GIÁO DỤC Ở NAM VIỆT NAM
TỪ XƯA ĐẾN HẾT ĐỆ
NHẤT CỘNG H̉A
Nguyễn Thanh Liêm
Trước khi bị Pháp
đô hộ, nền giáo dục ở Việt Nam là nền
giáo dục cũ của Nho gia, gọi nôm na là “cái học
của nhà Nho” như nhiều người thường nói.
Nền giáo dục cũ này chịu ảnh hưởng
nặng nề của Trung Hoa, từ chương tŕnh, sách
vở, lối học đến cách thức thi cử.
Tổ chức giáo dục xưa được Đào Duy
Anh ghi lại như sau trong quyển Việt Nam Văn Hóa
Sử Cương:
“Ở mỗi huyện có quan
Huấn đạo, mỗi phủ có quan Giáo thụ,
dạy Tứ Thư Ngũ Kinh cho học tṛ khá. Ở
mỗi tỉnh có quan Đốc học dạy các sinh
đồ cao đẳng. Ở Kinh đô có trường
Quốc tử giám. Các vị học quan kể trên đều
ở dưới quyền giám đốc của bộ
Lễ hoặc bộ Học. Trong dân gian th́ xưa nay
việc học vẫn hoàn toàn tự do. Thầy học th́
có thầy khóa, thầy đồ, thầy tú dạy trẻ
con, cho đến bậc đại khoa không xuất chính,
hay các quan trí sĩ, có người dạy đến
trăm ngh́n học tṛ.”
Trường học th́
phần lớn là nhà riêng của ông thầy, hoặc ở
chùa hay ở đ́nh, miểu trong làng. Giáo dục có thể
xem như là công việc của nhànho hơn là của
quốc gia, không thuộc một cơ quan công quyền
với sự tài trợ và kiểm soát đôn đốc
của chính phủ. Không có một hệ thống tổ
chức qui mô của một nền giáo dục quốc gia
gồm đủ cơ sở và nhân viên giảng huấn và
điều hành từ trung ương đến địa
phương, từ cấp thấp (như tiểu học)
lên cấp cao (như đại học). Chương tŕnh
học th́ gồm có mấy quyển Tam Tự Kinh, Sơ Học
Vấn Tân, Ấu Học Ngũ Ngôn Thi, Dương Tiết
và Minh Tâm Bửu Giám ở cấp vở ḷng, xong rồi lên
trên th́ học Bắc sử (tức sử Tàu) và Tứ
Thư Ngũ Kinh. Tất cả những sách này là sách
gối đầu giường của Nho gia, chú trọng
hầu hết vào triết lư, luân lư, đạo đức
chứ không có một ư niệm khoa học kỹ thuật
nào chen vào. Phương pháp giảng dạy th́ phần
lớn như Đào Duy Anh tả: “thầy th́ cứ nhắm mắt mà giảng chữ
nào nghĩa nấy chỉ sợ sai mất nghĩa của
Tống Nho.” Phương pháp học hỏi th́ hoàn toàn
dựa vào sự học thuộc ḷng thu gọn vào trong công
thức “sôi kinh nấu sử” tức là học tới
học lui măi cho đến khi nào thuộc nằm ḷng
Tứ Thư Ngũ Kinh và Bắc sử. Người đi
học thực tập nhiều nhất là viết chữ
cho thật đẹp như “phụng múa rồng bay”, làm
thơ, làm phú, kinh nghĩa, văn sách, chế chiếu,
biểu, câu đối, cho thật nhanh, thật khéo và
thật chỉnh, dùng được càng nhiều
điển tích càng hay để có thể đậu
được các kỳ thi do triều đ́nh tổ
chức. (Có ba kỳ thi: thi Hương tổ chức
ở một số địa phương để
lấy Tú Tài; thi Hội và thi Đ́nh tổ chúc ở trung
ương để lấy Cử Nhân và Tiến Sĩ).
Tất cả các kỳ thi đều là thi tuyển và
chỉ nhắm vào một kỷ năng của thí sinh là làm
văn làm thơ dưới nhiều dạng như thơ
đường luật, kinh nghĩa, văn sách, v v ...
Thường th́ ba năm mới có một khoa thi, và đi
thi là cả một vấn đề khổ nhọc cho
sĩ tử v́ trường thi ở xa, đường
giao thông khó khăn, phương tiện giao thông c̣n rất
thiếu kém. Thi đậu được th́ có thể ra
làm quan, không th́ lui về làm thầy đồ thầy khóa,
“tiến vi quan, thối vi sư” vậy. [Chữ viết
chính thức dùng trong các kỳ thi và trong phạm vi công
quyền là chữ Nho hay chữ Hán. Nhà Nho, lúc trà dư
tửu hậu, khi hứng thú bên cạnh các ả đào,
hay khi buồn khổ muốn thở than, muốn giải
bày tâm sự ḿnh th́ thường làm thơ, phú, hay hát nói
bằng chữ Nôm. Chữ Hán là chữ Trung Hoa mà
người Việt vay mượn để xử
dụng nhưng phát âm khác hơn là người Tàu. Chữ
Nôm cũng cùng một lối kiến trúc như chữ Hán;
đúng ra nó cũng gốc là chữ Hán được các
nhà nho biến cải sửa đổi để ghi âm
những tiếng Việt mà chữ Tàu không có. Khi nhà nho
muốn nói “thiên, địa” th́ nhà nho có sẵn chữ Tàu
để dùng, nhưng khi họ muốn nói “trời,
đất” th́ không có chữ nho nào viết ra trời
đất được nên họ phải mượn và
ghép những chữ nho đă có làm thành chữ mới ghi âm
tiếng Việt. Chữ mới ghép đó là chữ Nôm.
Chữ Hán cũng như chữ Nôm là loại chữ
tượng h́nh, tượng ư (ideographic) nghĩa là thứ
chữ vẽ ra h́nh ảnh hoặc ư nghĩa của
chữ mà không diễn tả cách đọc. Chữ
Quốc Ngữ, cũng như chữ Anh, chữ Pháp, hay nói
chung loại chữ dùng mẫu tự La Tinh ghép lại là
loại chữ biểu tả cách đọc (phonetic) mà
không diễn tả h́nh ảnh hay ư nghĩa. Chữ Nôm
rất được thịnh hành trong văn chương
Việt Nam hồi thế kỷ XVIII và XIX nhưng không
được chính thức công nhận và xử dụng
trong công quyền].
Lớp người
được đào tạo từ ḷ Nho học cũ là
lớp trí thức “Sĩ Phu”, lớp người
đứng đầu trong tứ dân mà địa vị xă
hội đă được Nguyễn Công Trứ ghi trong
bốn câu mở đầu bài hát nói Kẻ Sĩ của
ông:
“Tước
hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt,
Dân hữu tứ
sĩ vi chi tiên,
Có giang sơn th́
sĩ đă có tên
Từ Chu Hán
vốn sĩ này là quư.”
Giới sĩ phu là
giới sát cạnh nhà vua, giúp vua trị nước,
thuộc hàng ngũ lănh đạo quốc gia, là bậc
thầy trong xă hội, đóng vai dẫn đầu, điều
khiển, hướng dẫn dân chúng trong mọi sinh
hoạt bảo vệ và phát triển đất
nước. Nước giàu dân mạnh hay suy nhược
đói nghèo, trách nhiệm ở giới lănh đạo,
ở Kẻ Sĩ, nhà Nho. Lớp trí thức nho sĩ
cũng như cái học cũ của nho gia ngự trị
trong xă hội Việt Nam từ thời Lư Trần cho
đến khi có sự xăm chiếm và đô hộ
của người Pháp hồi cuối thế kỷ XIX
trong Nam và đầu thế kỷ XX ở miền Bắc
và Miền Trung. Riêng trong Nam th́ v́ Nam Kỳ Lục Tỉnh
chỉ mới được thành h́nh trọn vẹn
từ giữa thế kỷ XVIII cho nên sự giáo dục
ở đây chưa được tổ chức rộng
răi, chưa có cội rễ ăn sâu vào ḷng đất
như ở chốn ngàn năm văn vật của
Thăng Long - Hà Nội . Tính ra th́ Nho học chỉ có
được chừng một thế kỷ ngự
trị ở Phương Nam. Măi đến năm 1826
Miền Nam mới có vị Tiến Sĩ đầu tiên
theo lối học xưa là cụ Phan Thanh Giản. Nhưng
nền học vấn cổ truyền của nho gia này
ở Miền Nam chỉ mới có chừng trăm năm
th́ bị sụp đỗ hẵn bởi sự thất
bại, suy vong của triều Nguyễn trước
sức mạnh quân sự và nền văn minh khoa học
kỹ thuật Âu Tây. Khi nền cai trị của chính
quyền đô hộ Pháp được thiết lập
xong th́ cái học nhà nho cũng bị xóa bỏ để
nhường chỗ cho cái học mới hay Tây Học.
Trần Tế Xương hồi đầu thế kỷ
XX đă phải ngậm ngùi chua xót viết:
“Cái học nhà nho đă hỏng
rồi
Mười
người đi học, chín người thôi.
Cô hàng bán sách lim
dim ngủ,
Thầy khóa tư
lương thấp thỏm ngồi.”
Cái học mới này (tân
học) diễn ra ở Miền Nam trước nhất vào
cuối thế kỷ XIX sau khi người Pháp đặt
xong nền đô hộ ở đây. Nền giáo dục
mới này lấy giáo dục Pháp làm khuôn mẫu, dùng
tiếng Pháp làm chuyển ngữ. Trường học
gồm có các trường công do chính phủ xây cất,
đài thọ chi phí và kiểm soát, và một số
trường tư của Thiên Chúa giáo hoặc của
tư nhân. Hệ thống giáo dục mới này
được thiết lập nhằm hai mục tiêu: (1)
mục tiêu thực tiễn là đào tạo một số
người biết tiếng Pháp, chữ Quốc Ngữ,
và có chút kiến thức về văn minh Tây phương
để làm công chức ở ngạch trật thấp phục
vụ cho chính phủ thuộc địa, và (2) mục tiêu
lư tưởng là đồng hóa người bản xứ
biến họ thành những người Pháp về
phương diện văn hóa. Một số nhà trí thức
Pháp tự cho họ cái sứ mạng cao cả là đem
văn minh khoa học Âu Tây phổ biến khắp nơi.
Đó là sứ mạng văn minh hóa (“mission civilisatrice”) tức là đi khai hóa các
nước chậm tiến, kém văn minh, kém mở mang.
Người đầu tiên thực hiện chính sách
đồng hóa văn hóa (cultural assimilation) đó ở
Miền Nam là Thống Đốc Le Myre de Vilers. Ông là
người dân sự đầu tiên được cử
sang làm Thống Đốc Nam Kỳ từ năm 1879
đến 1892. Các ông thống đốc trước ông
đều là những người bên quân đội,
nhất là bên hải quân. Để thực hiện sứ
mạng văn minh hóa dân bản xứ, ông cho mở rất
nhiều trường ở mỗi làng và mỗi tổng
cho cấp sơ và tiểu học. Tuy nhiên v́ thiếu
hụt ngân sách vàkhông đủ giáo chức cho nên nhiều
trường chỉ được mở ra rồi
liền sau đó lại đóng cửa thôi. Sang đầu
thế kỷ XX chế độ giáo dục mới
mới được thiết lập ở Trung Kỳ và
Bắc Kỳ sau một vài sửa đổi theo quyết
định của Toàn Quyền Paul Beau hồi 1906-07. Theo
quyết định này th́ một hội đồng
cải tổ giáo dục được thành lập
để đem chữ Quốc Ngữ, chữ Pháp và
nền tân học vào chương tŕnh học và chế
độ khoa cử mới. Các thầy đồ, thầy
khóa ở xă thôn, các quan giáo huấn, đốc học
ở phủ, huyện, tỉnh, phải dạy thêm chữ
Quốc Ngữ cho học tṛ ngoài việc dạy chữ Hán
như trước. Các kỳ thi Hương, thi Hội, thi
Đ́nh đều có có chút đổi mới từ 1909. Bài
luận chữ Quốc Ngữ
và bài dịch Pháp văn ra Việt văn
được thêm vào các kỳ thi nhưng chỉ là môn
phụ và có tính cách tự nguyện chớ không bắt
buộc. Trong kỳ thi Hội và thi Đ́nh năm 1910 có thêm bài thi cách trí,
địa dư nước nhà, sử Thái Tây, nhân vật
nước nhà và thời sự. Đặc biệt là bài
thi được chấm điểm theo lối mới
của Pháp với thang điểm từ 0 đến 20. Triều
đ́nh tựa trên thang điểm đó mà định làm 6
hạng trúng tuyển: Trạng Nguyên (20 điểm),
Bảng Nhỡn (18-19 điểm), Thám Hoa (16-17 điểm),
đệ nhị giáp Tiến Sĩ (từ 12 đến 15
điểm), Đồng Tiến Sĩ (từ 10
đến 12 điểm), và Phó Bảng (từ 7
đến 9 điểm). Song song với việc thành
lập hội đồng cải cách giáo dục, một
trường sư phạm cũng sẽ được
thiết lập để đào tạo giáo viên tiểu
học người Việt. Ngoài ra, trong mục đích
tuyên truyền, Toàn Quyền Paul Beau cũng cho mở một
trường đại học hồi năm 1907 ở Hà
Nội để thu phục nhân tâm (sau khi chính quyền cho
đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục và bắt giam
một số nhà cách mạng). Nhưng đại học
chỉ được mở ra mà không hoạt động,
phải đến năm 1918, dưới thời Toàn
Quyền Albert Sarraut, trường mới thật sự
mở cửa. Trước đó một năm, năm 1917,
chánh quyền thuộc địa đă cho ban hành một
hệ thống giáo dục mới có qui cũ, thống
nhất trên toàn quốc, về tất cả các
phương diện tổ chức hành chánh, chương
tŕnh học, qui chế giáo chưc, và tổ chức thi
cử. Đến đây cái học cũ trên toàn quốc
hoàn toàn lui vào bóng tối nhường chổ cho giáo dục
mới.
Người sốt
sắng thực hiện mục tiêu văn minh hóa
người Việt Nam là Le Myre de Vilers. Để thực
hiện sứ mạng văn minh hóa người Việt
ông cho mở rất nhiều trường học, từ
trường sơ cấp ở làng đến
trường tiểu học ở quận và tỉnh, và
đặc biệt nhất là một trường trung
học (collège) ở Nam Kỳ. Đây là trường trung
học đầu tiên và vào cuối thế kỷ XIX đây
là trường trung học duy nhất cho cả Miền
Nam. Trường chỉ có hai năm học và mang tên là
Collège de MỹTho. Nhà văn Hồ Biểu Chánh (1885-1958)
đă từng học ở trường này. Sang thế
kỷ XX trường có đủ bốn năm học và
được đổi tên là Collège Le Myre de Vilers, do
một số giáo sư của trường đề
nghị để ghi nhớ ông Thống Đốc dân
sự đầu tiên đă mở ra trường này và
cũng để ghi nhớ công lao của ông đối
với việc phát triển nền giáo dục mới
ở Nam Kỳ. Đến giữa thập niên 1950
trường được phát triển thêm, có các lớp
đệ nhị cấp đủ để trở thành
trường trung học đệ nhị cấp.
Trường được đổi thành Lycée và mang tên
một danh nhân Miền Nam Việt Nam: cụ Đồ
Chiểu. Danh xưng Lycée Nguyễn Đ́nh Chiểu rồi
Trung Học Nguyễn Đ́nh Chiểu ra đời từ
đó và c̣n măi đến bây giờ.
Sau trường Le Myre de
Vilers các trường trung học Petrus Kư, Gia Long, và Collège de
Cần Thơ (tức trường Phan Thanh Giản sau này)
là những trường trung học công lập
được mở ra vào thập niên 1920 cho học sinh
Việt Nam ở Nam Kỳ. Trong bốn trường nói trên
chỉ có trường Petrus Kư duy nhất là lycée, tức là
trường có ban Tú Tài (như trung học đệ
nhị cấp sau này). Các trường kia chỉ có
đến Năm Thứ Tư bậc Cao Đẳng
Tiểu Học, trừ trường Le Myre de Vilers có
được thêm các lớp Seconde và Première từ giữa
thập niên 1940. Tuy chỉ là trường trung học nhưng
vào thời gian này (1920-1945) các trường trung học là
các trường cao cấp nhất trong xă hội Miền
Nam, đóng vai những trường quan trọng nhất
trong lănh vực đào tạo người trí thức tân
học thay thế lớp người theo nho học ngày
trước. Hầu hết những người xem như
hạng trí thức tân học đều có qua ngưỡng
cửa của các trường trung học này. Đây là ḷ
đào tạo những người trí thức mới thay
thế cho lớp sĩ phu cũ trong vai tṛ dạy học
và làm quan. Ở thời trước năm 1945 người
có học được tới bậc trung học là
kể như đă là người trí thức lắm
rồi. Một số ít người học lên cao nữa
th́ có thể liệt vào hàng đại trí thức của
xứ Nam Kỳ Lục Tỉnh. Những người có
học lên cao nữa th́ cũng phải đi qua các
trường trung học nói trên trước khi tiếp
tục việc học ở Hà Nội hay ở Pháp. Giáo viên các lớp sơ cấp chỉ
cần có bằng Sơ Tiểu (Certificat) là đủ
tư cách để dạy ở các trường trong xă.
Ở trong làng có học được đến Certificat
là kể như hạng trí thức tại địa
phương. Có bằng diplôme là đă có thể làm thầy
giáo dạy các lớp Tiểu học của trường
lớn ở quận hay tỉnh, hoặc làm thầy thông,
thầy kư trong cơ quan công quyền hay và các tư sở.
Có Tú Tài là có thể làm giáo sư dạy Trung học
được rồi. Số người có Cử Nhân
trở lên th́ thật quư giá vô cùng, chỉ đếm
được trên đầu ngón tay trong cả Miền
Nam.
Được chọn
lựa vào học các trường này là thành phần ưu
tú của xă hôi Miền Nam. Không mấy người
được đi học ở các trường trung học
này. So với tổng số thanh thiếu niên cùng lứa
tuổi ở Nam Phần Việt Nam có lẽ số
người được đi học ở đây không
hơn một phần trăm? Xuất thân từ các
trường này là những người đă từng
giử địa vị quan trọng trong xă hội, phía bên
này hay phía bên kia trong các thập niên 1940 - 1970. [Phần
lớn những người giữ chức vụ then
chốt trong chánh phủ từ trung ương đến
địa phương thời Đệ Nhất và Đệ
Nhị Cộng Ḥa đều xuất thân từ trong
những trường trung học nói trên. Cứ hỏi
một số tướng lănh, kỹ sư, giáo sư, bác
sĩ, chính trị gia th́ thấy ngay họ phần đông
đều xuất thân từ những trường trung
học này. Xin đơn cử một ít thí dụ. Cựu
Chủ Tịch Quốc Hội và sau đó Thủ
Tướng Chính Phủ, ông Nguyễn Bá Cẩn, xuất
thân từ trường Phan Thanh Giản Cần Thơ. Giáo
sư Nguyễn Văn Trường, hai lần làm Tổng
Trưởng Bộ Giáo Dục, đă có học ở Phan
Thanh Giản và Nguyễn Đ́nh Chiểu trước khi
sang Pháp. Tiến sĩ Trần Hữu Thế, cựu Tổng
Trưởng Giáo Dục thời Đệ Nhất Cộng
Ḥa đă xuất thân từ Collège Le Myre de Vilers và Petrus Kư.
Rất nhiều tổng trưởng, bộ trưởng,
thứ trưởng, tổng giám đốc, giám
đốc, chánh sự vụ, chủ sự pḥng, ở
trung ương, đến tỉnh trưởng, phó
tỉnh trưởng, quận trưởng, phó quận
trưởng, các trưởng ty, ở địa
phương, đều đă xuất thân từ các
trường trung học này. Tướng Lâm Quan Thi từng
học Phan Thanh Giản và Petrus Kư. Phần đông các
thẩm phán trong Tối Cao Pháp Viện Nhiệm Kỳ II,
Đệ Nhị Cộng Ḥa, đều đă có học
ở trường Petrus Kư (đó là các ông trần Văn
Linh, Trần Minh Tiết, Mai Văn An, Trần Khương
Trinh, Nguyễn Văn Biện, Trần Văn Thuận và
Nguyễn An Thông)].
Giáo dục, hiểu theo
nghĩa xă hội, là cách thức xă hội hóa (socializing) con
người. Giáo dục có nhiệm vụ dạy cho con người
biết cách sống trong xă hội, biết nền văn
hóa mà con người được sinh ra trong đó
để sống cho thích hợp. Cách ăn uống, lễ
phép, cách đối xử, các nghề nghiệp sinh
sống, phong tục tập quán, v v ... tất cả
đều có trong xă hội đương thời và
nhiệm vụ của giáo dục (từ giáo dục trong
gia đ́nh đến giáo dục ngoài xă hội) là tập
luyện cho con người thích nghi vào trong xăhội văn
hóa đó. Tuy nhiên trong ba bậc học (tiểu học,
trung học, và đại học) ở học
đường, mỗi bậc có cách xă hội hóa khác nhau.
Ở tiểu học giáo dục nhằm xă hội hóa con
người ở mức độ cơ bản, nghĩa
là người ta chỉ dạy những cái cần
thiết căn bản của xă hội. Ở bậc trung
học sự xă hội hóa nhắm vào việc thích nghi con
người vào t́nh trạng văn hóa mà người ta
muốn có. Thường khi người ta (các nhà làm chính
trị, những nhà lănh đạo) muốn có xă hội
thế nào th́ người ta nhắm vào lớp người
vào trung học để đào luyện họ trỡ thành
những công dân kiểu mẫu cho xă hội người ta
muốn có. Những người này sẽ được
xă hội hóa để bảo tồn những ǵ đă có.
Ở bậc đại học sự xă hội hóa bớt
đi rất nhiều tính cách uốn nắn mà
thường có tính cách khơi động nhiều hơn.
Người lên đại học phải mở rộng
sự hiểu biết của ḿnh để đón nhận
những mới lạ để có thể hướng xă
hội đến những sửa đổi, tiến
triển, hiện đại nhiều hơn là bảo
tồn những ǵ đă có sẵn từ trước. Các
trường trung học của chúng ta cũng đóng vai
tṛ xă hội hóa học sinh giống như bao nhiêu
trường trung học khác trên thế giới. Việc xă
hội hóa ở đây là thích nghi con người vào trong xă
hội Miền Nam nước Việt vào giữa thế
kỷ XX.
Vào cuối thế kỷ
XIX Nam Kỳ có khoảng một triệu rưởi dân
số, nhưng chỉ có khoảng 5 ngàn học sinh cho
tất cả từ sơ cấp đến tiểu học.
Tỷ lệ người đi học tuy thấp so
với sĩ số mà ta có sau này dưới thời
Đệ Nhị Cộng Ḥa, nhưng so với thời
đại các nhà Nho th́ đây là con số khá lớn. Số
đông này là số được hấp thụ giáo
dục mới. Họ sẽ là lớp người dùng
chữ Quốc Ngữ thay chữ Nôm và chữ Hán, họ
cũng là những người biết chút ít tiếng Pháp
và một số kiến thức khoa học phổ thông có
thể xem như là giới trí thức tân học ở thời
kỳ chuyển tiếp này. Đó là t́nh trạng giáo
dục ở Miền Nam. Và đến năm 1917 chính
quyền thuộc địa mới có một hệ
thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền
Nam, Trung, Bắc. Hệ thống giáo dục mới này -
gọi là Giáo Dục thời Pháp thuộc - gồm có ba
bậc: Tiểu học, Trung học, và Đại học.
Bậc Tiểu học được chia làm hai cấp: (1)
cấp Sơ học gồm các lớp Đồng Ấu
(Cours Enfantin) hay lớp Năm hoặc lớp Chót, lớp
Dự Bị (Cours Preparatoire) hay lớp Tư, và lớp
Sơ Đẳng (Cours Elementaire) hay lớp Ba, (2) cấp
Tiểu học gồm có lớp Nh́ Một Năm (Cours Moyen
Première Année), lớp Nh́ Hai Năm (Cours Moyen Deusième Année) và
Lớp Nhất (Cours Supérieur). Mỗi làng có một
trường sơ cấp. Ở tổng lớn hay ở
quận (đông dân) có thể có trường tiểu
học nếu có đông học sinh. Tại mỗi tỉnh
lỵ có một trường tiểu học lớn (có
nhiều lớp cho mỗi cấp lớp), như
trường Nam Tiểu học Mỹ Tho chẳng hạn
có được 5 lớp Nhất, 1 lớp Tiếp Liên
(Cours des Certifiés) hồi thập niên 1940. Học xong lớp
Ba, tức là hết Sơ cấp, học sinh phải thi
tuyển vào lớp Nh́ Một Năm để học
tiếp bậc Tiểu học, và khi xong lớp Nhất
(hết bậc Tiểu học) học sinh lại phải
thi lấy bằng Sơ Tiểu tiếng Pháp viết
tắt là bằng CEPCI (tức là Certificat d'Études Primaire
Complémentaire Indochinoise). Đậu xong bằng này học sinh
mới được dự kỳ thi tuyển vào năm
Thứ Nhất trường Trung học.
Bậc Trung học cũng
chia làm hai cấp. Cấp thứ nhất gọi là Cao
Đẳng Tiểu Học (Enseignement Primaire Superieur,
cũng như trung học đệ nhất cấp sau này)
gồm có bốn lớp: Năm Thứ Nhất (Première
Année), Năm Thứ Nh́ (Deuxième Année), Năm Thứ Ba
(Troisième Année) và Năm Thứ Tư (Quatrième Année). Học
xong Năm Thứ Tư học sinh thi lấy bằng Thành
Chung hay DEPSI (Diplôme d'Études Primaire Superieur Indochinois). Những
ai muốn thi lấy bằng cắp Pháp th́ có thể thi
bằng Brevet Premier Cycle hay Brevet Elementaire. Cấp thứ hai
là ban Tú Tài gồm các lớp Second (như Đệ Tam hay
lớp 10 sau này), Première (như Đệ Nhị hay lớp
11) và lớp Terminale (như Đệ Nhất hay lớp
12). Xong lớp Première (Đệ Nhị hay lớp 11)
học sinh phải thi Tú Tài I (Baccalauréat Première Partie),
đậu được Tú Tài I mới được vào
học lớp Đệ Nhất hay lớp 12. Học
hết lớp 12 học sinh phải thi lấy bằng Tú
Tài II (Baccalauréat Deuxième Partie). Khi lên lớp Terminale (lớp
12) học sinh phải chọn một trong ba ban chính sau
đây: (1) ban Triết (Philosophie), (2) ban Khoa Học Thực
Nghiệm (Sciences Expérimentales), và (3) ban Toán (Mathématiques
Élémentaires)... Học hết lớp 12 học sinh phải thi
lấy bằng Tú Tài II (Baccalauréat Deuxième Partie) về
một trong các ban nói trên. Bằng Tú Tài II thường
được gọi tắt là Bac. Philo. (Tú Tài II ban
Triết), Bac. Math. (Tú Tài II ban Toán) v v ... Xong Tú Tài học
sinh mới được vào Đại học, và
dưới thời Pháp thuộc chỉ có một
đại học duy nhất ở Hà Nội cho toàn cơi
Đông Dương. Một số không nhỏ học sinh
Việt Nam, nhất là ở Miền Nam, sau khi xong Tú Tài
thường qua Pháp học tiếp bậc đại
học thay v́ ra Hà Nội học.
Chương tŕnh học
trên đây chịu ảnh hưởng nặng nề
của chương tŕnh Pháp, dùng tiếng Pháp làm chuyển
ngữ. Tiếng Việt chỉ được xem như
một sinh ngữ phụ. Đúng ra đây chỉ là
chương tŕnh Pháp thật sự nhưng có chút sửa
đổi nhỏ áp dụng cho các trường Việt
Nam. Chương tŕnh này kéo dài đến hết Thế
Giới Đại Chiến Thứ Hai trên toàn cỏi
Việt Nam. Sau năm 1945, sau khi Việt Nam tuyên bố
độc lập, chương tŕnh Việt
được ban hành. Chương tŕnh này - chương
tŕnh Hoàng Xuân Hản - được đem ra áp dụng
trước ở Bắc Việt và Trung Việt, nhưng
riêng ở Miền Nam th́ v́ có sự trở lại của
người Pháp nên chương tŕnh Pháp vẫn c̣n tiếp
tục. Dưới thời Pháp đô hộ giáo dục phát
triển rất chậm chạp. Quyền quyết
định về giáo dục cũng như chính sách giáo
dục hoàn toàn nằm trong tay người Pháp. Phải
đến giữa thập niên 1950, dưới thời
Đệ Nhất Cộng Ḥa, chương tŕnh Việt
mới bắt đầu được áp dụng ở
trong Nam để thay thế chương tŕnh Pháp. Cũng từ
khoảng thời gian đó, thời Đệ Nhất
Cộng Ḥa, các nhà lănh đạo giáo dục Việt Nam
mới có cơ hội đóng vai tṛ lănh đạo quan
trọng của họ. Những đóng góp của họ
thật lớn lao đưa đến sự bành
trướng và phát triển vô cùng mạnh mẽ của
nền giáo dục quốc gia dưới thời
Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Ḥa.