng Thê Húc là một cây cầu lớn
lắm, ít ra cũng phải lớn hơn cầu Cái Cá hay
Cầu Lộ ở Vĩnh Long..nhằm nhò gì ba cái lẻ
tẻ! Giờ đây giáp mặt, trước mặt tôi là
một nhịp cầu gỗ sơn đỏ nho nhỏ
xinh xinh, giống như loại cầu đỏ bắt
qua ao bông súng trong khu vườn Nhựt Bổn, hoặc cây
cầu gỗ đỏ trong vườn Bách Thảo Bờ
Rô ở Xè Gòn, nơi đã có lần tôi dắt người
yêu học trò ra đứng trên cầu rũ tóc mưa sa
nhoẻn miệng cười duyên chụp hình. Sóng xao
chạnh nhớ yêu đầu, tóc xưa giờ đã qua
cầu gió bay..
Tôi đưa tay chỉ, hỏi Tùng:
“Thế đây là cầu Thê Húc ấy à? Có phải cây
cầu anh chàng đi bia ôm về khuya bị hiền thê húc
té xuống Hồ Gươm phải không? Tùng nhoẻn
miệng cười mái hiên tủm tỉm: “ Dạ thưa
chú, cái đó cháu không biết” Long xa tiếp tục lăn
bánh gập ghềnh tới thăm Văn Miếu. Tùng
giải thích ngày xưa đức vua và quan ngự sử
hay bất cứ tai to mặt lớn nào tới đây
cũng phải xuống ngựa cuốc bộ vào Văn
Miếu. Tôi bình phẩm: “ Ngày xưa quan ngự sử
chỉ tuột xuống con ngựa quèn chỉ có một
bu-gi và một mã lực. Ngày nay chú cháu mình xuống long xa
Toyota sáu bu-gi, mười hai mã lực để vào thăm
Văn Miếu, ắt phải long trọng hơn chứ !”
Lại nụ cười mái hiên lém lỉnh: “Dạ,
Dạ”. Hết thăm bên trong Văn Miếu đến
viếng bên ngoài. Những rùa là rùa. Rùa đá, trên lưng mang
bia đá, bảng hổ đề danh những vị
đỗ thủ khoa hay trạng nguyên. Rùa, con thì cất
đầu cao, con thì quẹo đầu ngang, con thì gục
đầu ( nhớ nắng) bởi lẽ ngóc hoài tháng
lụn năm chầy cũng mỏi. Tôi dò đọc
chữ nho chữ nôm trên bia đá, thấy tên Mạc
Đinh Chi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du..Không thấy tên Tú
Xương và tên tôi. Chép miệng ngậm ngùi. buồn
năm phút.Tích nhân cỡi rùa vàng biệt xứ, Thử
địa không dư Hoàng Hạc Lâu. Hoàng hạc nhất
khứ bất phục phản, Còn lại nơi đây
mấy trự rùa! Lại vạch da cây vịnh bốn câu
ba vần cho phải phép. Sực gẫm ra không khỏi
lấy làm lạ: Lịch sử con Rồng cháu Tiên ta quanh
đi quẩn lại cứ dính liền với giống rùa.
Thành Cổ Loa có rùa thần, hồ Hoàn Kiếm có rùa thiêng,
đền Văn Miếu có rùa đá, ao Duy Tân Xè Gòn có rùa
đồng- đó là chưa kể quán nhậu Quê
Hương đường Cao Thắng có rùa bảy món.
Một rùa một tiến biết là có nên? “Quyết tiến! Ta vốn dân
cỡi rùa!”.
Tiếp tục cuộc du ngoạn. Long xa
vượt qua một cây cầu bê tông khá dài. Sực
nhớ tôi hỏi Tùng sông Hồng nơi nào mà chú chưa thấy?
Tùng chỉ tay xuống bên dưới: “ Đó, sông Hồng
đó chú !” Nhoài mình ngó xuống thấy hai bờ
đất bùn, ở giữa chảy uể oải một
lạch nước cạn. Nghĩ bụng điệu
nầy nếu phải chờ nước lớn mới
được nghe Tiếng còi tàu trên sông Hồng của
Mai Thảo thì chắc là hãy.. còn khuya lắm lắm. Tới
chừng đó không chừng ghe của Út Trà On đã theo sông
Phụng Hiệp chảy ra Ngã Bảy, mang theo mối Tình
anh bán chiếu u hoài không thua khối tình Trương Chi
một chút nào cả. Nghĩ cho cùng, trai Bắc gái Nam, trai
Nam gái Bắc, dưới góc biển chân trời nào cũng
yêu đương lẩm cẩm như nhau hết. Zốn
nồi zốn nởm gì thì cũng rứa cả.
Rời Hà Nội, xe trực chỉ mạn
biển, tiến ra Vịnh Hạ Long. Dọc
đường, có nơi phố phường san sát, có
nơi nhà cửa lèo tèo, có chỗ buôn bán tấp nập, có
chỗ nghĩa địa mênh mông, di tích cuộc chiến
tàn khốc vừa qua. Nơi làng nọ, nhà nhà trồng toàn
anh đào bán Tết, phong khí an vui, êm ả, thanh bình.
Vượt một đám cưới làng quê, cô dâu chú rể
và người tham dự ăn vận theo lối xưa,
màu mè vui mắt, ngộ nghĩnh. Có cả hai gã trai tơ
gánh trên vai một cái trống chầu..Vui hội cái đêm
trăng rằm…ôi à ôi í tơ tằm ba tằm…
Tới một làng nọ bên đuờng
lưa thưa người làm ruộng, mạ xanh,
nước đục và bờ đê chia đất.
Mỗi thửa ruộng chỉ lớn hơn cái khăn mù
xoa chút ít là quá lắm, điều lạ mắt
đối với dân (công
tử) Bạc Liêu như tôi. Tùng giải thích, khởi
đầu là một mảnh đất lớn. Chủ
đất chết, đất cắt ra chia cho đám con.
Đám con chết, cắt ra chia cho nhiều đám cháu.
Rồi cứ thế, cho tới lúc người nào chịu
ở lại giữ đất thì chỉ thừa
hưởng được những thửa ruộng mù
xoa. Điều lạ nữa: ở đất Bắc còn
cày bằng trâu. Con trâu kéo cày quanh quẩn trong khăn mu xoa,
đi dăm phút đã về chốn cũ. Thấy tôi
mỉm cười, Tùng hỏi tôi trong Nam có trâu cày không chú.
Tôi đáp trong Nam con trâu chỉ chắp tay sau đít đi
tới đi lui trên bờ đê ngó chừng ông chủ
đẩy cày máy và cho điểm ghi công. Khi nào trời
nắng gắt quá, thanh tra lao động bèn lui vào lùm tre
nằm nhơi cỏ hoặc đánh giấc bên đồi
dạ lan. Cụ nằm cụ nghỉ cụ xơi..
thuốc lào. Khỏe re! Nhẹ nhàng, hân hoan, thơ thới.
Ai dám bảo “chăn trâu là khổ”?
Trên đường thiên lý, ghé một
trạm lớn dọc đường để
thưởng thức bánh đậu xanh Rồng Vàng
lừng danh xứ Bắc Kỳ, chính hiệu con nai vàng
của bà Lang Trọc. Đụng độ với một
đám con Trời từ hai chiếc xe buýt lớn
đổ xuống ập vào, xí xô xí xào ỏm tỏi,
người nào người nấy cũng cặp nách
một cái bình thủy nước nóng để nhẵm xà.
Bao nhiêu nước nóng trong trạm dành cho khách
thưởng thức bánh đậu xanh đều bị
cưởng bách sang ngang bình thủy hết. Tùng cho biết
đám du khách nầy đa số là dân quê có tiền rủng
rỉnh từ miền Nam Trung Quốc kéo xuống tham quan
cái xứ Nam Bang nhứt thốn thổ, vốn
trước đây là anh em xã hội- hữu nghị
quốc tế, môi hỡ răng lạnh cả í mà! Cảm
thấy có nhu cầu, di tản ra phía sau trạm làm cơ tè
tập thể, tôi bị đoàn người tưng
bừng về trong cơn gió lấn dạt ra mấy phen.
Tức mình, Tarzan nổi giận, tôi muốn xăn tay áo
biểu diễn lại màn lịch sử Chương
Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân
thù. May mà có em gái hậu phương níu tay người anh
hùng áo vải coton (made in India) kéo lại năn nỉ. Hùm! Thôi,
tha cho đó, kẻo để ta mang tiếng bất
nhơn! “Ê! Chưa chắc thằng nào sợ thằng
nầy!” nghe chưa?
Tà tà lên đường, tiến về
Vườn Chanh miệt biển. Sau một buổi bên tung
bên hứng, giờ đây cô chú và hai cháu trở nên thân
mật hơn, tâm tình hơn. Tùng cho biết đang cố
gắng kéo cày tận lực, dành dụm tiền một hai
năm sau cưới vợ rồi xin vào Nam lập
nghiệp. Tôi bình phẩm: “ Cháu thấy gương
người xưa chưa tởn hay sao mà còn đâm
đầu vào cầu Thê Húc?” Cười cười:
“Dạ, thê có húc thì cháu cũng rán chịu chú ạ.” Dũng
ứng tiếng góp ý: “Nghe nói ở Miền Nam dễ làm
ăn lắm hả chú? Cháu có mấy thằng bạn vào Sài
Gòn chạy Taxi kiếm được tiền hơn ở
Hà Nội rất nhiều. Chúng nó cứ biên thư về
rủ cháu vào Nam chạy Taxi hoài. Ngặt cháu còn một bà
mẹ già cứ ốm tới ốm lui liên miên, thành thử..”Nghe
cứ như là áo anh sứt chỉ đường tà,
vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu! Thêm một ứng
viên tự nguyện tương lai cho cầu Thê Húc..và
cầu Khánh Hội.
Cà rịch cà tang rồi cũng tới
Vịnh Hạ Long, buổi trưa nắng đẹp.
Trời ngoài Bắc không rét như tôi dự tưởng.
Tôi xuống xe vươn vai ngáp dài. Đứng uống bia
trên Bến Chấy chờ Tùng đi thu xếp cuộc du
ngoạn. Gió thổi hiu hiu. Ngoài khơi thấp thoáng ẩn
hiện bóng dáng ù lì của những khối đá đen xám
lô nhô trên mặt biển phẳng lì. Vài cánh chim đen chao
luyện, ném vào không gian tiếng kêu oang oác vui tai, Trên bờ
bày bán thức ăn, thức uống, thuốc lá, vài món
vật dụng cần thiết lỉnh kỉnh, giống
như quang cảnh bến bắc ở Tiền Giang khi
cầu Mỹ Thuận chưa cất ngang sông. Chập sau
Tùng quay lại đón cô chú dời chân ngự thuyền rồng
vượt biên như Gia Long tẩu quốc ngày xưa.
Thuyền Rồng thứ thiệt chớ không phải
vờ vịt đâu nghe: trước mũi ghe, một
chiếc đầu rồng lớn màu vàng chói mới toanh
hả hoát miệng sơn đỏ, mở trừng đôi
mắt đỏ, uốn vảnh hai sợi râu sơn
đỏ như râu tôm luộc. Râu tôm nấu với
ruột bầu, chồng chan vợ húp gật đầu
khen ngon! Đức vua đưa tay rồng dìu hoàng hậu
xuống thuyền rồng. Tùng giới thiệu gã con trai
tài công, trạc tuổi Tùng, mặt sáng sủa, lễ phép.
Thuyền mang tên Hòa Bình (là cái chắc), sạch sẽ,
tươm tất, rộng rãi nhưng vắng hẳn bóng
người. Tôi hỏi chắc mình còn chờ đoàn du
khách tới muộn. Tùng đáp: “Mình không chờ ai đâu
hết cô chú. Thuyền nầy dành riêng cho cô chú. Thuyền
chở 50 chỗ ngồi, mình chơi luôn 50 chỗ! Cho
thoải mái” Nói xong đắc ý cười xòa. Tôi nghĩ
bụng, phen nầy thuyền rộng không người,
đức vua và hoàng hậu tha hồ mà quần thảo,
năm sau ắt trổ sanh ấu chúa tướng mạo
phương phi, mặt trắng môi son, mày tầm mắt
phượng. Thuyền kéo một hồi còi dài nhổ neo.
Xúp lê ba thuyền ra biển Bắc, tay vịn song sắt
miệng chắc lưởi kêu trời!..Thuyền ra
khỏi bờ độ vài ba con sào thì có hây hẩy gió
động, sóng vỗ rập rình..Tay cầm chén nghiêm tôn,
mắt nhìn vầng ngọc thỏ, nhấp một chén, ngâm
một câu..Thôi thôi cha nội, ai can du. Cha lộn tham quan
Vịnh Hạ Long với Đêm trăng chơi thuyền
trên Hồ Tây zồi đấy, giác ngộ đi!
Đức vua và hoàng hậu được
cung thỉnh lên nghinh phong các ở từng trên để
tập lèo lái con thuyền quốc gia một trăm lẻ
ba ngựa. Mặc cho bão táp mưa sa, thuyền rồng
vẫn không lạc hướng (hướng nào). Tùng
chỉ chỏ lên tiếng giải thích các hòn lố nhố
trong Vịnh. Tôi chỉ nhớ được tên Hòn Gà
Chọi. Sau đó, yến
tiệc được trịnh trọng bày lên cho hai
bực phụ mẫu chi dân đối ẩm. Tôm nè, cua nè,
sò nè, mực nè, toàn là sơn hào hải vị. Mỹ
tửu: bia, bia Hà nội, bia Sài Gòn, bia Heineken. Điều
ấy quả nhiên hiệp ý Trẫm! Vừa nhâm nhi vừa
ngoạn cảnh. Hòn, hòn lớn, hòn nhỏ, hòn trơ
trụi, hòn um tùm, hòn tròn, hòn méo, hòn thấp, hòn cao, hòn dạng
thú, hòn không dạng, hòn lạnh lùng, hòn rủ rê, hòn ngó
trời, hòn soi nước, hòn u sù, hòn mảnh mai, những
hòn là hòn, nhiều vô số kể, đếm hoài không
hết. Trên một vách đá phẳng phiu, bảng cờ
Liên Hiệp Quốc xanh nhạt trương lớn.
Một chỗ nước trong, chiếc du thuyền
trắng nhỏ bỏ neo, mấy đứa nhỏ da
trắng tóc vàng đeo phao lỏm bỏm lội quanh,
đưa tay vẫy chào. Thuyền rồng nhấn ga
vượt một thuyền rùa chở nhóc anh em hữu
nghị-với bình thủy cặp nách là cái cẳng.
Một vài xuồng con cặp theo thuyền rồng, mời
mua tôm cá cua sò mới vớt được. Xa xa, nhiều
dãy nhà sàn cất trên bè cây, bên dưới nuôi hải
sản. Một con chó vàng mập ú đứng chống
nạnh bên bè, giương mắt ếch ngó ghe thuyền
qua lại ngoắc đuôi lia lịa, có lẽ biết mình
nhờ chó dắt nên mới tới được chốn
ni, nước non phiêu lãng, phong cảnh hữu tình, xa
chốn phồn hoa đô hội, nhất là rất xa ..siêu
thị cầy tơ. Ngó thấy bá tánh khắp nơi an vui,
đức vua và hoàng hậu rất lấy làm đẹp
dạ.
Bước cao bước thấp gập
ghềnh,cheo leo đuôi chuột chênh vênh tai mèo. Nương
đá cạnh vịn cảnh eo. Cây xào xạc lá
vượn leo lắc cành..
Leo hòn, trèo dốc, chui hang, xuống
động. Mình rồng ê ẩm, chân ngà ngất ngư.
Trở lại thuyền hoa, xả hết máy trực
chỉ Cát Bà, một đảo nhỏ nhưng lại là
đảo lớn nhứt trong Vịnh. Đảo trong
hồi tân trang, thiết lập cơ sở, mở
đường, đặt ống, dựng khách sạn
để rù quến và đón tiếp du khách.
Đường xá đào bới trắc trở,
đức vua và hoàng hậu đành phải đeo cứng
lưng thứ dân, đáp xe ôm về khách sạn. Tắm táp
nghỉ ngơi. Buổi chiều ra đứng ngoài bao
lơn ngó hoàng hôn vàng sẫm buông cánh buồm nâu xuống
lòng Vịnh, từ từ chầm chậm, nghe lòng mình êm
ả mà háo hức, như Dũng Đoạn Tuyệt
sấp sửa cất vó ngựa lao mình vào sương
gió..Cát bụi tung trời đường vất vã còn dài,
nhưng hãy tạm dừng chân. Tưởng người
nơi chốn xa xăm ấy, chẳng biết vui buồn
đón gió xuân..
Anh đi đường anh, tui
đường tui, tình nghĩa đôi ta nó tối thui.
Trong bóng đêm dầy đặc của
khách sạn tôi bị thê húc mấy lần khi lò dò đi
giải thủy. Nàng cũng té ngửa hoang mang nơi
xứ lạ quê người.
Tùng hướng dẫn chúng tôi đi
thăm đảo Cát Bà-Còn các ông thì đi chỗ khác
chơi. Khí trời mát mát, mây giăng xám xám, cây cỏ xanh
xanh, rẫy rau nho nhỏ, vài cô xinh xinh, ngõ đất
lầy lội, tưởng chừng như đang dạo
chơi ở cao nguyên thuở nào, Đà Lạt hay Ban Mê
thuột..phố núi cao, phố núi mờ sương,
phố xá cây xanh, như phố tình thương, đi
dăm phút, đã về chốn cũ.. em Pleiku! Má
đỏ môi hồng..đoàn người hỗn loạn
hốt hoảng lam lũ kinh hoàng, trực thăng lạch
cạch la đà sát trên đầu xe nhà binh, xe thiết giáp,
xe jeep, đại pháo ngắn dài tranh lối chen lấn
mịt mù trên quốc lộ số 1 ốm o nghẹt
cứng..Cuộc triệt thoái vụt vã khỏi vùng 2
chiến thuật, cuộc triệt thoái bốc đồng
thảm thiết đần độn ngốc nghếch
chết người, chết rất nhiều
người..Thôi thôi, vói tay vặn tắt màn ảnh trong
trí tưởng. Trí nhớ, trí nhớ. Trí nhớ khủng
khiếp!
Tùng hướng dẫn chúng tôi rẽ vào
một lối mòn nhỏ nát cỏ xanh lẫn đất
ướt, leo lên một dốc nhỏ, dừng lại
trước một cửa động lớn. Xuất
hiện một bác bộ đội già, mặt nhăn nhúm
khắc khổ, môi thâm, râu mọc lún phún, quần áo nón
cối màu xanh rừng rú, mặt nón trước gắn
một ngôi sao vàng le lói, tay xách cây đèn bấm lớn,
loại đèn thợ mỏ, cả người toát hơi
rừng rú chông gai, nằm gan nếm mật, ngoại
trừ nụ cười xệu xạo hiền lành. Tùng
giới thiệu. Ông mở tiếng chào, giọng Bắc
nhà quê đặc sệt. Xong Ông đưa tay mời chúng
tôi vào viếng động. Động Chu Trang. Ông dọi
đèn bấm lên cao, xuống thấp, vách phải, vách trái,
ngõ ngách, hốc kẹt, thao thao giải thích tận tình,
đầy đủ chất lượng, đúng tiêu
chuẩn quốc tế ISO nghề nghiệp. (Hoan hô! Hoan hô!).
Đây là chỗ dưỡng thương của các
đồng chí cao cấp trước khi trở lại
mặt trận. Đôi khi có cả nữ đồng chí. Tôi
hỏi có hộ lý không? Ông ngơ ngác. Tiếp tục.
Đây là nơi chơi cờ, chỗ nầy đánh bóng
bàn, còn đây là hồ bơi-sâu không đầy năm
tất, trên cao lông dông xuống nhất định biếu
hàm răng mái hiên là cái chắc. “Chỗ lày nà vững
chắc nhất tại nà vì có đồng chí Trung Quốc (thời
Mao Xếnh Xáng) gửi cố vấn xang rúp đỡ
tăng cường sức chịu đựng”. Vào sâu
tận cùng, terminus, đoàn người triệt thoái. Bác
bộ đội già dọi đèn bấm xung phong đi
trước- như cả đời bác đã từng xung
phong dưới đường tên mũi đạn, tay
đua cao hết gậy gộc đến mã tấu,
hết mã tấu đến AK rồi B 40. May mà còn sống
sót. Chắc nhờ sanh ra dưới một vì sao tốt,
tốt quá tốt.
Đứng trên vuông đất rộng
trước cửa động ngó xuống cây cối xanh
um dưới thấp tôi hít không khí trong lành đầy
ứ phổi. Quay sang hỏi bác bộ đội già:
“Mỹ nó có dội bom động nầy không bác?” “Có
chứ! Nhiều nắm. Cả Tây lữa. Máy bay cánh
quạt, bê nhăm hai, ối chà nà đủ thứ
hết. Nhưng chả hề hấn gì.”. Ngẫm nghĩ
một hồi, bác bấm lại đèn, đưa tay lên
cao chỉ vào động: “Nơi động Chu Trang lày quân
rân ta đã từng thắng ba chận zặc nớn :
zặc Tàu, Zặc Tây, zặc Mỹ!” Bác hếch mặt
mũi lên cao, sao vàng le lói dưới nắng sớm,
tưởng chừng còn ngửi được mùi
thuốc súng quanh quất đâu đây. Dốc lên khúc
khuỷu dốc thăm thẳm, Hun hút cồn mây súng
ngửi trời..Chờ cho cơn hồ hởi qua đi,
tôi hỏi nhỏ: “Còn trận giặc thứ tư nữa
là trận giặc kinh tế, quân dân ta thắng được
chưa bác?” Người bộ đội già vụt
khựng lại, nín thinh, tắt đèn bấm, mặt không
vui. Một giây, hai giây, ba giây..rồi mỉm cười
trở lại. Tôi chợt hối hận. Người
bộ dội già đứng trước mặt tôi đã
hy sinh hết cuộc đời mình, hy sinh hết tuổi
thanh niên lẫn tuổi trung niên của mình cho cách mạng
mà bác hằng vững tin suốt đời không hề suy
suyển. Giờ đây là con ngựa già phế thải,
gối mỏi chân chùn lui về cái động lich sử
khỉ ho cò gáy này làm kẻ dẫn đường, tình
cờ gặp nhau đây lẽ nào tôi lại “đố vui
để chọc”, đặt cho bác một câu hỏi
nhớn tóe khói về kinh tế? Có ngon lành thì về Hà
Nội cởi truồng đánh trống giữa triều
mà hỏi- nhớ đừng quên xâm mình. Gẫm lại, tôi
còn may mắn hơn bác rất nhiều mà. Nỡ nào? Tôi
đút tay vào túi lôi ra mấy tờ cụ Hồ dúi vào tay
bác. Bác siết chặt tay tôi, cám ơn nhỏ. Tôi vỗ vai
người bộ đội già, cười giã biệt.
Người bộ đội già nhoẻn miệng ngó theo,
răng cái còn cái mất.
Chúng tôi tiếp tục lội bộ trên
đường đất, chân giẵm lên cỏ xanh, hai
bên đường cây lá um tùm, cảm giác mát mẻ dễ
chịu. Rẽ vào một xóm nghèo, nhà nền đất vách
lá, mái lá lẫn lộn mái tôn, gà vịt heo chó chạy
lăng xăng, một chiếc xe nhà binh Xô Viết mất
hết bánh, bể hết kiến, nằm xiêu vẹo
trước sân. Vài ba thùng phuy chứa nước rải
rác. Ở miền Nam thời chiến cũng y chang như
vậy thôi. Gia tài của mẹ cả đấy!
Đi sâu vào xóm, trong lùm bụi hai bên
thỉnh thoảng thấy có bảng đề “Cấm
săn thú”, “Cấm cho thú ăn” nhưng dòm đỏ con
mắt chả thấy khỉ, chả thấy hươu,
chả thấy nai, chả thấy vượn, chả
thấy con khỉ mốc gì hết. Cuối xóm, đụng
một chân đồi, dốc đồi có xẻ bực
đi lên. Ì ạch leo lên khoảng lưng chừng,
chẳng thấy gì lạ. Hỏi, Tung đáp “Có leo lên
cũng thế thôi cô chú ạ. Chả có con thú gì trên kia
hết”. Lần mò tuột xuống. Tạt vào quán lộ
thiêng của cô hàng nước trẻ quê mùa ở chân
đồi giải lao, duổi chân rồng cho giãn gân
cốt.
Rời đảo Cát Bà, buồm đỏ
lớn căng gió nồm, thuyền rồng từ từ
xuôi Nam về Bến Ngự một đêm giăng sáng…..
“Thôi thôi, bắt đầu nói sảng rồi đó cha
nội! Thả ngược lại đường xưa
lối cũ, chúng tôi xuyên Vịnh Hạ Long vào buổi trưa
hôm sau, trời hiu hiu nắng. Gặp lại người em
gái Việt Nam da vàng cặp xuồng vô mời mua cua sò.
Gặp lại chó vàng hạnh phúc đứng ngoắc
đuôi phì phà thuốc lá trên bè. Thầm hỏi nhỏ: “
Mầy có muốn đổi kiếp chó làm kiếp
người ( có đỉnh cao trí tuệ, có cách mạng, có
tư duy, có bốn ngàn năm văn hiến, có lịch
sử oai hùng, có….. .) với tao không?”. Nó vẫn tiếp
tục ngó trời mà ngoắc đuôi, nhả khói, lặng
im như thiền sư. Biết trả nhời xao ( cho
ấm đôi vành môi)?Rồi cứ lặng im rồi
khuất bóng, rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi..
Một du thuyền nhỏ hơn túc còi
vượt thuyền rồng. Gã tài công trung niên, mặt xám
nắng, hả hoát hàm răng trắng la ơi ới,
đưa cao cánh tay gân guốc vẫy vẫy chào
đồng nghiệp, tài công của đức vua. Cánh tay
chắc nịch có xâm rồng xâm rắn. Ạ ạ.. Cánh
tay xâm bất thần đánh thức lịch sử
đời đời của con Rồng cháu Tiên. Dân Giao
Chỉ ta há đã chẳng từng xâm chằn chịt
khắp mình mẩy giả làm con thuồng luồng
để hù cá mập, cá voi, cá xà, cá mú à? Xâm mình từ khuya!
Khuya rất khuya! Từ hơn bốn ngàn năm
trước (là cái chắc) Trước cả Giê Su, trước
cả Thích Ca, trước cả Khổng Tử,
trước cả Lảo Tử- nhằm nhò gì ba cái lẻ
tẻ. Giao Chỉ , năm bờ oan! Tàu, Trương Phi mà
xâm mình à? Đồ bỏ! Mỹ, Rămbô à? Đồ
bỏ! Nhựt, Xacuda à? Đồ bỏ! Đồ bỏ
hết! Đồ bỏ hết ráo! Nào nào, một hai ba hò
dô ta: “Khỏe vì nước ta uống nước mưa.
Uống nước mưa (đau bụng) ta uống..coca
cola!”
Lẩn quất giữa các hòn một chút
sương mù nhẹ hơn mây mỏng. Cao hứng, tôi ra
đứng trước mũi thuyền, ngực
ưởn, tay nắm chặc dây cáp, chân mặt đưa
lên rồi..để xuống.(Dám nào đặt lên chỗ
úy kỵ).
Mắt rồng phóng nhãn quang đăm
đăm nhìn vào tương lai dân tộc phía trước,
tôi chợt vẳng nghe tiếng ba quân nổi lên vang dậy
trong sương mù: “Trên sông Bạch Đằng! Quân Nam hò
reo, sóng nước xa đưa bao con thuyền mành trôi
theo..” Dù trong tay không một tất sắt, tôi vẫn hình
dung được Đức Trần Hưng Đạo
đứng trước mũi thuyền tiên phuông trỏ
gươm thần xuống sông Bạch Đằng dậy
sóng mà thề rằng: “Phen nầy không phá được
giặc, thề không trở lại sông nầy nữa!”.
Trong người rạo rực náo
nức..Miên man liên tưởng tôi chạnh nhớ tới
ba tôi lúc chèo ghe tam bản tản cư một trưa
nọ trên sông Vĩnh Phước, chợt bị Tây bao vây
ruồng bố bắn súng thụt mọt chê tán loạn
tứ phía. Đám du kích trên bờ xô lấn bà con giành
chạy trước. Ba tôi lật đật buông chèo,
đứng sổng lưng trước mũi ghe, rút
gươm quý của nội tổ, không trỏ xuống
sông mà trỏ lên bờ, không phải để thề mà
để chửi thề: “Đ.M! Đứng lại!
Đứng lại! Giặc tới tụi bây phải
ở lại giữ trật tự cho đàn bà con nít rút lui
chớ sao tụi bây bỏ chạy trước?” Và một
gã du kích đã chõ miệng xuống ghe trả lời ba tôi
ngon lành: “Đ.M.! Gia tài có cây súng quèn ông biểu tụi tui
ở lại cắn tụi nó hả?”.
Mới biết muốn làm được
như Đức Thánh Trần đâu phải dễ! Đâu
phải ai cũng có thể rút gươm ra chỉ sông mà
thề khơi khơi, đâu phải ai muốn mài kiếm
dưới trăng lúc nào thì mài, đâu phải ai muốn
xâm mình chỗ nào thì xâm, đâu phải ai muốn ômcudô hay
xôcura bất cứ lúc nào phút nào thì cứ ôm dô xô ra tự
nhiên được. Đâu có dễ dàng như thế í.
Thôi, nhắm không êm thì bỏ đi Tám! Chợt tài công
bẻ lái bất thần để tránh một hòn lớn u
sù trước mặt, thuyền rồng chao mình qua cua ôm sát
một khúc quanh lịch sử rất ư là gắt củ
kiệu, đức vua chới với đưa luôn hai tay
níu chặc dây cáp cứng, vặn hết mình rồng
để lấy ép-phê cho khỏi rớt xuống bên ngoài
ngai vàng-ta thà sống trong vinh quang chớ không thèm chết
trong vinh quang! Sau khi lấy lại được thăng
bằng, tôi thở phào nhẹ nhổm. Bèn hồi loan, lui
vào hậu liêu để đoàn tụ cùng hoàng hậu.. cho
chắc ăn.
Buổi chiều tới bờ, Tùng và
Dũng đưa chúng tôi về khách sạn mặt
trước ngó ra Vịnh Hạ Long. Dọc theo bờ
biển, khách sạn chơi nhạc, trang trí.. tất
cả đều phảng phất một hơi
hướm rất ư là Ba Tầu Chợ Lớn.
Hỏi, Tùng cho biết nhà nước đã nhượng
cho Tầu Đài Loan thầu hết khoảng bãi nầy
để xì thẩu tha hồ đầu tư, xây cất,
trang trí. Và khai thác, tạo công ăn việc làm cho
người địa phương ( với giá nào?) và..
đếm bạc cắc, dĩ nhiên. Mai mốt đây dân
Nam ta sẽ lại vui hát trên đồng hoa, và rồi ai
nấy, muôn người như một, sẽ cặp
cứng dưới nách một cái bình thủy made in China,
hoặc le lói hơn, MIT, Made in Taiwan. Và nhứt là bằng
lòng. “Khỏe vì nước ta uống nước mưa.
Uống nước mưa ( đau bụng) thì ta..nhẫm
xà!”
Hướng lên đồi cao, Tùng chỉ
một khách sạn cao ráo, lớn đẹp, thanh lịch,
cất theo kiểu ông Tây bà Đầm thời xa xưa vàng
son nọ: “Đây là khách sạn đắt nhất vùng
nầy. Nữ tài tử Pháp Catherine Deneuve đã cư
ngụ tại đây suốt khoảng thời gian quay phim
Indochine đó chú, Cháu chưa được xem. Phim có hay
không chú?” Tôi đáp lập lững: “, thì coi cũng
được. Nhưng đặc sắc thì chẳng có gì
đặc sắc cho lắm.” Trong trí tôi phựt lên
những hình ảnh ám sát, khủng bố, điệu tango
cũ, chạy giặc, bị neo nước, tiếng hò
hét, xung phong, dội bom, biển người, trận
Điện Biên Phủ, tù binh, tự sát, hội Geneve,
hội nghị hòa đàm chia đôi đất nước,
ly tán..anh đi đường anh, tôi đường tôi,
tình nghĩa đôi ta có thế thôi.. Bây giờ đất
nước thống nhứt, thanh bình. Thiệt sự
rồi chăng? Còn trận giặc thứ tư đã
tới đâu rồi? Hay là đã rơi vào mê hồn
trận, đi vay tiền của tư bản Mỹ
thối nát mà ăn, rồi sau đó trả lời, trả
vốn trả lời dài dài, dài dài, rồi phá giá
đồng bạc xứ ta, rồi..vân vân và vân vân..
Chơi với cộng sản nó lột cái áo, chơi
với tư bản nó sẽ lột nốt luôn cái
quần. Ở đó ôm đô la mà hí hửng. Cái màn sập
tiệm của Thái Lan và Á Căn Đình còn sờ sờ
đó. Các em nên lấy đó làm gương mà giữ mình!
Về tới Hà Nội buổi chiều,
trời còn sáng. Lại qua phố, qua phường, qua hàng
chợ, qua các bảng quảng cáo đập vào mắt.
Chợt tôi đọc loáng thoáng trên một vách lớn
“..bao..cấp..”. Ủa, sao kỳ vậy? “Bao cấp” mà
cũng quảng cáo nữa à? Đọc kỹ lại, té ra
là “Bao cao su cao cấp” Bật cười hỏi Tùng: “Hà
Nội đỉnh cao tiết hạnh mà bây giờ cũng
sơ ếch nhái rồi sao?” Tùng gật đầu: “
Sợ chớ chú. Dính vào nó là chỉ có chết!” Thảo nào
cứ nằng nặc đòi thê húc cho bằng
được. Chết bỏ! Đi thực tế. Ta thà
chết vì may máy còn hơn chết vì..may tay!
Sợ cái cảnh thức ăn dọn lên
hoài ăn không hết ở khách sạn, buổi tối tôi
bảo Tùng dắt chúng tôi đi ăn phở, phở Hà
Nội. Phở của sĩ phu Bắc Hà, phở của
Thanh Nam, phở của Mai Thảo “ chỉ có dân Bắc
Kỳ nêm nếm là nhất!”, phở của Nguyễn Tuân,
phở của Vũ Bằng là phải biết! Nhất
đấy các cụ ạ. Tùng dẫn đến một
tiệm phở bò nổi tiếng ( tên gì?) ở
đường Nguyễn Du. Đóng cửa. Di tản
chiến thuật về một tiệm phở gà gần
đó. Bốn tô phở gà lớn, thêm một dĩa lòng gà
phồn thịnh có trứng non tăng cường.
Thịt gà xắt nhỏ bốc mùi thơm ngon. Không có rau
riếc chi cả, ăn theo kiểu Hà Nội mà lị.
Được? Ừ, thì cũng gọi là được
đi. Nhưng theo khẩu vị của tôi nó không sánh
bằng cái phở gà di cư đường Hiền
Vương Sài Gòn thuở nào, hay cái phở gà canh tân hải
ngoại Tây Mỹ bi giờ. Nhưng đối với
khẩu vị người Hà Nội, ăn phở Hà
Nội ngay tại Hà Nội vẫn cứ là ngon thì đã sao.
Ly kỳ? Thiệt ra chẳng có gì tới mức đáng
gọi ly kỳ. Còn nhất thì nhất định là không
thể nào nhất được rồi.
Ăn xong, đưa chúng tôi về khách
sạn, Tùng rút trong túi ở ngực ra tờ giấy in
sẵn, ngần ngại dâng lên bệ rồng nhờ phê
điểm phục vụ. Tôi cười xòa: “Ờ! Gì
chớ cái đó thì dễ ợt !”. Bệ hạ mở
trang nhật ký ra, múa tay tiên phê một lèo từ trên
xuống dưới: “Tốt, rất tốt, tốt
hết, very good, tre`s bien, mucho
mucho.20/20” Xong ký tên cái rột, đóng ấn vua cái cụp
bên dưới. Tùng nhận giấy phê, cười hỉ
hả, cám ơn rối rít-đến động lòng chín
bệ. Tùng cho biết ngay tối nay đã phải cấp
tốc trở ra tiền tuyến nhận công tác
mới.Tiếng nhạc ngựa lẫn chen tiếng
trống, giáp mặt rồi phút chốc chia tay. Tôi nắm
Tùng siết chặc, vỗ vai giã biệt. Chàng từ đi
vào nơi gió cát, đêm trăng nầy nghỉ mát nơi
nao? Nơi nào thì nơi, nhưng đừng có nghỉ mát
theo kiểu Năm Cam nghe cháu. Trong bụng mình tôi thầm
chúc Tùng sẽ may mắn gặp được một
hiền thê..húc nhẹ.
Sáng tinh mơ hôm sau, người
hướng dẫn mới đến tận khách sạn
đón chúng tôi đưa ra tận phi trường. Một
người em gái Hà Nội đích thực ( có cái zốn
nồi?), trẻ măng, xinh xinh, nho nhỏ, miệng
cười mặt trời buổi sáng sớm, nói năng
ngọt sớt dịu dàng như mặt nước Hồ
Gươm. Dọc đường, tôi nhất định
ghé tham quan siêu thị cầy tơ cho bằng được-
kẻo phụ lòng mong đợi của người đã
vượt rừng vượt núi, lặn suối trèo
đèo từ miệt Nam kỳ lục tỉnh xa xôi
đến cái xứ nghìn năm văn vật (ăn
vặt?) nầy. Siêu thị là một dãy quán bán toàn thịt
chó, đủ loại món, thể điệu, từ
rựa mận đến dồi chã, kỳ cựu nhất
là quán Trần Mục. Xin nói rõ và nhấn mạnh là quán
thịt chó, có đề bảng và ghi rõ hẵn hòi là chó chứ không có cầy bừa
chi cả. Nhờ ơn cách mạng, con chó đáng yêu
giờ đây được gọi tên bốn mùa là chó :
con chó quê hương ta đã được phục
hồi nhân vị, chính nghĩa chính danh! ( Hoan hô, hoan hô cách
mạng). Điều nghịch lý: trong Nam, sau khi
được giải phóng hộc máu tóe khói, quán thịt
chó lại được cải danh là quán thịt cầy
thiệt là bất nhơn! Và nương theo đà giải
phóng rầm rộ xâm thực, quán thịt cầy tràn lan
mọc lên như nấm khắp Nam Kỳ Lục tỉnh.
Nội trong tỉnh lẻ Vĩnh Long mà đã có tới sáu
quán thịt cầy chính thức có trương bảng
hẳn hòi. Nhà ở cạnh một trong những quán đó,
chị Trúc tôi bị mất một con chó mực rất
mực trung thành vào một đêm không trăng sao, kẻ ra
đi không kịp đề thư tuyệt mạng tạ
từ người chủ thân tình. Khóc thét! Chị Trúc
sụt sùi luôn mấy bữa, mắt húp cả lên. Chị
thắp nén hương lòng khấn vái, hồn thiêng còn
ở trần gian, nhập vào chó trắng mà sang bên nầy..
Tới phi trường, Dũng đậu
xe mở cửa mời cô chú hạ san, tay xách hành lý
đưa cô chú đến tận cổng vào. Tôi rút túi
đưa cho Dũng mấy tờ cụ Hồ.Bo, như
lời mấy em bia ôm trong quán nữa khuya. Cháu cám ơn, cám
ơn. Tôi quay sang dúi vào tay người em gái Hà Nội
một cụ Hồ cao cấp. Mắt nai tơ tròn xoe
ngơ ngác, bất ngờ, chới với. Đâu có dè
mặc dù từ khuya đã đứt dây thiều, tôi
vẫn còn mang dòng máu công tử Bạc Liêu rỉ rả
chảy trong huyết quản. Gươm ta đâu! Ngựa
ta đâu! Đâu rồi một thời cò bay thẳng cánh,
một thời đốt tiền lên soi mặt giai nhân,
một thời tư rà rà ra từ từ, một thời
ca xang xướng hát, một thời nhịp phách
đoạn trường, một thời vai kề má
dựa, một thời khúc nhà tay lựa nên hôi, một thiên
bạc mạng nghe rồi..bạt tay! Vậy nên giờ
đây, cho dù Út Trà On đã tắt tiếng, cho dù đã
hết sầu vương biên ải, cho dù có bèo dạt huê
trôi thì ta đây cũng vẫn một mực dẫu lìa ngó
ý còn vương tơ lòng.
Máy bay Con Rồng chở mình rồng cất
cánh, bỏ lại dưới chân mây Hà Nội ba sáu phố
phường có con nai vàng ngơ ngác, bỏ lại nơi
hòn đảo xa bác bộ đội già bên cái động
già trong khu rừng già. Lìa xa thành đô yêu dấu, một
sớm khi heo may về.. Nhìn em mờ trong sương khói,
bước đi nhưng chưa nỡ rời..
Về tới Vĩnh Long đã nghe
hương Tết quyện theo những cơn gió hiu hiu
lướt thướt qua trước sân ngoài ngõ. Gió
bước sang cầu, cây cầu Cái Cá, mới thuở nào
đây còn lượn trên con đường lởm
chởm đá xanh trước cửa nhà Anh, cũng tại
cây cầu nầy đây một tối chở Tuyết đi
xem lễ Giáng Sinh giả bộ chết máy.Thương nhau
cởi áo cho nhau, về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay.
Mây xưa cũng bỏ non về, em xưa cũng giả
câu thề đó đây. Bà con thân thích không còn ai. Như
Lưu Nguyễn từ động Thiên Thai nhớ nhà
về thăm làng cũ, chép miệng ngậm ngùi. Bạn bè
cũng bỏ xứ ra đi gần hết. Những
đứa còn lại nghe tin tôi về kéo tới thăm. Có
cả thằng bạn một lần rủ tôi đi
tập kết hồi 54. Sau hơn bốn chục năm
bặt tăm, nay lò dò trở về làng xưa chốn
cũ, có trong tay bằng phó tiến sĩ, giữ một
chân cao cấp trong hội cựu chiến binh nhà
nước trong tỉnh. Nay nó cứ nằng nặc đòi
nhà nước giải tư các công ty (lỗ lã) của nhà
nước-mới biết âm mưu của tư bản
thối nát thật là thâm độc! Đầu vẫn còn
đội nón cối, còn mã tấu không thấy lận
lưng. Họp bạn ăn uống nhậu nhẹt ì xèo,
nhắc lại những ngày xưa thân ái, đường
xưa lối cũ, rong rêu kỷ niệm, sỏi đá
ngậm ngùi. Dô! Dô! Ê, dô mậy!Làm cái gì như gà chết
vậy? Bộ xỉn rồi hả?
Bắt dầu họp chợ Tết,
từ bến đò ngó qua cù lao An Thành dài tới dốc
cầu Cái Cá. Bông. Rất nhiều bông. Mai, cúc, vạn
thọ, thược dược..Trúc kiểng, dừa
kiểng. Nhiều cây mai lớn cành uốn đep
đẽ đứng đợi khách thưởng
ngoạn trong chậu lớn- khách hầu hết là cán
bộ gộc, thương gia phát tài, khách sạn hạng
sang. Một chỗ bày bán anh đào màu hồng thẫm làm
nhớ tới ngôi làng dọc đường ở
đất Bắc. Thống nhứt kiểu nầy thì nên
lắm. Nhưng không cảm thấy cái nhộn nhịp,
lâng lâng, phơi phới. Đâu rồi những đèn khí
đá cùng mùi khí đá hăng hăng, đâu rồi
những tiếng pháo chát chúa dưới chân son mềm và
tiếng la hốt hoảng nở trên những đóa môi
hồng mới lớn? Lòng không còn cái háo hức rộn ràng
như những lần Tết ở tỉnh lẻ
độ nào, năm nào. Có phải ta đã già rồi
chăng? “ Là cái chắc! Còn ở đó mà bâng khuâng lòng
khẻ hỏi lòng. Bộ không biết mắc cở hả
cha nội?”
Chợt món hàng Tết thoáng nhìn rất là
bắt mắt. Nhiều con gà trống giả có gắn lông
thiệt đỏ thẫm mướt rượt bày bán
trên chiếc chiếu trải bên lề đường.
Lớn có, nhỏ có. Tôi dừng bước cầm gà lên
ngắm nghía. Tự dưng nó khiến tôi nhớ lại
lần nọ ông già ruột tôi tới rủ rê ông già
vợ tôi (vốn thích đá gà) theo chân lảnh tụ anh
minh đi đá vịt ở nhà bà tư Cắc Kè trong
(lối về) xóm nhỏ của mình. Ậy, cái tên Cắc
Kè tuy nghe dữ dằn vậy mà hồi đó hiền khô,
không sợ bị ếch nhái gì hết. Còn bây giờ,
trải qua một cuộc bể dâu, những điều
trông thấy mà đau cái đầu, ai mà dám rớ tới.
Bao cao su cho dù cao cấp cách mấy cũng đâu có bảo
đảm một trăm phần trăm. Lạng quạng
vẫn bị dính búa như thường. Không lẽ mang
một lượt ba bốn cái bao cho thằng nhỏ
ngộp thở tử nạn vì công vụ luôn sao? Thôi thôi
thà chết sướng hơn! Kỷ vật nầy xin
trả lại em- em sang sông cho làm kỷ niệm.
Mà hồi cái thuở non nước an
lạc thái bình đó , nếu một mặt ba tôi kẹt
đá vịt bầu mút mùa ở chiến địa Bà
tư Cắc Kè thì mặt khác tôi cũng kẹt đá
vịt tơ dài dài ở mặt trận của chị
tư Tùng ngoài chơ Vĩnh Long. Ngày lại ngày, đêm dài
chiến tuyến. Một già một trẻ, cùng một
lứa bên trời lận đận, lắc lư con tàu
đi. Vui thiệt. Mà cũng thiệt là buồn! Tuyết
chết tức tưởi, ngậm ngùi. Thôi nhé em về yên
Xóm Cỏ, sự đời đã trải cuộc yêu
đương. Nhớ nhau vẫy bút làm mua gió, cho nắm
xương tàn được nở hương..
Tờ lịch rơi..tờ lịch
rơi..Rồi cuối cùng Tết cũng đến. Bên
láng giềng vọng sang những bài ca Xuân lạ tai. Không
còn những ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi, những ngày
thắm vui bên đời xuân mới, lòng đắm say
bao nguồn vui sống.. Cây mai lớn trước sân nhà
nở rộ những bông vàng rực, đúng hẹn
với trời đất. Lòng chợt xao xuyến. Êm
đềm xao xuyến. Như lần đầu bâng khuâng
xao xuyến nhìn theo tà áo trắng học trò về ngang
cửa. Cho tới lúc tà áo ra huốt khỏi tầm nhìn,
ngóng cổ ngó vói theo, thở dài.
Mùng một, đi ra đi vô. Mùng hai, đi
vô đi ra. Như thể chờ đợi, không biết
chờ gì, đợi gì. Mùng ba, buổi tối
được mời đi coi biểu diễn thể
dục thẩm mỹ ở sân khấu Miễu Quốc
Công. Đứa em vợ lưc sĩ đẹp, mở
phòng tập lớn nổi tiến ở tỉnh, dắt
học trò trẻ, nam nữ, choai choai đi biểu
diễn để thị oai và câu khách. Sân khấu có mái che,
khách lớp ngồi lớp đứng lộ thiên
trước sân Miễu lót gạch tàu đỏ. Quan khách
cán bộ cao cấp trong tỉnh ngồi hàng ghế
đầu, trước mặt có bàn để nhiều
chai nước suối đặc sản quê ta. Tết
nhứt mà uống nước lã thì có nước chết
khát! Tôi ngồi kế ngay ở hàng ghế sau ( Nhờ
thằng em vợ có thớ) dưới chưn, một chai
nước suối lớn-bộ tỉnh ta hết
rượu rồi hả?
Chợt có tiếng trống tiếng phèn la
vẳng nhỏ ngoài đường, lớn dần, ầm
chát, vang dậy. Từ phía sau sân tiến vào một đoàn
múa lân nhộn nhịp, trống chiên dồn thúc, ông
địa cầm quạt dẫn đầu, theo sau
một đầu lân bự lớn sặc sở lắc
lư, hai mắt lồi nhấp nháy, đuôi dài lượn
qua lượn lại, uốn lên uốn xuống. Tùng
xèng..tùng tùng xèng..cắc tùng xèn.. Lân và ông địa vô
tới sân Miễu cúi xuống ngưởng lên lắc
lư vái chào khán giả..tùng xèng tùng tùng xèng..xong chờn
vờn đảo lượn trong sân thi thố hết tài
năng, khán giả hoan hô la ó rần rộ..lùng tùng lùng tùng
lùng tùng..Tiếng phèn la dứt bặt, hai dùi gỗ run lên
trên mặt trống liên hồi..lùng tùng lùng tùng..Ông
địa và lân cúi rạp người xuống thật sát
chào khán giả mấy bận. Màn múa lân chấm dứt.
Không có pháo nổ.
Người điều khiển
chương trình bước ra cám ơn mọi
người. Đoạn giới thiệu một thần
đồng tuổi trẻ tài cao biểu diễn một
màn võ thuật. Tiến ra sân gạch của Miễu một
em nhỏ độ chừng tám chin tuổi bận bộ
võ lụa đỏ thắt dây lưng lụa vàng óng ánh,
nhuệ khí bừng bừng. Em nhỏ chắp tay
trước ngực bái tổ, cúi đầu chào khán
giả, đoạn đi mấy đường quyền
cước xoay bốn phía trong sân cho dẽo gân cốt.
Chợt em thụp người xuống thấp múa
những ngón xà quyền trườn bò dợn uốn rất
ngoạn mục. Có tiếng chưn chen lấn lao xao, khán
giả phía sau dồn ập tới. Hai hàng ghế
đầu thấy rõ em bé múa võ, khán giả phía sau lên
tiếng phản đối “không thấy! Không thấy gì
hết!”. Em đã nhỏ người mà lại múa thấp,
phía sau không cách gì thưởng ngoạn được.
Người điều khiển vội vàng bước vô
sân đưa tay ra hiệu cho em nhỏ ngừng múa,
đoạn mời em bước lên sân khấu cao phía sau lưng
tiếp tục chương trình.
Em nhỏ vuốt lại mái tóc, bước
tới sân khấu chống hai tay hất nình vọt lên sàn
gỗ gọn bân, Em chụm hai chân đứng nghiêm,
ngửa mặt lên trời hít thở thật sâu mấy
bận. Em chắp tay trước ngực. Khán giả
chăm chú lặng thinh theo dõi. Đoạn, không biết nghĩ
sao, em chợt đưa tay tháo thắt lưng, cởi áo
lụa đỏ quăng ra phía sau. Mắt phựt sáng, tay
xòe chụm vô tay nắm chặc, em cúi đầu bái tổ
rồi lẹ làng phóng quyền cước lui tới
nhẹ nhàng vụt vụt..cắc tùng xèng tùng xèng tùng tùng
xèng..đứa nhỏ xuống tấn mình cởi trần
bận quần dài đen bước chưn mặt tới
trước đưa hài đen đá gió một cái..Em
nhỏ sà xuống đưa thẳng chưn mặt ra
trước quét tròn chưn đối thủ, quần
lụa đỏ phất phới óng ánh…..tùng xèng tùng
xèng..hất mặt lên hít mạnh tóc bánh bèo phất
phới..tùng tùng xèng..em nhỏ thoắt dừng lại, rùn
hai chưn xuống tấn, hai gò má căng phồng, hai tay
từ từ đưa thẳng lên trời vận khí, ba
sườn ẩn hiện lờ mờ hai bên. trời
ơi! Tôi đây mà!..em từ từ hạ hai tay xuống
tới rún đẩy hơi thở ra xèo xèo rồi lại
đưa hai tay lên cao vận khí, ba sườn lờ
mờ..Tôi đó! Tôi đó..Nước mắt tôi bật
ra..em tấn gối giựt chỏ, cong trảo móc gió..tùng
tùng xèng..xoay người cái rụp ra phía sau dựng bàn tay
mặt xuất chưởng chớp nhoáng..em nhỏ xoay
người đá vòng ngang..tôi hụp xuống lòn chưn
đá móc..em chưởng phía mặt..tôi từ trên cao
gặt tay xuống..nước mắt tôi lăn tròn
xuống má..tùng tùng xèng..rút tay lại chập vào nắm tay
trái trước ngực cúi đầu chào đám
người đứng cao sơn đông mải võ vây tròn
xung quanh.. tôi thở hổn hển cúi đầu bái tổ
chào hết mọi người..tiếng vỗ tay tư
bề vang dậy..
Trong bóng tối, tôi lặng lẽ rớt
nước mắt quạnh hiu, ngậm ngùi nhỏ
xuống giấc mơ cỏn con ấu thời của
mình, cháy xém trong cơn mê dài lửa sắt, phăng cuốn
theo dòng đời, từ bao giờ đã trôi đi mất
tích.
Bagnolet,
tháng chạp 2003
*Thơ mượn của nhiều bực
thi sĩ tiền bối, nhiều chữ được
thay đổi cho thích hợp với bài viêt nầy. Tác giả
thành thật cáo lỗi