Vài Điều Căn Bản của Phật Giáo

theo nhăn quang của một bác sĩ

đă bị méo mó nghề nghiệp.

                                                                            

Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên

                         

 

Lời nói đầu: Đây là một bài rất thô sơ và khiêm tốn, để nêu lên vài điều căn bản[trong hằng trăm điều] của Phật Giáo, được hiểu và viết theo nhăn quang của một bác sĩ đă bị méo mó nghề nghiệp [déformation professionnelle]. V́ vậy mà tôi sẽ tŕnh bày theo thứ tự sau đây:

 

Phần Một    I  - Examen & Diagnostic [Khám bịnh và Chẩn đóan]: Tứ  Diệu  Đế

                    II - Traitement [Chữa bịnh]: Bát  Chánh  Đạo;

                    III- Anatomie [ Cơ- thể-học ]: Ngũ  Uẩn ;   

                    IV- Pathologie [Bịnh -lư -học]: Thập  Nhị  Nhân  Duyên.

 

Phần Hai    I-Microbiologie [ Vi-trùng-học]: Tham,  Sân,  Si

                   II- Pharmacologie [Dược-lư-học]: Từ,  Bi,  Hỷ,  Xả ;

                   III-Etiologie [ Nguyên-nhân-bịnh-học]: Vô  Ngă,  Vô  Tướng.

 

Phần Ba    Prophylaxie, [Pḥng-ngừa-bịnh-học] : Thiền       

                   và bài có ba Phụ- bản.   

 

                                                    

PHẦN MỘT

 

I - Khám bịnh và Chẩn đoán:[ Examen & Diagnostic]  Nói về  Tứ Diệu Đế:

 

Tứ Diệu Đế [Bốn Sự Thật Cao Quư]   [Cattari Ariya Saccari,   Les quatres Nobles Vérités]  gồm có:

 

1 - Khổ Đế [Chân Lư Thâm Diệu về Sự Đau Khổ] [Dukkha Ariya Sacca, Noble Vérité sur la Souffrance];

 

2 - Tập Đế [Chân Lư Thâm Diệu về Nguồn của Đau Khổ] [ Dukkha Samudaya Ariya Sacca,  Noble Vérité sur l’Origine de la Souffrance]

 

3 - Diệt Đế [Chân Lư Thâm Diệu về Sự Diệt Khổ] [Dukkha Nirodha Ariya Sacca,  Noble Vérité sur la Cessation de la Souffrance];      và

 

4 - Đạo Đế [Chân Lư Thâm Diệu về Con Đường Dẫn Đến Sự Diệt Khổ] [Dukkha Nirrodha Gamini Ariya Sacca ,  Noble Vérité sur la Voie qui mène à la Cessation de la Souffrance]

 

Để dễ hiểu hơn, th́ tưởng tượng  Đức Phật là một bác-sĩ, nhơn loại là một bịnh-nhơn. 

Sau khi khám bịnh cho bịnh nhơn:

 

1 - Bác-sĩ chẩn đóan [diagnostic] là : bịnh nhơn mắc phải binh “Đau Khổ” [là Khổ Đế] và nói rằng bịnh này có nhiều h́nh thức [nghĩa là có nhiều loại Đau Khổ] ;

Khổ ThânSanh, Lăo, Bịnh, Tử [sanh ra, già đi, bị bịnh, và chết] ;

Khổ TâmÁi-Biệt-Ly-Khổ [ xa ĺa người, vật, hay cảnh mà ta yêu thích]; Óan-Tắng-Hội- Khổ [phải ở chung với người, vật hay nơi mà ta thù ghét]; Cầu-Bất-Đắc-Khổ [mong cầu mà không được]; Hoại khổ [khổ v́ biết rằng tất cả loại hạnh phúc sớm muộn ǵ rồi cũng sẽ hết]; Hành Khổ [khổ v́ sự việc diển tiến theo điều kiện ngoài sự kiểm soát của ta].

 

2 - Rồi bác-sĩ giải thích tại sao mắc bịnh này [là Tập Đế] là vị bị nhiểm trùng bởi ba vi trùng Tham, Sân, Si.

 

3 - Rồi bác sĩ nói có thể chữa được bịnh [là Diệt Đế] bằng cách cho thuốc trụ-sinh antibiotics để giết ba vi trùng đă có trong người. Antibiotics giết được ba vi trùng đó là Từ, Bi, Hỷ Xả. Và bác sĩ nói đừng cho vi trùng mới ở ngoài xâm nhập vào ḿnh bằng cách phải bỏ cái Ngă.

 

4-Rồi bác-sĩ biên cho bịnh nhơn một cái toa để coi theo đó mà chữa bịnh [là Đạo Đế].

 

II - Chữa bịnh [Traitement]. Nói về  Bát Chánh Đạo.

 

Bát Chánh Đạo [Tám Ngả Chánh] [Ariya Atthangika Magga,   La Noble Voie Octuple]

gồm có:

 

1-Chánh Kiến [Hiểu Biết cho Đúng]  [Samma Ditthi,  Vision Juste];

2- Chánh Tư Duy [Suy Nghĩ cho Đúng] [Samma Samkappa,   Réflexion Juste];

3- Chánh Ngữ [Lời Nói cho Đúng] [Samma Vacca ,   Parole Juste];

4- Chánh Nghiệp [Hành Động cho Đúng] [Samma Kammanta,   Action Juste];

5- Chánh Mạng [Nghề Sinh Sống cho Đúng] [Samma Ajiva,    Vie Juste];

6- Chánh Tinh Tấn [Cố Gắng cho Đúng] [Samma Vayanna,   Effort Juste];

7- Chánh Niệm [Chú tâm cho Đúng] [Samma Sati,    Attention ou Satition*  Juste];

8- Chánh Định [Tập Trung cho Đúng] [Samma Samadhi*,    Concentration Juste}.

 

Vẫn tưởng tượng Đúc Phật là một bác-sĩ, nhơn loại là bịnh-nhơn.  Sau khi bác sĩ khám binh, và chẩn đóan binh là “Bịnh Đau Khổ”, giải thích cho bịnh nhơn hiểu căn bịnh của ḿnh,và chỉ cho bịnh nhơn cách chữa, th́ đưa cho bịnh nhơn một cái toa khuyên ăn uống, kiêng cữ cái ǵ, sống làm sao, uống thuốc ǵ như thế nào để coi theo đó mà chữa bịnh.

 

Cái toa gồm có tám điều [là Bát Chánh Đạo].

 

Điều 1 - Khuyên nên hiểu biết rơ ràng [Chánh Kiến] bịnh t́nh của ḿnh.

Điều 2 - Khuyên nên nhận định rơ ràng [là Chánh Tư Duy] t́nh trạng sức khỏe của ḿnh.  Biết được hai điều 1 & 2 trên, th́ bác-sĩ nói là có được Huệ [Panna*].

Điều 3 - Khuyên ăn nói cẩn thận, nói cho chính chắn, [là Chánh Ngữ], kiêng cữ nói bậy, nói láo, nói hổn, bịa chuyện, nói làm cho người khác nổi giận, hay buồn phiền.

Điều 4 - khuyên hành động [bằng tay chân hay trí óc]cho chân chính [là Chánh Nghiệp] kiêng cữ hành động quá mạnh gạy đau đớn, thương tích hay chết chóc.

Điều 5 - Khuyên phải sống lành mạnh, hành nghề sinh sống chân chính[là Chánh Mạng] kiêng cữ làm đau hay làm chết.

Làm được ba điều 3, 4, & 5 trên, th́ bác sĩ nói là giữ được Giới [Sila*].

 

Sau cùng bác sĩ khuyên : Phải chịu khó cố gắng [là Chánh Tinh Tấn, điều 6], chú tâm [là Chánh Niệm, điều 7] dùng thuốc Thiền cho đều [là Chánh Định, điều 8].

Làm đủ hết ba điều 6, 7, & 8 trên, bác sĩ gọi là Định, [Samadhi*].

 

Theo đúng lời chỉ dẫn trong toa thuốc này, th́ sẽ chửa được hết bịnh, và sống vui vẻ hạnh phúc. Tức là có được đầy đủ Huệ + Giới + Định, th́ sẽ lên được đường đi tới Niết Bàn.

 

Cước chú [Notes]:  

 

* Satition Juste : [do chữ pali Sati] :

a) - acte par lequel on surveille ses gestes , ses paroles, ses sensations, ses sentiments, ses pensées afin de reconnaître comment ils sont et comment ils se produisent.     

b) - acte par lequel on pense souvent au Bouddha Amitaba [là Phật A-Di-Đà] pour l’avoir toujours à l’esprit.

 

* Huệ [ pali là Panna  / skrt là Prajna] “Conscience “ ou “Sagesse”: Concept central du Mahayana [Đại Thừa] désignant une sagesse intuitive et immédiate, et non une sagesse abstraite et soumise à l’intellect. L’instant décisif est celui de la compréhension et de la prise de conscience de la vacuité [Shunyata] qui est la vraie nature du monde. La réalisation du Prajna est fréquemment assimilée à l’obtention de l’Illumination et constitue l’une des caractéristiques essentielles de la bouddhéité [thành Bồ-tát]  Prajna est l’une des “perfections” [Paramitas] réalisées par les bodhisattvas [các vị Bồ-tát] au cours de leur cheminement [Xem Phụ-băn 3 nói về Ba-La-Mật].

 

* Giới [pali là Sila,  skrt là Shila] “Obligations”, “Commandements” L’une des règles éthiques qui régissent la vie des moines et des lạics bouddhistes. C’est l’une des conditions de tout progrès sur la Voie de l’Éveil. Les dix shilas [là Thập Giới] des moines, des nonnes et des novices sont :

1) le respect de la vie;

2) le respect de la propríeté,

3) le refus de toute activité sexuelle illicite, 

4) le respect de la vérité; 

5) le refus de toute boisson enivrante; 

6) le refus de toute nourriture solide après le déjeuner de midi;

7) le refus de la musique, de la danse, des spectacles et de tout divertissement;

8) le refus des perfums et des bijoux;

9) le refus des hauts lits moelleux,

10) le refus de toucher à l’argent, ou à tout autre objet de valeur. 

 

Les cinq premiers [Ngũ Giới; Sát, Đạo, Dâm, Vọng, Tửu] s’appliquent aux bouddhistes laics, qui certains jours, doivent également observer l’ensemble des huit premiers].

 

* Định - [skrt là Samadhi] “Fixer. Attacher” Concentration de l’esprit sur un objet unique grâce à une diminution progressive de l’activité mentale. Samadhi est un état de conscience non dualiste caractérisé par l’union entre le “sujet” et “l’objet” de l’expérience.Cet état de conscience est souvent qualifíe de “focalisation , unique de l’esprit”, expression qui peut induire en erreur car elle laisse supposer que la concentration serait volontairement orientée vers un point précis. Or Samadhi n’est pas concentration sur un point , et l’esprit n’est pas orienté d’un ici [sujet] vers un là-bas [objet], comme dans un schéma dualiste.

[Theo sách Pour comprendre le Bouddhisme  par S.Bercholz & S.Chodzin Kohn, Imprimé en France par la Socíeté Nouvelle Firmin Didot en Février 1999].

 

III - Cơ-Thể-Học.[Anatomie]. Nói về Ngũ Uẩn.

 

Ngũ Uẩn [Les Cinq Agrégats]  gồm có: 1: Sắc;  2:Thọ;  3:Tưởng;  4:Hành;  5: Thức.

 

Theo Phật Pháp con người là kết quả của sự trộn lẫn năm tập-hơp [5 agrégats] được gọi là Ngũ Uẩn.  Mà con người gồm có hai phần dính liền với nhau là thân và tâm. Thân chỉ có một tập hợp là Sắc Uẩn.

 

Sắc [Form] là phần vật chất bao gồm cơ thể con người và tất cả vật chất, h́nh tướng xung quanh, mà các giác quan có thể cảm nhận được.

Sắc gồm có 4 Đại, 6 Căn, và 6 Trần. Sắc là do bốn nhân-tố tạo thành gọi là Tứ Đại [les quatre éléments] [là Đất, Nước, Lửa, và Gió] Sắc cũng bao gồm sáu giác quan [ les six senses]  gọi là Lục Căn trong con người [ là Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Da thịt, và Ư] Sắc c̣n dựa vào Lục Trần  [là   Sắc [forme, h́nh tướng thấy được],   Thanh [son, âm thanh nghe được],  Hương [odeur,mùi ngửi được],  Vị [gout, vị lưỡi nếm được],   Xúc [objets palpables,vật, thân, sờ chạm được] và Pháp [dharmas, ư tưởng, tính chất mà tâm suy nghĩ được].

 

Tâm gồm có bốn tập hợp c̣n lại là : Thọ,  Tưởng,  Hành,  và  Thức.

 

1 - Thọ Uẩn: Thọ [hay Thụ] [Sensation] là phản ứng của Tâm khi có sự xúc chạm với đối tượng. Chỉ có ba phản ứng là : dễ chịu, khó chịu. hay là trung b́nh.[ Nên lưu ư: Thọ chỉ là cảm giác đơn thuần chớ không phải là các thứ t́nh cảm như vui, buồn, v.v.]

 

2 - Tưởng Uẩn: Tưởng [Perception. Identification],Khi có đối tượng [sắc, thanh, hương, vị, xúc..]   Tưởng có nhiệm vụ t́m lục trong hồ-sơ của kư-ức để biết về những chi tiết [như tên họ, h́nh dáng, tính chất, v.v.]của đối tượng . Nếu là một đối tượng mới, th́ Tưởng ghi nhận đối tượng vào hồ sơ của kư-ức  [để ghi nhớ ], để c̣n nhận biết nếu lần tới có gặp lại.

 

3 - Hành Uẩn: Hành [Action, Activités mrntales] . Có nghĩa: hành đông, tạo tác, khuynh hướng, tập quán, cấu thành, xây dựng…..Nó là những tác-ư, hành động, mang tánh chất Tham-Sân-Si nên dù có là thiện hay là  bất thiện, chúng cũng vẫn sẽ được lưu lại trong gịng tâm thức [tàng thức],  những dấu vết, những nhân, có tiềm năng sẽ trổ quả trong tương lai. V́ vậy mà Hành mang ư nghĩa tương đương với Nghiệp [Karma].

 

4 - Thức Uẩn: Thức [Conscience] Công việc của Thức là hướng dẫn đến đối tượng.Khi các giác quan [lục căn] tiếp xúc với đối tượng [lục trần] , nếu không có sự hiện diện của các Thức tương ứng, th́ sẽ không có sự nhận biết đối tượng. Cho nên cũng có sáu Thức tương ứng với sáu Căn  và sáu Trần như sau:

 

   Lục Căn                  Lục Trần                  Sáu Thức

 

Nhăn [mắt]                    Sắc                            Nhăn Thức

Nhĩ [tai]                         Thanh                        Nhĩ Thức

Tỵ [mũi]                         Hương                      Tỵ Thức

Thiệt [lưỡi]                    Vị                              Thiệt Thức

Thân [thân]                   Xúc                           Thân Thức

Ư [ư]                              Pháp                         Ư Thức 

 

Ngoài sáu Thức kể trên, c̣n có Tàng Thức . Khi nhận được tạo tác th́ nó được chứa ở đâu? Tàng Thức là cái kho tích chứa tất cả các loại “nhân” đă từng được tạo tác trong tất cả các tiền kiếp và đang được tạo tác trong hiện kiếp, bất kể thiện hay ác.

 

IV - Bịnh Lư-Học [Pathologie] Nói về Thập Nhị Nhân Duyên

 

Thập-Nhị-Nhân-Duyên [Patichka Samuppada.      La Chaine de Causalité]  gồm có :

1-Vô Minh;   2- Hành;   3-Thức;   4-Danh Sắc;   5-Lục Nhập;   6-Xúc;   7-Thụ;  

8-Ái;   9-Thủ;   10-Hữu;   11-Sanh;   12-Lăo,Tử. 

 

Để cho dể hiểu, th́ vẫn coi Đức Phật như một bác-sĩ. Trong ngành Y , môn Binh-Lư-Học [Pathologie] được dùng để giải thích sự xẩy ra và sự diển tiến của bịnh tật. Thí dụ như  nói:

1- bởi v́ ăn bậy cho nên mới bị nhiễm vi trùng Hépatite;

2- bởi v́ bị nhiễm vi trùng Hépatitite nên mới bị đau gan; 

3-bởi v́ đau gan nên mới chết.

Th́ cái chết là kết quả của 3 cái bởi v́……nên mới [parce que……c’est pourquoi].

 

Trong Phật pháp, cái bịnh “Đau Khổ” là kết quả của 12 cái “bởi v́…nên mới” [tức là Thập Nhị Nhân Duyên] như sau:

1 - Bởi v́ Vô Minh [ngu muội] nên mới Hành [động] ;

2 - Bởi v́ có Hành nên mới có Thức ;

3 - Bởi v́ có Thức nên mới có Danh Sắc ;

4 - Bởi v́ có Danh Sắc nên mới có Lục Nhập ;

5 - Bởi v́ có Lục Nhập nên mới có Xúc ;

6 - Bởi v́ có Xúc nên mới có Thọ [hay Thụ] ;

7 - Bởi v́ có Thọ [hay Thụ] nên mới có Ái ;

8 - Bởi v́ có Ái nên mới có Thủ;

9 - Bởi v́ có Thủ nên mới có Hữu ;

10 - Bởi v́ có Hữu nên mới có Sanh ;

11 - Bởi v́ có Sanh nên mới có Lăo.Tử ;

12 - Bởi v́ có Lăo,Tử nên mới có Đau Khổ.

 

Nói chi tiết hơn:

1 - Vô Minh [Avijja,  Ignorance] là sự mê muội, không sáng suốt. Nó được ví như một cái màn bao phủ tâm trí của ta, không biết từ lúc nào, gây ra sự lầm lẫn và cái nh́n sai lạc về bản chất của vạn hữu.

 

2 - Hành [Samkhara,  Action, Formations Mentales] Có nhiều nghĩa : hành động, tạo tác, xây dựng, Hành là những hành động tùy thuộc vào nơi Vô Minh mà phát sinh, nên nó mang tánh chất “Tham-Sân-Si” th́ sẽ được lưu lại trong gịng tâm thức mà dính với              Nghiệp.

 

3 - Thức [Vinnana,   Conscience] V́ Hành được tích lũy trong gịng tâm thức, cho nên Thức tùy thuộc nơi Hành mà phát sanh. Đến khi chết, khi đơn vị Thức cuối cùng của thân xác cũ chấm dứt, th́ tiếp theo là đơn vị Thức đầu tiên xuất hiện trong một thân xác mới, nối tiếp ghi chép những Hành [động] thiện hay bất thiện , tạo thành Nghiệp [Karma].

[Nên để ư: Tuy cái Thức ghi lại tất cả Hành [thiện hay ác] của ḿnh như làm một hồ-sơ, rồi khi ḿnh chết, chuyển hồ sơ đó cho cái Thức của cái thân mới [mới đầu thai], để cho cái thức mới [thức tái sanh] tiếp tục ghi những Hành thiện hay bất thiện của người mới [mới đầu thai], nhưng Phật giáo không gọi cái đó [cái Thức] là linh hồn, v́ Phật giáo không chấp nhận có linh hồn bởi linh hồn được quan niệm như một thực thể độc lập, bất biến, bất diệt, mà theo Phật giáo th́ không có cái ǵ bất biến, bất diệt hết.]

 

4 - Danh Sắc; [Nama Rupa,Nom & Forme] Con người được sanh ra, phần thân là nhờ tinh huyết của cha mẹ,  c̣n phần tâm là do bốn uẩn Thức, Thọ, Tưởng, và Hành tạo ra .

 

5 - Lục Nhập : [Salayatana    Six Senses] Khi thân và tâm phát triển, th́ sáu giác quan [là lục căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư] cũng thành h́nh. Sáu giác quan này là nơi thâu nhận những dữ-kiện về thế gian [là lục trần :sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp].

 

6 - Xúc: [Phassa,     Contact] Là sự giao thông giữa ba cả thể là: cá nhân [thức], nội giới [căn], và ngoại giới [trần] [xem đoạn nói về Ngũ Uẩn].

 

7 - Thọ [hay Thụ]: [Vedana    Sensation] Là phản ứng của Tâm khi có sự va chạm [xúc] với đối tượng, th́ chỉ có ba phản ứng là dể chịu, khó chịu, hay là trung b́nh [chớ không phải vui, buồn, giận, v.v. là t́nh cảm].

 

8 - Ái: [Tanha,    Soif] Là Ái-Dục. Chúng sinh được tạo dựng trên cơ cấu Tham-Sân-Si, nên tất cả đều có khuynh hướng ngó về những ǵ mang lại cảm giác “sướng”. Từ sự thèm muốn những thứ sắc-thanh-hương-vị-xúc-pháp [lục trần] mà sẽ mang lại cảm giác “sướng” , khát-ái [tanha] phát sanh.

 

9 - Thủ: [Upadana      S’accrocherThủ nghĩa là bám chặt vào vật ham muốn. Có bốn loại Thủ:

1-Thủ Nhục Dục là ham mê hưởng thụ  các thú vui xác thịt; 

2- Thủ Tà Kiến là bám vào các lư thuyết, tín điều [dogmes]; 

3-Thủ Giới Cấm là bám vào các nghi lể, giới luật; 

4-Thủ Thân Kiến  là tin tưởng có một cái “Tôi”  độc lập, và trường cữu đứng sau ngũ uẩn.

 

10 - Hữu: [Bhava,    Devenir] Có nghĩa là sự “Trở Thành” Những Hanh được lưu lại trong gịng tâm thức để thành Nghiệp, sẽ được sọan lại thành bản dơ-đồ [blue print] dùng để tạo dựng kiếp sống kế tiếp [trở thành] chỉ định nơi chốn tái-sanh trong sáu cỏi là :

1-Địa Ngục;   2- Ngạ Quỷ;   3-Súc-Sinh;   4-Atula;   5-Người;   và 6- Thiên.

 

11 - Sanh: [Jati    Naissance] Đă có bản sơ-đồ [blue print] để tạo dựng kiếp sống kế tiếp [Hữu] th́ có Sanh.

 

12 - Lăo, Tử [Jaramarana ,  Vieillesse & Mort] Có sanh th́ phải có Già, và Chết. Và đi cùng với đời sống là Sầu-Bi, Khổ-Năo.

 

Cước Chú [Notes]

 

1 - Hiện tượng “bỡi v́…….nên mới” đưa tới “Thập Nhị Nhơn Duyên” nói trên, trong sách Phật-học bằng Việt ngữ, th́ ghi là : “tùy thuôc……phát sinh” [như nói “Tùy thuộc ở Vô Minh, Hành phát sinh] v.v.  và đưa tới “Luật Nhơn Quả” .

Trong sách Phật-học bằng Pháp-ngữ, th́ nói là “Production Conditionnée” và ghi như: “L’ignorance conditionne l’Action” v.v. đưa tới ‘La Chaine de Causalité

 

                                              

PHẦN HAI

 

Trong phần Một chúng ta đă thấy Đức Phật [như một bác-sĩ] đă khám bịnh nhơn [là nhơn loại] và đă định rơ là bịnh nhơn mắc binh “Đau Khổ” [Khổ Đế], đă cho biết nguồn gốc của bịnh [Tập Đế] là bị nhiễm ba vi trùng Tham, Sân, Si, đă chỉ cho cách chữa bịnh là dùng thuốc trụ-sinh Từ, Bi, Hỷ, Xả, [Diệt Đế] và đừng cho bịnh tái phát bằng cách phải bỏ cái Ngă [Vô Ngă]

Th́ hôm nay chúng ta cố t́m hiểu xem :

1 - Ba con vi trùng  Tham, Sân, Si, là ǵ ?  

2 - Bốn thứ thuốc trụ-sinh Từ, Bi, Hỷ, Xả, là ǵ /  và 

3 - Vô Ngă là ǵ ?

 

I- Vi-trùng-Học [Microbiologie] Tham,  Sân,  Si.

 

1 – Tham: [Cupidité] là trạng thái ham muốn ;

1-vật chất [tiền bạc, nhà đất, sắc đẹp, địa vị, danh vọng, v.v.];  

2-tinh thần [viết văn, ăn nói, đàn hát, v.v.]   

Tham bao gồm đủ các cấp độ nặng nhẹ, từ ao ước, đến ham muốn, đế thèm khát,    Tham nếu không được thỏa măn, sẽ gây ra buồn rầu, đau khổ [cầu-bất-đắc-khổ] hoặc đưa tới những hành động bất chánh như trộm cấp, đánh đập, giết chóc.    Tham nếu được thỏa măn, sẽ đưa đến kiêu căng, ngạo mạn, buông thả, phóng túng, rồi khi mất sẽ buồn rầu, đau khổ [ái-biệt-ly-khổ] Không được thỏa măn, Tham sẽ đưa đến Sân [giận] mà khi được thỏa măn rồi lại bị mất đi, cũng sẽ đưa đến Sân [giận].

 

2 - Sân: [Colère] Sân là trạng thái giận, v́ không hài ḷng, bất măn. có khi giận đến cả với chính ḿnh hay những vật vô t́nh như cảnh vật, thời tiết, v.v. Sân bao gồm đủ các cấp, độ nặng nhẹ, từ thoáng không ưa, không thích, trái ư, khó chịu, bực bội, đến ghét bỏ, câm thù. Sân đưa đến Phẫn [phẫn nộ],  đến Hận [ôm ấp sự óan ghét].   Đến Năo [bực tức trong ḷng],  đến Tật [ganh ghét].

 

3 - Si: [Ignorance] Si là trạng thái không biết, lẫn lộn, không ư thức được .  Sự thiếu hiểu biết sẽ gây những sự nghi ngờ, và hiểu biết sai lầm khác, và c̣n gây ra sự ngoan cố, , tin tưởng vào những việc đă sai lầm.   Si đưa đến Nghi [nghi ngờ, phân vân, không quyết định theo bên nào, hoặc lấy một lựa chọn nào giữa mấy cái khác nhau], đến Bất-Tín [không tin sự thành tín, thiếu tin tưởng], đến Ác-Kiến [quan-điễm, ư-kiến lệch lạc về mọi thứ] , đến Hôn-Trầm [tâm trí uể oải, đờ đẫn].      Si c̣n đưa đến Tham, rồi Tham đưa đến Sân, và c̣n hổ trợ cho nhau nữa. [Nói theo Y-học, th́ ba vi trùng Tham, Sân, Si hoạt động một cách “hợp lực, đồng vận” d’une mańère synergique]. Có Ngu mới Tham,  có Tham mà không được hay được rồi mất mới tức giận [Sân], mà Ngu nhiều th́ Tham càng nhiều, th́ khi mất càng giận dữ nhiều.

 

II - Dược-Lư-Học [Pharmacologie] Từ, Bi, Hỷ, Xả.

 

Theo sách “Đức Phật và Phật Pháp” tác giả Narada Maha Thera, Kim Khánh dịch, 2001,  Chương 42: Tứ Vô Lượng Tâm , tr.653-684:

 

1 - Tâm Từ [pali là Metta,  skrt là Maitr] Nghĩa trắng là cái ǵ làm cho ḷng ta êm dịu, hay là tâm trạng của người bạn tốt. Đức Phật có dạy: “Tâm Từ được rải khấp đồng đều cho mọi chúng sanh, phải bao trùm vạn vật, phải sâu rộng và đậm đà như t́nh thương củabà từ mẫu đối với người con duy nhứt, châm nom bảo bọc con, dầu nguy hiểm đến tánh mạng cũng vui ḷng”.trong bài Metta Sutra [Sermon du Bouddha sur la Bonté ]; [ L’idée exprimée dans le Sutra est que si nous sommes humbles et libres de nos propres attachements, notre bénécolence naturelle peut etteindre tous les êtres sans limitation. Le Sutra souligne la modèle de la bénévolence insondable don’t la nature elle-même nous a pourvus, en suggérant que mous puissions nous attacher à tous les êtres , comme une mère se rattache àon enfant unique.] [bénévolence là ḷng khoan hồng, rộng lượng].

Tâm Từ của Đức Phật là vô biên. Ngài đă tạo an lành hạnh phúc cho tất cả những người thân yêu kính mộ Ngài, cũng như những người ganh tỵ, óan ghét, và những người âm mưu hại Ngài.

Tâm Từ  bao la rông răi, đồng đều, đối với ḿnh cũng như đối với những người thân cận, những người không quen biết, và người có ác ư với ḿnh.

Những danh từ được xem là đồng nghĩa nhứt với Tâm Từ là: thiện-ư, từ-ái, hăo-tâm, bác-ái. Người có Tâm Từ không bao giờ nghĩ đến làm hại , làm giảm giá trị, hoặc bài xích, không bao giờ làm ai sợ.

Đức Phật dạy: “Không thể lấy thù óan để diệt sân hận, chỉ có tâm-từ mới dập tắt ḷng sân”.

 

2 - Tâm Bi [Karuna]   Bi được định nghĩa là động lực làm cho tâm người tốt, rung động trước sự đau khổ của kẻ khác, hay cáiǵ thoa dịu niềm khổ đau, sầu năo, của người. Đặc tính của Tâm Bi là ư muốn giúp người khác giải thoát khỏi cảnh khổ. Đức Phật đă nêu gương lành cao quư bằng cách tự tay chăm sóc người bịnh và khuyên dạy hàng đệ tử như sau: “Người nào châm sóc người bịnh là châm sóc Như Lai”.

Cũng như Tâm Từ, Tâm Bi là vô lượng, vô biên, vô hạn định, phải được rải đến cho tất cả những chúng sinh đau khổ, cho đến những loài cầm thú.

Kẻ thù gián tiếp của Tâm Bi là âu sầu, phiền muộn, [domanassa].

 

3 - Tâm Hỷ [Mudita] Hỷ là vui, Hỷ không phải là trạng thái thỏa thích suông, cũng không phải là cảm t́nh riêng đối với người nào mà tâm  hoan hỷ. Đặc tánh của Tâm Hỷ là hoan hỷ với người thành công, người lộc cao phúc hậu [anumodana]. Ḷng ganh tỵ là kẻ thù trực tiếp của Tâm Hỷ,Tâm Hỷ phải diệt trừ. Tâm Hỷ c̣n có chiều hướng loại trừ mọi h́nh thức bất măn [arati] trước sự thành công của người khác.

 

4 - Tâm Xả [Upekkha] Theo Phạn-ngữ, Upekkha là trông thấy đứng đắn, nhận định chân chánh, hoặc suy luận vô tư. Nhờ vậy mà giữa cơn giông tố của trường đời, người trao dồi Tâm Xả  cao thương, luôn luôn giữ b́nh thản. Đức Phật dạy rằng người trí tuệ minh mẫn luôn luôn thản nhiên hành Tâm Xả, vững chắc như tảng đá to sừng sựng giữa những thăng trầm của thế sự. Ngài nói: “Vững như voi không run sợ trước tiếng động,ta không nên để tâm rối loạn trước những làn tên có tẩm thuốc độc, của miệng lằn, lưỡi mối. Như gị thổi ngang màn lưới mà không vướng mắc trong lưới, tuy sống giữa chợ người ta  không nên say mê luyến ái những lạc thú huyền ảo của thế gian vô thường biến dối nầy.Như hao sen không bị bùn do nước đục làm dơ bẩn, vượt lên khỏi bao nhiêu qyuến rũ của thế gian, ta phải sống trong sạch, luôn luôn tinh khiết, an lạc và thanh b́nh,không bị nhiễm ố”.

Kẻ thù trưc tiếp của Tâm Xả là luyến ái [raga],và kẻ thù gián tiếp là trạng thái lănh đạm, thái độ lạnh lùng. Tâm Xả lánh xa tham ái và bất măn. Thái độ vô tư, thản nhiên, an tịnh, là đặc tánh chánh yếu của Tâm Xả. Người có Tâm Xả không bị lạc thú trần gian quyến rũ, không thích thú say mê trong hạnh phúc, cũng không bị những ǵ nghịch ư làm bực tức buồn phiền, haybất măn trong khổ đau.

Tâm Từ bao trùm tất cả mọi chúng sanh,; Tâm Bi những chúng sanh đau khổ;  Tâm Hỷ những chúng sanh hạnh phúc;  Tâm Xả phủ khấp những ǵ tốt đẹp và những ǵ xấu xa, những điều khả ái và những điều khả ố, những thích thú  và những nghịch ḷng.

Bốn Tâm  Từ,  Bi,  Hỷ,  Xả, nói trên là bốn phẩm hạnh vô giá được gọi chung trong tiếng Phạn là “Brahma Vihara” , có nghĩa là lối sống cao thượng, trạng thái cao siêu, hoặc chổ nương tựa của Thánh Nhân. Ta gọi là “Tứ Vô Lượng Tâm

 

III - Nguyên Nhân Bịnh Học  [Etiologie]. Vô Ngă,   Vô  Tướng.

 

1 - Vô Ngă [Anatman Pas de Soi] Vô Ngă là một điều căn bản quan trọng và đặc biệt nhứt của Phật giáo, mà cũng là điều khó hiểu và khó giải thích nhứt.

Theo sách “Pour comprendre le Bouddhisme” của S.Bercholz & Chodzin Kohn, 1999, ở tr. 408:[Anatman (skrt), Anatta (pali) “Consciencehéréditaire”, une des trois caractéristiques de toute existence. La doctrine de l’Anatman  est l’une des principales théories du bouddhisme. Elle nie l’existence d’un soi dans le sens d’une substance impérissable, immortelle, unique, et indépendante. Dans la bouddhisme le Moi n’est qu’une personnalité empirique, composée de cinq agrégats[Skanha] éphémère, changeante, et donc destinée à souffrir.]

 

Để hiểu Vô Ngă, trước hết phải nh́n vào và phân tách hai hiện tượng sau đây:

 

a - Hiện tượng Cầu Ṿng [arc-en-ciel]. Ai cũng thấy cầu-ṿng, với bảy màu sắc của nó, nhưng khi đến tận nơi để t́m kiếm th́ chẳng thấy nó đâu. Không thể nói rằng “không có cầu ṿng” v́ rơ ràng ḿnh thấy nó, mà cũng không thể nói là “có cầu ṿng” v́ ḿnh không gặp được nó. Chỉ có thể nói là nó “không thật có”.

 

b - Hiện tượng Mặt Trăng Trong Hồ . Nh́n vào hồ nước thấy rơ ràng trong hồ có mặt trăng sáng chói, nhưng khi lội xuống hồ để t́m kiếm th́ không thấy nó đâu. Không thể nói là “ không có” mặt trăng trong hồ, v́ ḿnh đă thấy nó rơ ràng, mà cũng không thể nói là “có” v́ ḿnh lội xuống hồ mà không gặp được nó.Chỉ có thể nói là nó “không thật có

Không thật có là v́ không tự nó mà có. Có cầu ṿng là v́ có ánh sáng và có hơi nước. thấy mặt trăng trong hồ là v́ có mặt trăng và có mặt nước hồ.

V́ không tự nó mà có , nên cầu ṿng không thể tự nó thay đổi [tức là không độc lập v́ tùy theo số lượng ánh sáng và số lượng hơi nước, cầu ṿng có thể dài, hay ngắn, hoặc lâu hay mau] V́ không tự nó mà có, cầu ṿng không thể có thường xuyên [tức là vô thường] và không thể có măi măi mà c̣n có thể mất khi không có ánh sáng hay là không có hơi nước [tức là không bất biến]. Mặt trăng trong hồ cũng vậy. V́ không tự nó mà có, nên nó không thể có thường xuyên và bất di bất diệt.[tùy theo trăng có bị mây che lấp hay không, nước mặt hồ có bị gió làm nhăn hay không, và tùy theo ngày có trăng hay không, ḿnh mới thấy có hay không có mặt trăng trong hồ.]

Như vậy những đặc điểm của sự “không thật có” là :

1- không tự có;

2- không bất biến; 

3- không độc lập;  

4- không thường;    

5- không bất diệt.

Đem cái lối nh́n hai hiện tượng trên vào việc nh́n vào con người ḿnh [là cái “Tôi”, cái “Ta”]không phải tự bhiên mà có. [không tự có] v́ Thân là nhờ ở cha mẹ và được Sắc Uẩn   cấu thành. C̣n Tâm là do bốn uẩn Thọ,  Tưởng,  Hành,  và  Thức cấu thành.Như vậy cái “Tôi” cái “Ta” là kết quả của sự trộn lẫn 5 tập hơp [Ngũ Uẩn] mà không có uẩn nào tự có,  độc lập, bất biến, bất diệt, tức là tất cả 5 uẩn thuộc vào loại “không thật có”. Th́ cái “Tôi”, cái “Ta” cũng thuộv cào loại “không thật có” , nghĩa là “Vô Ngă” [khi hiểu chữ Vô ở đây không phải là “không có” mà la “không thật có”.]

 

2 - Vô Tướng: [Animitta,   Vacuité, le Vide ] Vô Tướng [hay là Tánh Không] là một quan niệm cũng rất đặc biệt và rất quan trọng của Phật Giáo.

Animitta: absence d’objet, de réalité objective qui existe indépendamment de l’esprit, à la différence d’Anatman [vô ngă] qui est l’absence de soi, de réalité distincte qui fait qu’un être est lui-même et non un autre. Le principe d’Animitta affirme l’illusorité des objets sensibles et intelligibles [ theo sách “Six Sermons du Bouddha” par Hiền –Mật Đổ Hữu Trạch, 2002,tr.131]  [illusorité  là từ chữ illusoire nghĩa là hăo-huyền, huyền-hoặc.]

Đem lối nh́n và lối phân tách hai hiện tượng “Cầu Ṿng và Mặt Trăng Trong Hồ Nước” nói trên, áp dụng vào một vật [un objet] như cái nhà,  th́ ta thấy cái nhà không tự nó mà có, [nó là cái nhà khi tất cả những thành phần như gỗ, ván, gạch, ngói, hồ, vôi, xi-măng, đinh, ốc, v.v. được ráp lại]. Với thời gian, nắng, mưa, gió, tuyết, sương,  nó bị hư hao nên thay đổi h́nh dáng,[tức là nó không bất biến], mà không phải nó tự ư biến đổi được [tức là nó không độc lập],  rồi sau lâu ngày nó sụp đổ không c̣n là một cái nhà nữa [tức là nó không bất diệt]. Không tự có, không bất biến, không độc lập, không bất diệt, tức là nó thuộc vào loại “không  thật  có

 

Rồi một cái cây không phải là cánh rừng, nhưng nhiều cây tụ lại một chổ th́ ta đặt tên cho chúng là một cánh rừng.  cái bánh xe không phải là cái xe; tay lái, máy xe,v.v. cũng không phải là cái xe, nhưng khi ráp tất cả bộ phận nầy lại, th́ ta gọi chúng là cái xe.  Cũng như khi mặt ta nóng đỏ, máu huyết sôi lên, cơ thể run rẩy, cộng những yếu tố nầy lại ta nói đó là sự giận dữ.  Như vậy, nếu phân tách và khảo sát tường tận th́ sẽ không thấy cái ǵ là cánh rừng, là cái xe, hoặc là cơn giận : chúng chỉ là những tên gọi. tượng trưng cho những hiện tượng vật chất hoặc tinh thần được kết hợp bởi những thành phần khác. Hiểu nghĩa này th́ tất cả sự vật là tên gọi được gắn đặt, chớ chúng không thật có. Tức là vạn vật đều  “Vô Tướng” [có “Tánh Không”] Animitta.